Nửa tháng qua, anh Cần tôi bắt đầu nhúc nhắc đi lại rồi ra khỏi nhà. Rồi bắt đầu từ ngày một đầu tháng đó, anh dậy sớm, ăn sáng xong đội mũ đi tới tận tối mịt với trở về. Liên tục năm sáu ngày liền như thế, mẹ tôi liền bảo tôi đi theo rình. Tôi về, nói lại, mẹ tôi mừng đến thẫn thờ. Anh tôi làm thợ mộc ở một hợp tác xã đóng đồ gỗ! Tỉnh lỵ đang mở rộng. Nhà cửa mọc lên san sát. Các đồ gia dụng như sập gụ, tủ chè, tủ ly, xa lông bằng gỗ quý đang trở thành mặt hàng phổ biến. Nghề mộc trở thành có giá. Nghề mộc, đó là cái kỷ niệm có ý nghĩa nhất trong quãng đời tù đày của anh, anh học được cái nghề cầm cưa cầm đục này từ trong nhà tù.
Ông Anhxtanh con trở thành ông phó mộc!
Nhà khoa học tập sự mải miết trên bàn học giờ đây trẩn văn cời, quần xắn tới bẹn, suốt ngày cặm cụi với đường bào, lỗ đục.
Thôi, thế là cũng có thể thở phào!
Con người ta hoá ra cũng dễ tính thôi. Hoàn cảnh quy định ước vọng. Hoàn cảnh tạo nên một sức ép rất dễ chịu, dễ chấp nhận. Nếu không vậy thì hẳn số người tự tử vì không thoả nguyện phải nhiều lắm lắm. Biết đủ là đủ. Hoạ lớn nhất là do chỗ không biết tiết chế ham muốn của mình. Thế đó.
Mẹ tôi rưng rưng lệ sung sướng. Chiều chiều ngồi trong buồng, thỉnh thoảng mẹ tôi lại đưa mắt nhìn trộm anh tôi đi làm về, ngồi gò lưng tặp ngụm rượu trắng, xắn miếng đậu phụ, chấm bát mắm, đút tỏm vào mồm, rung rung đùi. Nghề nào cũng có chân dung của nó. Ông phó mộc thực thụ hình thành từ dáng điệu đi, tư thế ngồi và sự thích khẩu riêng biệt, chẳng giống ai.
Mẹ tôi mừng lắm, càng mừng vì ông phó mộc xem ra đã bắt đầu chí thú làm ăn. Chăm chỉ đi làm, ông lại bắt đầu trò chuyện với tôi. Còn đêm ngủ, ông ngáy pho pho thật vô tư, nhẹ nhõm. Chắc chắn đã có lúc mẹ tôi nghĩ tới việc cưới cho ông một cô vợ hiền; gia đình, đó là cái tổ hợp xinh xắn và vững bền, là cái phao cứu sinh cho một kẻ bơ vơ như ông. ấy thế mà đùng cái, trở dậy hôm ấy, tôi và mẹ tôi thấy ông cứ nằm lì. Gọi thì ậm ờ. Hỏi có ốm không thì bảo: Kệ tôi! Hôm ấy, ông phó mộc không đi làm. Rồi hôm sau nữa, hôm sau nữa, ông phó mộc cũng ở nhà. Mò đến nơi ông làm, hỏi dò thì ôi thôi còn đâu công việc nữa để ông đặt vào đấy cả cái cuộc đời chênh vênh đang cần bến đậu của ông. Tên chủ cơ sở này đã cuỗm gọn số tiền bạc tỉ của khách đặt hàng và cao chạy xa bay, sang tận Hồng Kông hay rúc vào một xó xỉnh nào đó ở Đài Loan rồi, có giời mà tìm nổi rồi, trời ơi!
Thế là cuộc sống lại lui về điểm xuất phát! Nhưng lần này có phần tệ hại hơn, dẫu sao thì lần trước con người còn có chút kỳ vọng vào sự thử nghiệm của mình!
Bây giờ, ngược hẳn với những ngày mới ở tù về, anh lại rất hay nói. Rượu vào là lời ra. Mà rượu không vào, lời cũng ra. Nói gì mà nói lắm thế. Thấy người là thấy lời. Mở mắt là mở miệng. Dường như suốt bốn năm ở tù là bị khâu miệng, bị bịt mồm. Đa ngôn là đa quá. Thôi thì còn thiếu gì các lời lẽ thuộc đủ các kênh thông tin tạp nham ngoài đời. Danh ngôn, định luật khoa học, triết học nhân sinh, nguyên lý, thẩm mỹ chẳng thấy nhắc nhở. Rặt chỉ những là nghịch lý, nghịch đề, những ngông ngược được coi là chân lý mới mẻ, hiện đại.
Anh lại còn gây sự với con Bi!
Biết anh là người nhà, Bi không sủa anh nữa. Nhưng đôi bên vẫn chẳng thân thiện gì với nhau. Anh bảo anh tuổi tuất, chó kỵ chó. Anh bảo tôi:
Tao ghê tởm loài chó nói riêng và tính chất chó má của cuộc đời nói chung. Tao phát ớn cả đức tính trung thành mù quáng của nó. Mày cứ xem con mèo Mí, nó có nịnh nọt xun xoe mày đâu. Mèo là một tư cách lớn. Chó là tôi đòi. Cuộc đời mà còn được bọn chó má tôn sùng là vứt! Không có lãnh chúa, đầu lĩnh, thủ trưởng gì ráo!
Từ việc này nhằng sang việc kia, nỗi ấm ức luôn tìm mọi cơ hội để thể hiện, dưới các hình thức cay độc nhất. Đó là biện chứng tâm hồn trong những lúc anh rối loạn. Anh ngắm con Bi rồi gật gù:
Hừ, nhất bạch, nhì hoàng, tam khoang, tứ đốm. Mày vàng, loại hai, kể cũng khá. Trông mày cũng khôi ngô, tuấn tú ra phết; nhưng kiếp trước mày là gì mà kiếp này làm tu ma, hả Bi? Sao mày không làm người? Làm tu ma bị người ra khả, nhục lắm. Nhưng mà, nghĩ cho cùng, dẫu có là người thì cũng có thoát khỏi bạo lực dưới hình thức tôn giáo, quyền lực và tiền bạc đâu. Bi đát lắm. Nhưng mà tiên sư cả lò thằng Xuân Chương ngu dốt. Bi đát, bi thảm, bi kịch là cái bản chất của xã hội loài người. Chỉ có trong thiên nhiên kia kìa mới không có cái bi! Hiểu chưa, đồ tu ma!
Mẹ tôi hỏi: tu ma là gì, khả là gì? Anh đáp: tu ma là con chó, khả là giết. Đó là tiếng Tày. Trại giam của tỉnh đặt ở vùng đồng bào Tày.
Thấy anh chịu chuyện, mẹ tôi hỏi tiếp:
Thế bố con cũng bị giam ở vùng đó à?
Anh đáp:
Ở vùng đó, nhưng khác trại.
Thế có nhận được thư mẹ và có nhắn được tin cho nhau không?
Có, bố có gửi cho con. Một lần nói: Mẹ gửi thư bảo mới nuôi con cho đặt tên là Bi, rất khôn.
Sao hai bố con lại ở hai trại?
Vì bố là tù chính trị.
Mẹ nhướng hai vòng lông mày:
Tù chính trị là thế nào?
Anh trề môi:
Là tội do những đầu óc có trí tưởng tượng quá phong phú nghĩ ra.
Mẹ run rẩy:
Hôm vừa rồi, chú Đạt phóng viên báo Người Lao Động hỏi mẹ: Chị có biết anh nhà nhận được một bức điện từ Sài Gòn đánh ra không? Mẹ nói không biết. Chú Đạt cho biết: Thoạt đầu tội bố con chỉ là sai lầm trong việc quản lý tài chính và kinh doanh thôi, nhưng sau khi mất chiếc tàu do bọn di tản lấy đi và nhất là sau khi có bức điện từ Sài Gòn đánh ra thì án chuyển thành án chính trị. Bức điện có nội dung là: Đã lót ổ xong, vào ngay Người ta bảo chỉ có gián điệp mới điện cho nhau như thế.
Anh tôi bật cười sằng sặc:
Gián điệp ấy là gián điệp tập sự. Còn người ta ấy là bọn an ninh ăn lương khởi điểm! Ha, trinh thám An Nam, trinh thám Cái Lò Gạch!
Mẹ nói tiếp:
Chú Đạt còn hỏi mẹ: chị có tin là con tàu bị mất thật không?
Thế mẹ trả lời thế nào?
Mẹ tôi ấp úng. Anh tôi đứng dậy, chém tay, lắc đầu chua chát:
Thế thì còn lâu bố mới được tha, mẹ ạ.
Mẹ tôi nhợt bệch cả mặt mày và trào nước mắt. Có một nỗi ân hận đang cắn rứt hoặc một uẩn khúc nào đó đang day trở trong lòng bà. Tôi biết đêm đêm mẹ tôi vẫn trở dậy thắp hương trên bàn thờ, bà vừa khóc vừa khấn vái, cầu xin tổ tiên ông bà nội ngoại phù hộ cho bố tôi qua khỏi được cơn tai họa đớn đau này. Một kẻ ý thức được giá trị mình thì chẳng bao giờ hạ mình cả. Bố tôi là vậy. Có lẽ vì nhận ra tính cách ấy của chồng mà nhiều lúc mẹ tôi cứ như thất thần hoảng sợ. Lương tâm bà không yên ổn. Hình như bà đã có một lầm lẫn, sa xẩy nào đó và bây giờ, bà đang tự dày vò mình?
Anh Cần tôi có thể là một biến cách, phản ánh cả mặt mạnh lẫn mặt yếu, trong tính cách của bố tôi. Từ cực đoan này nhảy sang cực đoan khác mà lại có lý lẽ biện hộ, đó là mặt trái của sự thông minh. Anh tôi giờ đây bất chấp cả những tiêu chuẩn chân lý thông thường. Anh cố tình không hiểu cả hoàn cảnh khó khăn của một gia đình đang bị cả xã hội ruồng bỏ, không hiểu cả điều quá ư đơn giản là hàng ngày không tránh được việc phải ăn, và như vậy là phải có một động tác là làm việc để kiếm tiền. Mẹ tôi cậy cục mãi mới xin được cho anh vào làm một hợp tác xã đồ gỗ, cũng chỉ mong là anh có được công ăn việc làm thì sẽ nguôi ngoai nỗi hờn giận tích tụ trong ngươì đi, vậy mà anh lại thẳng tay khước từ. Ăn, ngủ, nói, uống rượu đó là mấy hành động chủ yếu của anh trong một ngày. Còn tối thì dạo này anh bắt đầu vắng nhà. Có hôm hai ba giờ sáng mới về. Có sớm, thấy anh nằm cong queo bên cửa sắt.
Một đêm, nghe tiếng chó Bi sủa, mẹ tôi ra mở cổng. To lớn kềnh càng, chân dận ủng, ông Viển đã đứng trực ở mé bên; vừa thấy mẹ tôi ló ra, ông liền thọc tay vào túi áo capốt ngất ngưởng:
Thế nào! Cô Trang định tính thế nào? Có muốn tôi hạ lệnh bắt thằng Cần không?
Mẹ tôi kinh hãi bíu lấy tay ông Viển, líu lưỡi:
Sao. sao thế, hở bác?
Thế nào! Không biết thật à! Dà, ngây dại như gái mười tám thế, cô em. Cậu cả kỉn của cô nàng xinh đẹp hút thuốc phiện đấy!
Trời!
Chẳng có gì mà phải kêu trời cả! Rồi còn là buôn lậu, đánh bạc, chơi gái, thành lưu manh chuyên nghiệp nữa cơ. Nhưng mà này.
Làm như vô tình và thuận tay, Viển choàng cánh tay có ngón tay cụt lên vai mẹ tôi, đầu hơi cúi xuống để cặp môi dầy chờm vào vành tai mẹ tôi:
Thế nào! Lo à! Này, anh nói thật nhé. Anh sẽ hết sức cứu giúp em. Bởi vì từ rất lâu rồi, anh đã.
Cùng với việc chuyển giọng xưng hô anh em với mẹ tôi một cách sống sượng, ông Viển vòng cánh tay kia ra sau lưng mẹ tôi, và ép mẹ tôi vào sát tấm thân lực lưỡng đang toát ra hơi rượu nồng của ông.
Môi ông lập bập và sỗ sàng áp vào má mẹ tôi, trong khi một tay của ông xoay đầu mẹ tôi lại, để đối diện với mặt ông. Mẹ tôi vội đặt cả hai bàn tay vào ngực ông, nén hơi, đẩy mạnh, cố thoát ra khỏi vòng đai tay ông. Tình thế sẽ diễn ra như thế nào nếu lúc đó không xuất hiện Bi. Nghe thấy mấy tiếng goặc goặc mẹ tôi đã nhận thấy gã đàn ông tợn tạo buông cả hai tay, giật lùi mấy bước, rồi xoay người co cẳng chạy. Bốn chiếc răng nanh của Bi đã xung trận. Nhưng ủng cao su đã cứu nguy cho chủ của nó.
Mẹ tôi tơi tả như cây chuối trong cơn bão lớn, trước cảnh xảy đàn tan nghé, chồng mất đằng chồng, con hư đằng con. Tối hôm sau nhìn anh tôi khật khừ trên cái ghế quen thuộc, mẹ tôi mếu máo:
Cần, con có hiểu rằng lòng mẹ tan nát thế nào không? Con xem đấy. Gia sản bây giờ còn gì ngoài tấm phản ông bà ngoại để lại và ít sách vở của bố con? Con có còn thương mẹ và em không, hả Cần!
Thật không ngờ trước lời kêu gọi khẩn thiết ấy của mẹ tôi, thằng anh trai tôi hất hai con mắt đỏ nọc lên, nhe hàm răng ám khói, thở ra một câu hết sức bỉ tiện và bất ngờ:
Chưa hết đâu! Còn con Bi đấy!
Tôi run hết cả người. Mẹ tôi so vai, ôm ngực dội lên cơn ho. Thằng anh tôi đứng dậy, nghiến răng:
Rồi tôi sẽ trả nợ các người. Ăn bánh thì trả tiền! Đời có vay thì có trả! Tôi đã chết đâu mà lo tôi trốn nợ!
Đã đến tận cùng của sự đê tiện và trâng tráo chưa?
Thật là buồn đến tê dại cả người.
Từ hôm ấy tôi phải để mắt tới con Bi. Bi, theo đánh giá của thằng anh tôi, đã là một tài sản. Nghĩa là nó có thể biến thành tiền. Nhưng, phòng bị với người ngay được chứ phòng bị sao nổi với kẻ gian. Bi lại không phải là thứ đồ vật bé xíu để tôi đi đâu là có thể đút túi đem theo được. Tuy nhiên, thứ hai ấy tôi đi học về, tôi vẫn thấy có điều gì quá bất ngờ khi Bi biến mất cùng với thằng anh tôi. Mẹ tôi lồng khắp các nơi tìm Bi. Trở về, mẹ thẫn thờ: Sao nó lại vội vàng như thế!
Đêm thứ bảy tuần ấy ông Viển dẫn một viên trung uý công an đến nhà tôi. Ông này ba mươi tuổi, mặt rám, má có vết sẹo dài như vết rách. Ông Viển có vẻ muốn làm lành với mẹ tôi, sau khi giới thiệu viên trung uý mới được cử về phường làm đồn phó, nói rất ngọt ngào;
Cô Trang à. Tôi và đồng chí đồn phó đã thống nhất với nhau rằng, cô bản chất rất tốt, cô chỉ là nạn nhân rất đáng thông cảm thôi.
Viên trung uý suốt buổi chỉ nhíu mày, lúc sắp đứng dậy ra về, mới ngẩng lên nhìn Viển, hất hàm:
Cậu cả nhà này tên là Cần, hả? Rồi cắn môi, gật gật Cần! Cần! Hừ, thế thì tôi nhớ! Tôi nhớ!