Bi! Mẹ tôi to tiếng, túm cổ dề Bi, kéo nó, nó còn cưỡng, cố quay đầu lại gừ gừ rồi mới chịu theo mẹ tôi vào nhà. Móc xích vào cổ nó, chụp cho nó cái nón rách vào đầu, mẹ tôi đẩn nó vào gầm phản. Nằm im, không chết bây giờ! Tôi mắng. Nó hậm hực, nhưng hình như nhận ra có điều gì đó đáng nghi ngại, nên úp bụng nằm sấp, chịu để cái nón ụp lên đầu, chờm tới lưng.
Trước cửa nhà tôi là một khoảng sân nhỏ lát xi măng. Từ đường phố, muốn vào sân nhà tôi phải qua một cái cổng nhỏ. Cổng là hai trụ gạch gắn một cánh cửa, khung là sắt mười, bên trong hàn sắt đêxê, rất mỏng manh.
Bây giờ, nghe tiếng gọi cổng, tôi bước ra và nhìn thấy, ở phần hở dưới chân cánh cổng là một đôi ủng cao su đen bóng cỡ đại và một đôi chân người xỏ trong đôi dép phụ nữ nhựa trắng nhỏ xíu.
Thế nào! Thế nào! Muốn thế nào nào!
Cùng với tiếng cánh cửa mỏng mảnh bị rung lắc là tiếng hoạnh hoẹ vừa to vừa khàn của người đi ủng. Tôi thưa là để tôi tìm chìa khoá đã. Đôi ủng lập tức rậm rịch và cái giọng nọ liền hạ cao độ, nhưng vẫn lộ sự cau có, bực dọc:
Anh là y sĩ tiêm chó mà nhát như cáy thế thì tiêm chó chết à? Thế nào! Thế nào! Anh nói anh không sợ. Cứ cho là thế! Nhưng anh có biết rằng nghề nào cũng có thủ thuật của nó không? Thế nào! Thế nào! Nghĩa là phải biết tâm, sinh lý. Con cẩu nó sợ nhất cái gì nào, anh có biết không? Cái đàng hoàng và cái gai góc. Hai cái đó mà kết hợp thì người cũng thua chứ đừng nói chó. Cái đàng hoàng là cái ví dụ như tôi đây, đường đường một đấng nam nhi, cứ vung tay tự nhiên, mắt nhìn thẳng, không thèm nhìn đến nó.
Nhưng mà.
Thế nào! Thế nào! Sợ nó xồ ra chứ gì! Thủ thuật chọi nhau với chó của lính chúng tôi hồi xưa là thế này. Nó xông ra, pắp, ta ngồi thụp xuống, một cái bất ngờ thứ nhất, tiếp đến là cái bất ngờ thứ hai, mười đầu ngón tay xoè ra. Đó là cái gai góc.
Tôi mở cửa như mở tấm màn sân khấu.
Trên sàn diễn là ông Viển chủ tịch phường và viên y sĩ. Ông Viển cao lớn lừng lững giống như một súc thịt cắm trên hai cái ủng cao su đen. Viên y sĩ như cây chuối con mới nhú cạnh cây chuối lá đã trổ buồng, ẽo uột như không xương, đầu to mặt bé, môi tô son, tóc xoăn, da tái mét, đầy vẻ đồng cô đồng cậu. Chấm dứt bài giảng về thủ thuật trị chó, về cái đàng hoàng và cái gai góc cho viên y sĩ, ông Viển rọi hai cái mắt hổ vào tôi:
Thế nào! Thế nào! Muốn thế nào mà chùng chình thế!
Tôi im, tai ngưng đọng rặt những thế nào và thế nào. Ông Viển sấn một một bước vào sân, tiếp tục nhìn tôi, mắt trợn trừng trợn trạc:
Thế nào! Nhà mày mới nuôi chó, hả? Tao cảnh cáo nhé! Đêm làm mất trật tự cả phố. Mất ngủ vì nó, bao nhiêu người phát đơn kiện kia kìa!
Mẹ tôi mở cánh cửa sắt ở buồng trong đi ra. Ông Viển hạ vành mi mắt, xuống giọng, nhìn mẹ tôi:
Chị Trang! Chị nên có ý một tý. Dẫu sao thì gia đình chị cũng không thanh thoát được như người ta. Vì vậy, tốt nhất là phải báo cáo. Ví dụ như việc nuôi chó. Không phải là cấm. Nhưng đã nuôi là phải tiêm.
Dạ, tôi cũng mới bắt nó về. Nó cũng mới lớn.
Thế nào! Thế nào! Kìa kìa, một ông đại tá bạn tôi thò tay vào lồng chọn chó. Pắp một phát. Rụt tay ra. Chó con ấy mà! Xước tẹo da, bận gì! Mười hôm sau mới lên cơn động rồ. Còn bây giờ, mồ yên mả đẹp rồi!
Quay lại viên y sĩ, ông Viển hất hàm:
Bây giờ là việc của anh. Thế nào! Thi hành chứ!
Viên y sĩ hạ cái túi da đeo ở vai xuống đất, lóng ngóng bật khuy nắp, vẻ bất đắc dĩ. Ông Viển lệt xệt đôi ủng tiến thêm mấy bước nữa, lướt qua mặt mẹ tôi một cái nhìn trộm, rồi dừng lại trước mắt tôi, giọng dịu hẳn đi. Ông hỏi tôi tên con chó, quay lại dặn dò viên y sĩ nọ rồi chào mẹ tôi đi ra cổng, hẹn sẽ trở lại sau.
Còn lại viên y sĩ. Y lập cập lấy ống tiêm và thuốc ngay tại sân. Rồi bảo tôi đưa Bi ra và phải đảm bảo giữ nó thật chặt, đảm bảo an toàn cho y.
Tôi vào nhà.
Không thể ngờ Bi phản ứng mãnh liệt đến thế. Chui ra khỏi gầm phản, không để tôi dắt dẫn, nó lao vọt ra sân ngay lập tức. Tôi vội bổ nhào, tóm lấy đầu sợi xích. Hú vía, nếu tôi không nhanh tay, cam đoan Bi đã gây tội ác. Tuy vậy, tôi đã chối cả tay vì phải ghìm giật lại sức phóng của nó. Cuối cùng, tôi cũng dúi dụi về phía trước, suýt ngã và Bi dựng người lên, hai chân trước co lại, răng nhe lởm chởm, y hệt ngựa chiến xung trận đụng độ đối thủ ngoài trận tiền.
Viên y sĩ hồn vía lên mây, vứt cả túi da, tuột cả dép, bắn ra cổng. Mặt cắt không còn một giọt máu, y xua tay, lạc cả giọng:
Giữ nó lại! ối giời ơi! Giữ nó lại!
Bi! Bi ngoan nào! Bi ngoan để tiêm cho khỏi dại nhé.
Mẹ tôi vỗ về Bi. Nó cúi đầu, chớp mắt. Tôi dắt Bi vào nhà, khép cửa sắt buồng ngoài lại.
Viên y sĩ bụng thì sợ, nhưng lại có ý làm cao, nhặt chiếc túi, vênh cái mặt choắt:
Không tiêm nữa, hả! Không tiêm, chó cắn phải ai thì đền mạng nhé!
Mẹ tôi vội khẩn khoản:
Dạ, có tiêm ạ. Dạ, nhờ chú.
Kế hoạch được phác ra ngay. Tôi sẽ dẫn Bi ra sát cái cửa sắt, xoay mông Bi ra phía ngoài sân và giữ Bi bằng hai cánh tay và hai ống chân kẹp chặt. Gã y sĩ đứng ở ngoài, thò ống tiêm qua hàng chấn song cửa sắt, thọc kim vào mông Bi. An toàn tuyệt đối. Trường hợp muôn một Bi có xổng, buột ra khỏi sự kìm giữ của tôi thì Bi cũng vẫn ở trong và viên y sĩ vẫn ở ngoài cửa sắt.
Giữ cho chắc nhé! Tuột là toi đời đấy!
Năm lần bảy lượt nhắc nhở tôi và tôi phải hứa đến mỏi cả mồm, viên y sĩ mới lò dò như cò cầm ống tiêm bước vào sân.
Một lần nữa tôi phải phục tài đánh hơi của Bi. Bi không nhìn thấy viên y sĩ vì bị tôi che lấp. Nhưng nó vẫn nhận ra mỗi cử chỉ của y. Phẫn nộ của nó biểu hiện ở tiếng gầm sôi trong cổ họng tăng dần cường độ theo từng bước chân của y tiến tới gần nó. Tới khi viên y sĩ vận dụng cái đàng hoàng và cái gai góc của ông Viển, đâm xịch mũi kim vào mông Bi, hai tay y run bần bật, môi y bặm chặt như lấy hơi để bơm thuốc, Bi mới thật sự trỗi bật lên một sức mạnh quật khởi. Tôi nhận ra, không phải là do phát tiêm gây đau đớn. Mà lànó căm uất. Tôi phải gồng người lên, nghiến răng, ghì chặt hai bên sườn nó. Nhưng, rốt cuộc tôi thua. Không sao có thể kìm được một sức bật nguyên khai, một sức bật của tổng số năng lượng tích ở trong người nó. Nó văng giật và quay được đầu về phía cửa sắt.
Liều thuốc đã bơm hết, viên y sĩ không kịp rút bơm tiêm, để mặc nó rơi xuống đất, quay đầu, ù té vọt ra khỏi cổng.
Bi rúc vào khe chấn song sắt, rũi mạnh, đòi lồng ra, rít lên thật man rợ.
May là chiếc bơm tiêm không vỡ. Mẹ tôi nhặt đưa trả viên y sĩ. Y nhận vật nọ, chưa hoàn hồn, nhưng môi vén như môi ngựa, ra cái điều bất chấp:
Mẹ mày chứ! Chó sói, chó dữ như con Xồm nhà ông Viển ông còn coi như chó giấy nữa là.
Rồi hất hàm vào mẹ tôi, y giở giọng chợ búa:
Thôi, thanh toán tiền đi, để đây còn tút. Mẹ kiếp! Suýt nữa thì đi đời nhà ma với nó.
Mẹ tôi khép nép:
Bao nhiêu tất cả, hả chú?
Bốn nghìn!
Sao người ta tiêm chỉ có một nghìn rưởi?
Không có mà cả! Đem cả tính mệnh ra đặt lên bàn cân mà lại còn định bớt xén, hả? Chị tưởng bốn nghìn nhà chị to bằng cái đình chắc. Đúng là chó nhà hoang, chả có ma nào lai vãng!
Nhận những lời mắng mỏ của của viên y sĩ, mẹ tôi sầm mặt bước vào nhà. Thấy con Bi vẫn to tiếng sủa đuổi viên y sĩ, bà liên dậm chân, quát:
Tao bảo mày không được, hả Bi!
Rồi ngồi xụp xuống cạnh nó, bà nghẹn ứ:
Thôi, không có chó má gì nữa! Không dạy được thì để mai tôi đem về nhà cô Lý tôi trả! Trời ơi là trời!
Lần đầu tiên mẹ tôi có thái độ giận dỗi nặng nề và đau uất như thế với Bi. Tôi nhận ra, có một nỗi đau nhức từ trong tâm can mẹ tôi vừa bị khơi lên, từ sự kiện tầm phào này.
Điều lạ là hình như Bi nhận ra trạng thái tình cảm bức xúc, ngột ngạt ấy của mẹ tôi. Nó bặt tiếng sủa, len lén chui vào gầm phản. Căn nhà rơi tõm vào yên lặng không bình thường.
Có những khoảnh khắc yên lặng đến lạ lùng và vô cùng khó hiểu. Lúc ấy tình cờ cả thế gian bỗng như ngưng hoạt động. Giun dế không kêu. Gà không gáy, chim không hót. Cả mọt cũng thôi nghiến gỗ. Tôi mặc hồn bơ vơ trong sắc tím tía của bầu trời ngả tối. Và cứ phấp phỏng thế nào vì một sự bùng nổ phá vỡ tình thế cân bằng phẳng lặng này. Tĩnh lặng này bất thường quá, hiếm hoi quá, không bền lâu đâu. Điều tôi lo sợ đã là một sự thật. Tiếng muỗi vo ve lúc tranh tối tranh sáng chưa kịp thông tục hoá bức tranh tâm cảm, tôi đang ngồi học bài, ở buồng trong, bỗng thình lình nghe mẹ tôi kêu thất thanh.
Chui vào gầm phản, tôi nôn nao, ngây ngất cả người. Bi nằm ẹp tít tận góc trong cùng nơi gầm phản suốt từ khi nó được tiêm phòng dại đến bây giờ. Tôi gọi, nó cố đứng dậy. Nhưng, bốn chân nó lập cập, cúm rúm, bụng nó bị một cơn co thắt dữ dội, mõm nó gần như chống xuống đất và nó nôn toé ra một đống nước vàng khè.
Không thể ngờ đó lại là trận ốm thập tử nhất sinh của Bi. Vì sao lại đến nông nỗi ấy? Thật tình cho tới nay, tôi cũng chưa hiểu. Ai cũng biết nuôi được con chó, con mèo, là điều không dễ. Xứ ta, đã có ai nghiên cứu kỹ lưỡng về cách nuôi nấng, trị bệnh cho giống chó nhỏ con tầm thường như Bi? Khối người còn chê cười người Châu Âu vì họ có bác sĩ và bệnh viện cho chó đó thôi. Bi ốm cũng có thể là một điều dễ hiểu mà tôi không biết. Nhưng, tôi cũng được biết rằng, đợt tiêm chó dại ấy ở khu phố tôi cũng có hai con đau ốm y hệt Bi và chết sau khi tiêm một ngày. Chó chết là hết. chuyện!
Dấu hiệu đau ốm của Bi bắt đầu bằng việc nôn mửa. Tiếp đó nó nằm xẹp, mắt lờ ngờ, hai lỗ mũi rất khô và nóng. Mẹ tôi vội bế Bi đặt vào nệm. Nó nằm im, đặt thế nào nằm thế ấy, không ngó ngàng gì đến bát cơm trộn cá để sát mõm.
Nửa đêm, tôi tỉnh giấc. Bi nhổm dậy, cong lưng, cổ họng phát ra những tiếng hóc hóc. Nôn khan một lúc, bụng nó lại xuất hiện cơn đau quặn. Nó lật mình từ bên này sang bên kia, mỗi lần vậy lại khe khẽ rên la. Lát sau, nó chồm dậy, người chênh chao xiêu vẹo trên bốn ống chân run rẩy. Nó ngã rập ở bậc lên chuồng tiêu. Cố bò lên tới miệng hố, nó tháo ra một bãi phân lỏng đen sì.
Mẹ tôi nước mắt chan chan, cố kìm lòng, lấy nước ấm rửa ráy cho Bi, bế Bi vào nhà, nương nhẹ đặt Bi xuống nệm êm. Nệm êm cũng vẫn không giảm được cơn đau của Bi. Nó nhoài ra khỏi nệm, áp bụng xuống đất. Và chốc chốc như lên cơn kinh giật, nó lại bật ngửa người, oằn oại một hồi. Rõ ràng là Bi bị đau bụng. Căn bệnh này chó thường hay mắc. Các triệu chứng lâm sàng là quằn quại, nằm sạp bụng áp đất, xuất huyết đường ruột và tử vong. Mẹ tôi đi hỏi cô Lý, cô bảo vậy. Nhưng ngoài những hiện tượng trên, Bi còn ngây ngất sốt! Người nó nóng. Và đặt tay lên cổ, thấy mạch nó như nước sôi trăm độ. Mẹ vội nấu cho nó bát cháo hành, tía tô để nó giải cảm. Nhưng nó không chịu ăn, dù là một thìa. Mẹ lấy dầu cao xoa khắp bụng cho nó. Rồi giã gừng, hâm rượu, bọc vào khăn với đồng bạc trắng và túm tóc rối, đánh dọc sống lưng, hai bên thái dương và chà xát tứ chi nó. Không ăn thua. Nó càng lúc càng thỉu đi.
Em đau thế nào, hả Bi? Bây giờ biết làm thế nào, Bi ơi!
Đặt tay lên trán Bi như truyền cho nó toàn bộ tình thương mến của người mẹ với đứa con bé bỏng yếu đau, mẹ tôi bật lên tiếng kêu nức nở và sợ hãi. Cùng với xót thương là một nỗi âu lo bám rễ từ một nơi sâu thẳm trong tâm linh hiện về, lởn vởn trong tâm trí mẹ tôi.
ít lâu nay mẹ tôi sống trong tâm trạng không được bình thường. Bà luôn tìm thấy ở những sự kiện ngẫu nhiên một ý nghĩa lạ lẫm, có tính chất thông điệp. Một sợi dây đàn đứt. Một tấm kính nứt vỡ. Một cơn ác mộng. Một con bướm hoa bay vào nhà. Thậm chí, một nén nhang tắt dở chừng. Tất cả những sự việc nhỏ nhặt, vô ý nghĩa ấy, giờ đây đối với mẹ tôi đều là tín sứ của một tiền định, là biển báo của một tai hoạ rủi ro hoặc một phúc lộc to lớn. Thế giới thật rộng lớn, vũ trụ bao la với muôn ngàn điều huyền bí, và con người quả thật là một sinh thể vô cùng yểu nhược, sống thoi thóp lo sợ giữa các áp lực vô hình, không thể biết: có phải thế chăng? Một đêm, tôi đi xe đạp từ trường về. Bỗng dưng có cảm giác lốp trước xẹp hết hơi. Tôi liền xuống xe.
Bóp lốp trước, tôi thấy ngạc nhiên vì thấy nó vẫn còn rất căng hơi. Nhưng, tôi đã giật thót mình, cách bánh xe tôi độ hai bước chân là một cái hố sâu đen ngòm ai đào chưa kịp lấp. Xe tôi mà đâm xuống hố đó, chí ít tôi cũng gẫy tay, què cẳng. Hú vía! Tôi kể lại chuyện đó, mẹ tôi điềm nhiên bảo: Ông ngoại phù hộ cho con đấy! Lúc ấy ông hiện lên, báo hiệu cho con biết. Nhà mình, ông ngoại thiêng lắm. Hồi ông còn, ông rất quý bố con! Thế đấy, những mối liên hệ hết sức kì bí, không thể hiểu nổi, quan hệ đến sự sinh tử! Bi ở trong tình trạng tính mệnh nguy ngập, mẹ tôi vừa thương xót Bi, vừa bị vây bủa bởi bao nỗi phấp phỏng kinh hoàng. Cái chết bao giờ cũng rất độc, hoạ vô đơn chí, nó kéo theo sự lụn bại khôn lường.
Hai ngày qua, Bi vẫn lệt bệt. Hết món này đến món khác mẹ tôi làm cho Bi ăn, dỗ dành nó, bón tận miệng cho nó, nó vẫn chẳng màng. Thuốc thang thì ngoài đánh gió giải cảm và xoa dầu cao ra, chẳng còn biết làm gì thêm. Bó tay để mặc cho số mệnh định đoạt, không muốn mà lực bất tòng tâm, biết rằng đây sẽ là nỗi ân hận dày vò mình mãi mãi, lắm lúc tôi khóc nghẹn vì không sao chịu nổi trạng thái nhân thế quá bất nhẫn này.
Đêm là thời gian căng thẳng nhất. Điện không dám tắt. Tôi trải chiếu nằm một bên. Mẹ tôi lót đệm một bên. Bi ở giữa. Nó nằm nghiêng một bên, bụng tóp, xương sườn nổi từng giẻ, lông da xác xơ, bơ phờ. Cái chết đang đến với nó. Có thể là từ cái đuôi bông tơ. Ôi, cái đuôi duyên dáng của nó, giờ đã trở thành một bụm lông khô xác, không hồn.
Em cố ăn đi một tí để lấy sức nhé! Bi! Khổ, ba hôm nay em chẳng ăn gì rồi!
Mẹ tôi nghẹn lời, cúi xuống Bi. Bi cố mở mắt. Mắt nó sưng húp, chân có bắt đầu phù nề. Nam túc nữ mục. Có câu cổ ngữ ấy nói về dấu hiệu cái chết. Tôi sợ đến nghẹt thở. Nhất là khi tôi thấy từ hai lỗ mũi nó thoát ra một hơi thở dài và nó he hé miệng với một tiếng chép lưỡi nhỏ thật hết sức ai oán. Trời! Bi sắp giã từ cuộc sống! Bi vĩnh biệt mọi người! Bi còn nhiều oán thoán và tiếc thương!
Tôi thiếp đi trong lo sợ. Tỉnh dậy trong bàng hoàng, tôi nghe thấy tiếng chai lọ lịch kịch Bi liếm mật ong, con ạ. Mẹ tôi vừa rót mật ong ra đĩa vừa thì thào với tôi. Bi vẫn nằm ẹp một bên như cũ, nhưng tôi thấy lưỡi nó cử động. Nó cảm giác được vị ngọt của mật. Nhưng, tôi chưa kịp mừng, cơn co rút ác liệt xuất phát từ ruột Bi đã lại bắt đầu. Chút gắng gỏi tìm về cõi sống vì chưa nỡ chia tay, vì còn muốn được có ích với người của nó, lập tức lại bị phủ nhận sạch trơn. Tàn ác quá là số mệnh! Sao người lại có thể bất công và đểu giả như vậy. Một con vật đẹp đẽ và đáng yêu như Bi sao lại phải kết thúc sự sống vào lúc tuổi tráng niên vừa mới bắt đầu! Chao ôi!
Lần này, sau khi nôn mửa, Bi không đủ sức để nằm xuống nữa. Sinh lực đã cạn kiệt, nó mặc cho thân mình tự rụi xuống, lùng nhùng một đám xương khô trong cái vỏ da lông bọc nhẽo nhèo. Chỉ còn hai con mắt nó là còn le lói chút linh hồn sắp tắt. Tôi cúi xuống, ngực cộn lên tiếng nấc. Mắt Bi ướt nhoè. Trời ơi, Bi khóc. Chẳng lẽ đây là phút lâm chung của Bi? Tôi chịu đựng sao nổi cuộc chia ly đau đớn này!
Con mèo Mí ở sau bếp vô tình lững thững đi vào. Nó cọ mình vào chân mẹ tôi. Mẹ tôi bế nó lên lòng. Nó nhìn Bi, ria mép im phắc. Mẹ tôi sụt sùi:
Chị Mí có thương em Bi không? Chị Mí thương em Bi lắm nhỉ. Em Bi ốm đấy. Em Bi chẳng chịu ăn gì cả. Chị bảo em Bi chịu khó ăn đi. Mai chị để dành cá cho em Bi nhé!
Con mèo Mí meo meo mấy tiếng dịu hiềnMẹ tôi trào nước mắt:
Ừ, chị Mí bằng lòng để dành cá cho em đấy, Bi à.
Lần này thì đột nhiên Bi mở to mắt. Trùm lên Mí một ánh nhìn giã biệt và biết ơn. Tôi run lên vì một nỗi kinh sợ thốc ra từ gan ruột.
Nhưng, Bi đã không chết lúc đó. Bi đã không chết! Bi đã sống!
Vì nguyên cớ gì? Vì sức sống tiềm tàng bền dai của nòi giống Bi? Vì sức mạnh dai dẳng của sự sống tự nhiên là không dễ khuất phục, là dẫu bị dồn vào chân tường rồi, sự sống bao giờ cũng cật lực trỗi dậy, can đảm mở đường? Vì tình thương yêu của con người đã chuyển hoá vào Bi một năng lượng chống trả cái chết? Vì chính Bi chưa muốn rời bỏ tôi và mẹ tôi, cùng những người thân của tôi mà nó chỉ biết qua hơi hướng. Vì. ngẫu nhiên nữa.
Phải! Vào lúc chẳng còn một tia hy vọng nào nữa, trước khi vùi đầu vào tấm chăn bông để khóc Bi, tôi đã đặt hú hoạ một viên thuốc kháng sinh trước mõm Bi. Và lát sau tôi chợt vùng dậy, bổ nhào tới Bi. Không thấy viên thuốc đâu. Tôi kêu vỡ thanh quản: Mẹ ơi, Bi liếm tay con. Tay tôi run run vì cảm giác ẩm ướt từ lưỡi Bi truyền sang. Mẹ tôi choàng dậy, chung chiêng như đứng lên trên một sợi dây thép chăng qua hai mỏm núi. Bà sờ trán Bi, vuốt lưng Bi, miệng mà mếu xệch:
Mồ hôi ra nhiều quá. Để mẹ lau cho con nhé!
Mẹ tôi trùm chiếc khăn mặt lên mình Bi, nhè nhẹ thấm mồ hôi cho Bi. Bi hé mắt. Rồi đột ngột nó co hai chân sau. Nó đã cử động. Mẹ tôi nghẹn ngào cúi xuống, nâng đầu Bi, đổi thế nằm cho nó.
Đó là những phút hồi hộp bóp nghẹt tim. Nhưng tôi biết làm gì bây giờ, ngoài sự âm thầm cầu mong. Ngoài số mệnh, nếu có số mệnh, cái gì là sức mạnh có thể đưa Bi trở lại với đời? Khổ thân Bi! Dẫu sao thì nó cũng chỉ là một đứa trẻ mới lớn dậy. Trận ốm này thật là một đòn quá nặng đối với cái cơ thể còn non tơ của nó. Nó có vượt lên được số phận thì cũng là nhờ ở chút ít năng lượng trẻ trung của nó, và chắc chắn là đã có một sự kì diệu nào!
Chiều hôm ấy Bi ăn viên thuốc kháng sinh thứ hai. Nó có vẻ như có ý thức, vì khi nhau viên thuốc, mặt nó nhăn lại như trẻ con cố nuốt viên thuốc đắng. Lát sau, nó liếm hết nửa bát cháo gà. Rồi nhắm mắt ngủ. Ngủ có ngáy, có động tai, thỉnh thoảng lại nấc như tủi phận.
Gần sáng tôi thức giấc. Không thấy Bi nằm ở ổ nệm. Hốt hoảng, tôi xộc vào nhà vệ sinh, không thấy Bi. Chạy ra cửa, tôi khựng lại. Bi đang xoải dài thân mình ở vị trí canh gác sau cánh cửa sắt thông ra sân. Chân duỗi dài song song, đầu áp trên hai chân trước, hai mắt Bi lim dim, mệt mỏi.
Sáng ấy, mẹ tôi mua về hai lạng thịt bò. Mẹ thái nhỏ, ninh nhừ, xúc ra bát từng vài thìa một cho Bi ăn. Bi ăn hết một lạng, liếm mép thích thú rồi lăn ra ngủ. Chiều Bi ăn nốt chỗ thịt còn lại và một bát cháo. Ăn xong, nó đứng lên, chậm chạp đi ra cửa. Nằm xuống sau cánh cửa sắt, nó nhìn ra sân, mắt buồn vời vợi.
Tôi đã nghe tiếng Bi gừ gừ. Rồi bất thình lình Bi gầu một tiếng thật to và cụt ngủn. Ôi, bảy ngày qua, đã tưởng mình quên mất cả ngôn ngữ của mình rồi! Có phải Bi nghĩ thế không? Không! Bi vẫn là Bi, vẫn đầy đủ năng lực của giống loài. Tiếng Bi còn yếu hơi, còn khê khàn, nhưng như thế là Bi đã thắng, đã vượt lên cái chết rồi.
Ôi! Bi của tôi đã sống! Bi của tôi đã khoẻ trở lại! Tôi hét vang nhà. Tôi ôm con mèo Mí, nhảy tâng tâng. Bi đã sống. Bi đã khoẻ rồi. Không một sự độc ác, bất lương nào, dù nó ở dạng vi khuẩn vi trùng hay ở dạng sống nào khác, có thể giết được Bi!
Ưu thế của một cơ thể đang tuổi phát triển được thể hiện rất rõ ở sự hồi sức rất nhanh chóng của Bi. Quả cầu sức khoẻ của nó bị biến dạng méo mó chẳng mấy lúc lại trở lại hình cũ tròn đầy. Tốc độ hồi phục của nó cũng nhanh không kém lúc sa sút. Tuần lễ sau, lông da nó đã mượt. Vẫn còn gầy so với trước khi ốm, nhưng mặt nó đã hâng hẩng khí sắc tươi vui. Đi học về hôm ấy, tôi đã đứng ngẩn ra ở cổng, nghe nó sủa vang lộng trong nhà. A! Bi của tôi đã lấy lại được cái giọng vàng, giọng bạc trời cho rồi. Chất giọng thổ pha kim, hơi khan rè, kiểu ca sĩ Nam Mỹ của nó không lẫn với bất cứ giọng nào, đã bộc lộ được thể trạng sức khoẻ của nó và phù hợp hết sức với hoạt động nô rỡn vui vẻ của nó. Nó đang trêu con mèo Mí. Quả thật, cứ như là hai cực đối lập, thằng em Bi nghịch ngợm vô tư bao nhiêu thì con chị Mí của nó khó tính khó nết bấy nhiêu. Mí chẳng biết thế nào là đùa rỡn nữa kia. Người gì mà lạ thế. Bi đớp dứ chị Mí là Bi muốn bộc lộ niềm vui sống của Bi. Thế mà ngồi trên cái yên xe đạp, chị Mí nhị thể cứ cau cảu tức bực là thế nào! Mẹ tôi cười:
Một đằng là cau cảu như con mẹ Đát Kỷ. Một đằng là chó ghẻ có mỡ đằng đuôi kìa!
Bi nghển cổ, hai cánh mũi phập phồng. Mẹ xoa đầu Bi:
Ngày xưa chó và mèo là ghét nhau lắm đấy, Bi à, giờ Bi và Mí không được ghét nhau nhé.
Bi nằm kềnh ra sàn, bụng ngửa tênh hênh, bốn chân co co, tai mấp máy. Bi thích nghe chuyện ngày xưa đấy. Mẹ xoa bụng Bi và kể chuyện chó mèo đi tìm ngọc cho vua, do tranh công nhau mà sinh ghét bỏ nhau.
Mải nghe chuyện, Bi để quên cái lưỡi thè bên mép. Chuyện về Bi hay thật đấy! Mẹ kể rằng, ngày xưa tổ tiên Bi cũng biết nói tiếng người. Một hôm có một người thợ săn đang đi trong rừng bỗng nghe thấy tiếng một con vật gầm gào rất đau đớn. Theo tiếng con vật gầm gào, người thợ săn tìm đến thì thấy một con hổ vằn vàng vằn đen to bằng con ngựa, đang giãy giụa vì mắc bẫy kẹp ở chân. Thấy người, hổ liền kêu cứu. Người vốn nhân từ, động lòng thương hổ, nên mở bẫy cho hổ thoát hiểm. Nào ngờ, vừa thoát chết, hổ chồm tới, đòi ăn thịt ân nhân luôn. Người bực bội nói: Vô ơn, bạc nghĩa như vậy là trái với lẽ thông thường. Hổ nói: Lẽ thông thường là hổ phải ăn thịt người. Hai bên tranh cãi về cái gọi là lẽ thông thường, không bên nào chịu bên nào. Vì vậy, phải đi tìm người thứ ba để phân xử. Họ cùng đi. Một lúc, gặp vẹt. Vẹt nói: Hổ đúng. Một lúc nữa, gặp cây cọ. Cây cọ nói: Người sai. Người không chịu, đòi quá tam ba bận, nên lại đi. Một lúc nữa gặp chó. Chó nghe đầu đuôi chuyện xong, hấp háy mắt.
Bi hấp háy mắt. Tôi ghé tai nó:
Chó ấy chính là Bi đấy, Bi có hiểu không?
Mẹ kể tiếp:
Hấp háy mắt ngẫm nghĩ một lát, chó mới bảo: Làm gì có chuyện hổ sập bẫy! Tôi không tin!. Hổ tức, quay trở lại bẫy, cho chân vào bẫy, để cho người kẹp lại. Mục đích để chó tin, không ngờ hổ mắc mưu chó!
Tôi reo:
Chó khôn quá!
Mẹ cười:
Từ đấy, chó ở với người, giúp người làm việc thiện. Lẽ thông thường, lấy việc tốt, việc thiện làm chuẩn mực.
Mẹ kể chuyện Chó, Mèo, Khỉ đi.
Ừ. Mẹ gật đầu, tay vẫn xoa xoa bụng Bi. Ngày xưa, chó và mèo ở cùng một nhà. Một lần, chủ nhà cho một cái bánh. Hai con không biết chia thế nào cho đều. Nên phải nhờ khỉ bên hàng xóm. Khỉ ma lanh bẻ một bánh thành hai, một to, một nhỏ. Khi đặt lên cân, tất nhiên đĩa cân bên phần bánh to trĩu xuống. Chỉ chờ thế, khỉ liền véo một miếng ở bên phần bánh to, cố tình để phần bên này lại bé hơn phần bên kia. Tiếp đó, nó lại véo bớt phần bên kia. Cứ thế, bàn cân lúc nào cũng lệch. Mỗi lần véo bớt bánh ở bên này hay bên kia, nó đều ăn hết. Cuối cùng chỉ còn lại một miếng bé tẹo ở một bên bàn cân. Nó cũng vơ đút miệng nốt, để trơ lại hai bàn cân rỗng không, bằng nhau. Và chạy đi. Từ đó khỉ ở trong rừng và chó, mèo hiểu nhầm nhau nên ghét nhau.
Thấy tôi cười, Bi rung ria mép. Vì mẹ xoa bụng, vì câu chuyện lý thú mà Bi thấy khoái chí: Ra thế. Là chó như Bi mà cũng thành chuyện nhỉ. Mẹ lại kể về những con chó thông minh và nghĩa tình trọn vẹn. Chó đã sống cạnh người từ cả vạn năm nay rồi. Quen thân lắm rồi nên có câu khuyển mã chi tình. Quen thân đến mức hình bóng chó có cả trong văn thơ, trong các thành ngữ, tục ngữ của người nữa kia. Chó có váy lĩnh. Chó đen giữ mực. Đánh chó ngó chủ. Chó gầy hổ mặt người nuôi. Giàu bán chó khó bán con. Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang.
Chuyện hay quá. Bi nghe mê ly đến nỗi mắt đờ ra rồi díp lại. Mẹ bảo: Chuyện con Bi bây giờ cũng hay không kém chuyện ngày xưa. Để mẹ viết thư kể chuyện nó cho bố con, anh con nghe Mẹ nhìn Bi, cười: Dạng hênh dạng háng ra mà ngủ, rõ thật trẻ con chưa!
Bi ngáy rờn rờn. Giấc ngủ lại sức đến rất nhanh, nhưng nhọc nhằn lắm. Nó có nhiều ẩn ức chăng? Mẹ bảo: Bi mê đấy. Đúng là Bi mê thật. Bi mê thấy mình đi ra phố. Rồi rẽ vào một cái ngõ sâu. Đi một lúc, bỗng ngửi thấy hơi gì quen lắm. Bi đứng lại thì một con chó cái rất giống Bi từ trong một cái cổng gạch chui ra. Ôi, mẹ Bi, mẹ bi thật! Giống Bi lắm. Bụng mẹ to ộ ệ kềnh càng. Mẹ lại sắp có em bé rồi. Bi nằm ềnh bên chân mẹ. Mẹ liếm mắt, liếm chân, liếm tay Bi. Mẹ hỏi Bi:
Con cao gần bằng mẹ rồi! Nhưng sao con gầy thế? Con có được ăn no không?
Bi đáp:
Con ở với người tốt mẹ ạ. Con được ăn ngon, ăn no. Vừa rồi con bị ốm nặng. Có người ác lắm.
Người ác thế nào?
Nó muốn giết con, mẹ ạ.
Mẹ Bi thở dài:
Khổ thế đấy. Bọn người độc ác còn nhiều. Con phải giữ mình cẩn thận. Không ăn phải bả của bọn họ. Không đi một mình để họ bắt, gặp bọn người ấy, con phải lánh xa. Con là con chó khôn nhất của mẹ. Con có phân biệt được người hiền với kẻ ác không?
Nhìn mặt con biết, ngửi hơi con biết. Vì từ người họ toát ra cái hồn, cái vía, mẹ ạ.
Thế thì được. Ngoài ra, còn bệnh tật của loài mình. Gặp lúc một thân một mình con phải biết tự chữa bệnh đấy. Hồi mới đẻ con, mẹ có dậy môn thuốc gia truyền chữa bệnh đau bụng con có nhớ không?
Con biết chứ! Mẹ ơi.
Mẹ Bi cúi xuống, nghiêng tai. Bi nghển cổ, nó hạ giọng thật thấp như muốn thổ lộ tâm sự riêng với mẹ:
Mẹ à, con ở với mẹ Trang và anh Toản. Cả hai người đều cực tốt. Nhưng con thắc mắc lắm.
Con thắc mắc điều gì?
Họ không chỉ có hai người đâu. Gia đình ấy còn hai người nữa kia. Con đánh hơi được mẹ ạ. Một người đàn ông lớn tuổi và một người con trai lớn. Họ vắng nhà lâu rồi, nhưng đồ vật của họ vẫn còn hơi người họ. Con nhận được từng người, nhất là người đàn ông lớn tuổi. Ông ta là người tốt. Con cam đoan là, nếu gặp ông ta ở đâu, con cũng nhận được. Con biết còn là vì con thấy nhà này trống trải lắm. Mẹ Trang nhiều lúc rất buồn.