Châu Âu và những miền đất khác

Lượt đọc: 64 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
SWISS GLIMPSES (NHỮNG THOÁNG NHÌN VỀ THỤY SĨ)

❊ ❊ ❊

I

Nếu Ngài chịu trả trước cước phí gửi thư thì thật là một thay đổi dễ chịu biết bao. Tôi không có ý nặng lời, chỉ là cảm thấy phiền muộn mà nói vậy thôi. Lời này của tôi nhắm vào tất cả những người tôi quen biết ở nước ngoài, và cả với tất cả mọi người nữa. Chẳng ai chịu dán đủ tem cả, mà không dán đủ thì cũng chả khác gì không dán: các chính phủ nước ngoài họ làm lơ những bức thư dán thiếu cước, thế nên những kẻ ở xứ người như chúng tôi lại phải è cổ ra trả đủ cước cho mấy lá thư đó. Còn chuyện viết trên giấy mỏng à, chẳng có người bạn nào của tôi chịu nghĩ đến cả; họ toàn dùng giấy bìa cứng, hoặc da thuộc, hoặc mấy thứ đại loại thế. Nhưng thôi, nói đến chuyện này đau lòng quá.

Tôi tin rằng Ngài đã giao cho tôi một nhiệm vụ khó nhằn; vì nếu quả thật Ngài đã không xuất hiện trên đời suốt ba trăm năm nay, và cũng chẳng thu nạp lấy một người có học nào vào dinh thự của mình trong ngần ấy thời gian, thì tôi buộc phải nói chuyện với Ngài như thể Ngài mới chào đời và chẳng biết mô tê gì về những thứ tôi sắp nói. Dù vậy, tôi sẽ cố hết sức, và tận tâm cố gắng đưa vào tất cả các chi tiết, dù là chuyện vụn vặt hay những thứ khác. Nếu bản báo cáo này có thể thuyết phục Ngài bước ra khỏi chốn ẩn dật bấy lâu nay và đích thân làm một chuyến du ngoạn thế giới cho vui, thay vì phải làm qua trung gian là tôi, thì tôi sẽ thấy rằng mình đã lao động không uổng phí. Ngài có rất nhiều bạn bè trên thế giới; nhiều hơn Ngài tưởng đấy. Ngài sẽ nhận được sự chào đón nồng nhiệt tại Paris, London, New York, Chicago, Washington và các thủ đô khác trên thế giới; nếu Ngài chịu lên diễn thuyết thì Ngài muốn lấy bao nhiêu tiền vé cũng được. Ngài sẽ là sức hút đáng gờm nhất hành tinh này. Sự tò mò muốn được nhìn thấy Ngài sẽ lớn đến mức chẳng nơi giải trí nào chứa nổi đám đông đổ xô đến đâu. Tại London, nhiều người sùng bái chỉ mới được nhìn thấy Thân vương xứ Wales chừng một ngàn rưỡi hay hai ngàn lần, họ hẳn sẽ sẵn lòng bỏ một cơ hội được nhìn thấy ông ta để đổi lấy việc được chiêm ngưỡng Ngài. Tại Paris, dù có cả Sa hoàng xuất hiện, Ngài vẫn có thể kinh doanh khá khẩm đấy; còn ở Chicago—Ồ, mà Ngài nên đến Chicago mới phải. Nhưng chuyện đó để sau đi. Bây giờ tôi sẽ quay lại với báo cáo của mình, để kể cho Ngài nghe về Lucerne, và cách tôi đã hành trình đến đây; vì chắc chắn là khi đến, Ngài cũng sẽ đi theo lộ trình đó thôi.

Tôi đã ở trọ vài tháng tại London cùng gia đình trong lúc lo liệu những công việc mà Ngài đã tử tế tin tưởng giao phó. Chẳng có chuyến phiêu lưu nào cả, ngoại trừ việc chúng tôi được xem lễ Jubilee. Sau đó tôi được mời đến một trong những sự kiện của Nữ hoàng, đó là một bữa tiệc vườn hoàng gia. Khu vườn là một dải đất thôn dã xanh tươi nở hoa mà—Nhưng Ngài còn nhớ Vườn Địa Đàng chứ; chà, nó đại loại như thế đó. Thiệp mời quy định trang phục phải mặc: "Âu phục buổi sáng kèm quần dài." Tôi đã định mặc chiếc quần của mình, vì tôi luôn mặc gì đó khi đến các bữa tiệc vườn có các quý bà hiện diện; nhưng tôi thấy bị xúc phạm bởi cái kiểu ép buộc độc đoán này, nên tôi đã không đi. Mọi triều đình châu Âu đều kỹ tính về trang phục, và trong bất kỳ trường hợp nào, Ngài cũng không được phép tự chọn đồ cho mình; lúc nào họ cũng chỉ tận tay Ngài phải mặc cái gì; và dù bộ đồ đó có hợp hay không, Ngài cũng không được phép chỉnh sửa gì cả. Vậy mà thị hiếu của triều đình lại thường tệ hại, đôi khi còn thiếu tế nhị nữa. Có lần tôi được mời ăn tối với một vị hoàng đế khi còn đang sống ở Đức, và tấm thiệp mời ghi rõ bộ đồ tôi phải mặc: "Áo đuôi tôm và cà vạt đen." Để nói cho dễ hiểu, thì nó là áo đuôi tôm và cà vạt đen đấy. Thời tiết lúc đó lại lạnh, giữa mùa đông nữa chứ; đã thế, các quý bà cũng có mặt. Chuyện đó là năm năm trước rồi. Giờ này thì chiếc áo đó chắc đã lỗi mốt rồi, và nếu Ngài vẫn còn nhớ phong cách thời Địa Đàng cũ kỹ thì chắc Ngài sẽ thấy thân thuộc ở đó lắm.

Ngay khi lễ Jubilee vừa kết thúc, chúng tôi dọn nhà và đến tá túc vài ngày tại cái nơi ở Anh gọi là "khách sạn". Nếu đủ tiền thuê một con ngựa và một chiếc xe thuê thì chúng tôi đã có một khoảng thời gian tuyệt vời khi chạy đôn chạy đáo lo liệu các việc cần làm, và có thể xong việc vèo cái là xong; nhưng xe buýt ở đây thì chậm chạp, chúng ngốn của chúng tôi biết bao giờ quý báu. Xe buýt là một cái lồng lớn trên bốn bánh xe, sức bền gấp sáu lần và nặng gấp mười một lần so với yêu cầu phục vụ của nó—nhưng đấy mới là kiểu của người Anh. Chiếc xe buýt là biểu tượng hoàn hảo cho tính cách dân tộc. Người Anh đòi hỏi mọi thứ xung quanh mình phải ổn định, vững chãi và lâu bền, ngoại trừ ngôi nhà họ xây để cho thuê. Ngôi nhà riêng của họ thì vững như pháo đài. Cái thanh treo rèm ren có thể đỡ nổi cả một con hà mã. Cái cột cờ cao ba bộ trên xe buýt, vốn chỉ treo một lá cờ Union Jack to bằng cái khăn tay, nếu dùng để treo một trong những cánh cổng thành Gaza thì vẫn chịu được như thường. Mọi thứ họ xây dựng đều nặng hơn và chắc hơn mức cần thiết nhiều. Họ xây mười dặm khán đài bậc thang để xem lễ diễu hành Jubilee, và dùng đủ gỗ để biến chúng thành một đóng góp lâu bền cho sự vững chãi của thế giới—vậy mà chúng chỉ được dự định sử dụng trong hai ngày.

Khi đám khán đài đó đang được dỡ bỏ, một người Mỹ đã nói: "Đừng dỡ—giữ lại cho ngày Phục Sinh ấy." Nếu có thứ gì cản đường xe buýt của người Anh, nó phải tránh ra hoặc bị cán bẹp—và đó mới là kiểu Anh. Chính cái tinh thần tự phụ thanh thản ấy đã đưa lá cờ của họ đi xa đến thế. Đáng lẽ họ nên đưa chiếc xe buýt hung hăng của mình vào quốc huy, và bỏ con kỳ lân hiền lành ra mới phải.

Chúng tôi chuẩn bị cho chuyến đi Thụy Sĩ nhanh nhất có thể; rồi đi mua vé. Dĩ nhiên là mua của hãng Thomas Cook & Sons—ngày nay gọi tắt là "Cook's" cho đỡ tốn thời gian và lời nói. Mọi thứ đã thay đổi trong ba mươi năm qua rồi. Tôi còn nhớ cái thời mà trở thành một "khách du lịch của Cook" là một điều đáng xấu hổ, và ai cũng thấy mình có đặc quyền chế giễu mấy đám "khách du lịch được dẫn dắt" gồm toàn mấy gã nhà quê tiết kiệm của Cook. Nhưng chuyện đó đã qua rồi. Ngày nay, đủ mọi hạng người đều tìm đến Cook. Thời xưa, đi du lịch ở châu Âu là một nỗi ghét bỏ và nhục nhã vì vô vàn khó khăn, cản trở, phiền toái và bực dọc do mấy gã quan chức giao thông ngu ngốc, đần độn và khó chiều gây ra, và người ta buộc phải đi với một hướng dẫn viên nếu không muốn phát điên. Ngày hôm trước, Ngài không thể mua vé tàu cho ngày hôm sau được—họ không cho phép. Ngài không thể mua vé cho bất kỳ chuyến tàu nào cho đến mười lăm phút trước giờ tàu chạy. Cho dù Ngài có hai mươi cái rương, Ngài cũng phải tìm cách làm sao để cân chúng và trả phí quá cước trong vòng mười lăm phút đó; nếu không đủ thời gian, Ngài sẽ phải bỏ lại những cái rương không kịp qua bàn cân. Nếu Ngài lỡ tàu, vé của Ngài coi như vô giá trị. Theo quy luật, Ngài chẳng thể hiểu đầu cua tai nheo gì ở mấy cuốn hướng dẫn đường sắt, và nếu chuyến đi của Ngài là một hành trình dài thì Ngài sẽ thấy mấy ông quan chức chẳng chỉ cho Ngài được tí gì về đường đi nước bước cả; kết quả là Ngài thường mua nhầm vé và bị lạc. Nhưng Cook đã khắc phục hết những điều đó và làm cho việc đi lại trở nên đơn giản, dễ dàng và dễ chịu. Ông ta sẽ bán cho Ngài chiếc vé đến bất kỳ nơi nào trên địa cầu, hay tất cả các nơi, và cho Ngài bao nhiêu thời gian Ngài cần, thậm chí hơn thế nữa; và vé đó có giá trị cho mọi chuyến tàu cùng hạng, hành lý thì cân lúc nào cũng được. Ông ta lo khách sạn cho Ngài ở khắp nơi nếu Ngài muốn; và Ngài không thể bị tính hớ, vì phiếu giảm giá ghi rõ Ngài phải trả bao nhiêu. Nhân viên của Cook tại các nhà ga lớn sẽ lo hành lý cho Ngài, bắt xe cho Ngài, bảo cho Ngài biết phải trả bao nhiêu tiền cho phu xe và khuân vác, kiếm hướng dẫn viên cho Ngài, hoặc ngựa, lừa, lạc đà, xe đạp, hay bất cứ thứ gì khác Ngài muốn, và biến cuộc đời Ngài thành một sự thoải mái và mãn nguyện. Và nếu Ngài chán đi du lịch và muốn dừng lại, Cook sẽ nhận lại phần vé còn dư, trừ đi 10 phần trăm. Cook là chủ ngân hàng của Ngài ở khắp mọi nơi, và văn phòng của ông ta là nơi trú ẩn khi Ngài gặp mưa gió ngoài đường. Các nhân viên của ông ta sẽ trả lời mọi câu hỏi Ngài đặt ra, và làm điều đó một cách lịch thiệp. Tôi khuyên Ngài nên đi bằng vé của Cook khi đến đây; và tôi nói điều này mà không chút ngượng ngùng, vì tôi chẳng nhận được hoa hồng nào cả. Tôi không quen Cook. (Nhưng nếu Ngài thích đi với hướng dẫn viên hơn, hãy để tôi giới thiệu Joseph Very. Tôi đã thuê ông ta hai mươi năm trước, và từng viết về ông ta rất cao trong một cuốn sách, vì ông ta là một hướng dẫn viên xuất sắc—vào thời đó. Tôi lại thuê ông ta lần nữa, sáu hay bảy năm trước—trong một thời gian. Hãy thử ông ta xem. Và khi Ngài về nhà, hãy đưa ông ta theo cùng).

Cái khách sạn London đó thật là thất vọng. Nó nằm trong một con hẻm, và chúng tôi tưởng là nó sẽ rẻ. Nhưng không, nó được xây dựng cho hạng người lắm tiền. Toàn là sự đắt đỏ và khoe mẽ. Nó có hẳn một dàn nhạc đồng cho bữa tối—và chẳng có gì nhiều hơn thế—nó thậm chí còn có cả điện thoại và thang máy. Điện thoại là một sợi dây được kéo trên các cột điện hoặc dưới lòng đất, và có một cái vật ở mỗi đầu dây. Những cái vật này dùng để nói vào và nghe lại. Sợi dây truyền lời nói; nó có thể truyền đi xa hàng trăm dặm. Đó là một phát minh hữu ích, tiết kiệm thời gian, nhưng cũng là thứ gây ra lắm chuyện chửi thề, và ở Mỹ thì nhà nào cũng có, trừ nhà cha xứ. Nó đắt ở Mỹ, nhưng lại rẻ ở Anh; vậy mà ở Anh, điện thoại hiếm như tảng băng trôi ở chỗ Ngài vậy. Tôi không biết cách nào để giải thích điều này; tôi chỉ biết nó thật phi thường. Người Anh thích các tiện nghi hiện đại khác, nhưng vì lý do khó hiểu nào đó, họ nhất định không chịu dùng điện thoại. Có 44 triệu người ở đó mà chưa từng thấy cái điện thoại bao giờ.

Thang máy là một loại thang nâng. Cũng như điện thoại, nó là một phát minh của người Mỹ. Chức năng của nó là kéo người ta lên các tầng trên và giúp họ đỡ mệt nhọc, đỡ mất thời gian leo cầu thang. Cái khách sạn London đó có thể chứa vài trăm người, vậy mà nó chỉ có đúng một cái thang máy—một cái thang máy chỉ chứa được bốn người. Ở Mỹ, một khách sạn như vậy sẽ có từ hai đến sáu cái thang máy. Lần cuối tôi ở Paris, ba năm trước, họ dùng thứ mà họ tưởng là thang máy ở đó. Nó chứa được hai người, và di chuyển với cái tốc độ chậm chạp đến mức người đứng xem chẳng thể biết nó đang đi theo hướng nào. Nếu hành khách định lên tầng sáu, họ phải mang theo thứ gì đó để ăn; và nếu vào ban đêm thì mang theo cả chăn màn. Người già không dùng nó; trừ những người đang trên đường đến nơi an nghỉ cuối cùng rồi thì không nói. Thường thì những người bị lạc mất vài ngày được tìm thấy trong mấy cái thang máy đó, cứ lừ đừ, lừ đừ, mà thường là vẫn còn sống. Người Pháp rất tự hào về cái thang máy có vẻ như là của họ, và gọi nó bằng một cái tên kêu như chuông—ascenseur. Một khách sạn nào có thang máy thì không giữ làm bí mật, mà quảng cáo bằng chữ cái khổng lồ, "Il y a une ascenseur," kèm theo ba dấu chấm than đằng sau.

Tại cái khách sạn London đó—Nhưng thôi, đừng bận tâm đến cái khách sạn đó nữa; nó là một nơi cực kỳ đắt đỏ, lòe loẹt và tồi tàn, và tôi ước mình có thể làm cho nó một vố. Lúc nào đó tôi sẽ nghĩ ra cách. Chúng tôi đi đến Queenboro bằng đường sắt. Đường sắt là một—chà, đường sắt là đường sắt thôi. Tôi sẽ mô tả kỹ hơn vào lúc khác.

Sau đó chúng tôi đi tàu thủy đến Flushing—mất tám tiếng. Nếu Ngài cứ ngồi nhà thì Ngài có thể thực hiện chuyến đi trong thời gian ngắn hơn, vì khi đó Ngài có thể đi bằng quảng cáo của công ty tàu thủy, và cái đó sẽ đưa Ngài qua eo biển nhanh hơn năm tiếng so với tàu của họ làm được. Hầu như ở khắp mọi nơi tại châu Âu, các quảng cáo có thể đưa ra những thông tin nhanh hơn thực tế vài tiếng trong một ngày và luôn đến đích trước.

II

Chúng tôi ở lại qua đêm tại một khách sạn mùa hè trên bờ biển gần Flushing—Grand Hôtel des Bains. Từ "Grand" (Lớn/Hoành tráng) chẳng có nghĩa lý gì trong trường hợp này; nó không có giá trị mô tả nào cả. Trên Lục địa, tất cả các khách sạn, nhà trọ, quán rượu, quán cơm bình dân và mấy cái máng lợn đều dùng từ này. Thật là mệt mỏi. Cái này cũng là một khách sạn đủ tốt và thoải mái, nhưng chẳng có gì hoành tráng ngoài cái hóa đơn, và ngay cả cái đó cũng không đủ đắt đỏ để danh hiệu này hoàn toàn chính đáng. Ngoại trừ một mục—rượu whisky Scotch. Tôi gọi một ngụm, vì tôi luôn uống nó vào ban đêm để phòng bệnh đau răng. Tôi chưa bao giờ bị đau răng; và hơn nữa, tôi cũng chẳng định bị đau răng bao giờ. Họ tính tôi một đô la rưỡi cho nó. Một đô la rưỡi cho nửa panh; một đô la rưỡi cho cái chút xíu tẹo teo đó—thực sự chẳng đủ để làm vỡ cả một lời thề. Nếu Ngài tỏ ra quan tâm đặc biệt đến ông chủ khách sạn khi ông ta đến nơi thì đó là một ân huệ cho tôi đấy. Không chỉ vì vụ trấn lột đó đâu, mà vì ông ta đã đưa chúng tôi trở lại thị trấn và nhà ga vào ngày hôm sau, sớm hơn cả tiếng đồng hồ so với giờ tàu chạy.

Ở đó không có sách hay báo chí nào để bán, và chẳng có gì để nhìn ngoài một tấm bản đồ. May thay đó là một tấm bản đồ thú vị. Nó là bản đồ đường sắt của các nước vùng Thấp, và là loại mới đối với tôi, vì nó được làm bằng gạch men—nền trắng, đường kẻ đen. Nó có thể được rửa nếu bị bẩn, và nếu không có tai nạn nào xảy ra với nó thì nó sẽ tồn tại mười ngàn năm và vẫn sẽ sáng, đẹp, mới tinh như ngày hôm nay. Nó chiếm một mảng tường lớn, và người ta có thể nghiên cứu nó một cách thoải mái từ nửa bên kia căn phòng. Sẽ thật là một điều giá trị nếu các công ty đường sắt của chúng ta chịu trang trí phòng chờ bằng những tấm bản đồ như thế.

Chúng tôi rời đi lúc năm giờ chiều. Đường sắt của người Hà Lan xóc nảy đến đáng kinh ngạc; chúng tôi cứ xóc, nảy, lắc lư và loạng choạng theo một cách đầy thù hằn và hỗn loạn nhất; rồi băng qua biên giới vào Đức, và ngay lập tức mọi thứ êm đềm trở lại, lướt đi mượt mà qua cảnh quan như thể chúng tôi đang đi trên ván trượt vậy. Chúng tôi đến Cologne sau nửa đêm.

Nhưng bức thư này đã quá dài rồi. Tôi sẽ kết thúc bằng cách nói rằng tôi rất mê nước Anh và tiếc nuối khi phải rời xa nó. Kinh doanh ở đó thật dễ dàng. Tôi đã thực hiện mọi chỉ thị của Ngài, và làm xong mà không gặp chút khó khăn nào. Tôi nghi ngờ không biết có cần phải "bôi trơn" thêm cho ông Cecil Rhodes nữa hay không, vì tôi nghĩ ông ta sẽ phục vụ Ngài chỉ vì tình yêu dành cho Ngài thôi; dù vậy, tôi vẫn tuân lệnh Ngài trong vấn đề này. Tôi đã làm cho ông ta trở thành Tổng Đại lý Thường trực tại Nam Phi, giúp ông ta và Công ty Nam Phi của ông ta được Ủy ban Điều tra "tẩy trắng", và hứa cho ông ta một tước công tước. Tôi cũng tiếp tục duy trì Công ước châu Âu tại vị, mà không thay đổi bất kỳ nhân sự nào. Theo ý kiến của tôi, đây là chất liệu tốt nhất cho mục đích này tồn tại bên ngoài Nội các cá nhân của Ngài. Nó nuông chiều Sultan, nó đã làm ô uế và hạ nhục Hy Lạp, nó đã tàn sát một trăm ngàn tín đồ Thiên Chúa giáo ở Armenia và một đám đông lộng lẫy những người như vậy ở Thổ Nhĩ Kỳ, và đã bao phủ nền văn minh và cái tên Thiên Chúa giáo bằng nỗi nhục nhã không thể xóa nhòa. Nếu Ngài chỉ thị cho tôi thêm cái Công ước này vào danh sách những đầy tớ được công khai thừa nhận của Ngài, tôi nghĩ nó sẽ có tác dụng tốt đấy. Các Bộ Ngoại giao của toàn thế giới châu Âu hiện nay đều nằm dưới chủ quyền của Ngài, và những sự quan tâm nhỏ nhặt như thế này sẽ giữ cho họ tiếp tục như vậy.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.