Nhưng đã có một ngoại lệ. Bi tỏ ra ương bướng như trẻ con, Bi không nghe lời tôi!
Chủ nhật ấy mẹ tôi tìm đến một người quen vừa mãn hạn tù để hỏi tin tức về bố tôi, tôi đang ngồi học ở trong nhà, bỗng nghe thấy tiếng Bi sủa rất gay gắt. Hay là ông Viển lại đến?
Ngoái nhìn ra cổng, không thấy cái bóng cao lớn và bộ mặt xung huyết của ông Viển, tôi nhận ra một chiếc xa Lađa màu xanh lá mạ vừa đỗ lại và cửa xe đã mở. Một người to béo, từ trong xe bước ra, khạng nạng đi đến cánh cổng nhà tôi, nghển lên, cất giọng hỏi:
Cháu ơi, đây có phải là nhà cô Trang không?
Tôi đáp vâng và vội chạy ra, kéo Bi lại. Bi chồm lên cửa sắt, gục goặc cái đầu sư tử. Ông khách lui lại, ôn tồn bảo tôi xích chó, rồi quay lại khoá xe và chậm rãi đẩy cổng, đi qua mảnh vườn nhỏ và khoảng sân vào nhà. Chân chữ bát nên ông đi cứ chệnh choạng như chực ngã.
Một lần nữa Bi tỏ ra không khôn ngoan và thiếu lễ độ. Chó khôn, khi khách đã bước vào nhà, được chủ thân mật đón rước, tức có sự đảm bảo an toàn rồi, thì phải im tiếng chứ. Đằng này nó cứ nằm trong gầm phản chõ mõm ra sủa nhặng. Quát mắng thì lại cứ như giục. Tôi bực, thét to một tiếng, nó mới tụt vào góc gầm phản trong cùng và từ đó phát ra những tiếng gừ gừ nho nhỏ tức tối.
Ối! con chó hư quá! Ông khách đưa cặp mắt nhỏ lùa vào gầm phản, mắng Bi. Ông có vẻ hơi tự ái. Đường đường một người bệ vệ như ông, chứ nào có phải là hạng người ăn mày ăn nhặt hoặc thợ nề, thợ mộc xoàng xĩnh, vô bản sắc, nhan nhản ngoài đời! Cao một mét sáu lăm, rất vừa độ và cân đối. Vai rộng, ngực bụng nở nang vừa phải. Mặt tròn, đầy đặn, ngũ quan ngay ngắn, chuốt bóng. Cùng với mái tóc nhuộm đen tuyền chải lật, cắt tỉa cẩn thận tỉ mỉ, con người ông toát lên vẻ sang trọng đặc biệt.
Ông mặc chiếc áo phông Pháp trắng, cổ bẻ, sọc xám rất nhã. Chiếc quần len mỏng, màu cà phê sữa, kiểu mới, gấu hẹp của ông, phù hợp với sự cao sang của đôi giày môka da nâu, nổi bật trên nền trắng toát của đôi tất. Chớm hạ, ở đất Bắc nóng nôi, bụi bậm, người thường không ai ăn mặc như vậy. Cũng ít ai có được phong vẻ hơi lạnh lùng nhưng cao sang, sạch sẽ đến như vậy. Tách ra khỏi cái lam lũ cực nhọc của đời sống còn muôn vàn cơ khổ hiện thời, ông có diện mạo một kẻ sung túc về vật chất, mãn nguyện về tinh thần, hoặc ít ra cũng phải giả bộ như vậy vì phải đóng vai một quan chức quan trọng, luôn phải chường mặt với quan khách người nước ngoài. Tuy nhiên, ông không phải là một kẻ xa cách đời sống, hoặc phóng tâm coi nhẹ việc đời. Nét quai hàm bạnh ra khi ông ngậm miệng cùng với cặp mắt đã nhỏ lại hay khim khíp quan sát ngoại cảnh là chứng chỉ cho tính cách quả đoán và hay để ý vặt của ông. Chứng cớ nữa là ông tỏ ra khó chịu, chứ không bao dung trước thái độ cố chấp của con Bi.
Dẫu sao thì cảm giác chung vẫn là sự yên lòng, kể cả ấn tượng gây nên từ giọng nói của ông, một kiểu phát âm hơi cường điệu, cân nhắc, nhưng tròn vành, rõ chữ và êm ả, du dương nữa.
Mẹ Trang đi đâu, con? À quên, chú chưa hỏi, con tên chi?
Nghiêng người, đưa bàn tay trắng trẻo, mũm mĩm, đeo chiếc nhẫn lớn, đón chén nước tôi mời, ông gật gù nghe tôi đáp, rồi tiếp tục với giọng nói xứ Bắc, pha lẫn đôi ba phương ngữ miền Nam, than phiền khí hậu ngoài này nóng quá xá, và sẽ hết chịu nổi vì việc đi lại rất không thuận tiện, nếu ông bay ra đây không được cấp ôtô riêng. Cuối cùng, ông nói đến việc hỏi thăm chỗ ở nhà tôi.
Người chi mà lạ, hỏi, nói rõ tên mẹ con rồi, mà họ cứ ậm à, ậm ờ không ra nói, không ra không! Lại có vẻ như dò xét nữa chứ! Thành ra ôtô vòng đi vòng lại mãi!
Ông nhếch mép cười, mai mỉa. Rồi tiếp:
Toản à. Chú biết con. Nhưng con không biết chú đâu. Chú là bạn rất thân, rất quý của mẹ con, bố con. Chú tên là Mệnh, công tác ở văn phòng hội đồng nhà nước, nhưng biệt phái ở Sài Gòn. Chú đã.
Một sơ yếu lý lịch đã được tường trình trước tôi để tạo nên sự tin cậy? Tuy nhiên, tôi nhận ra ông không chú ý đến lời tự khai của mình bằng việc tiếp tục khép hờ đôi mắt, lặng lẽ quan sát nội thất nghèo nàn của gia đình tôi. Có gì đâu nhỉ? Ngoài tấm phản cỡ đại, mái che chỗ nằm của Bi, của hồi môn của mẹ tôi, là cái đài National đã quá cũ, từ lâu để ở xó nhà, cùng là cái giá sách cao năm tầng bụi bậm và lộn xộn, sau lần lục soát cuối cùng của người thi hành lệnh bắt bố tôi và anh tôi, sự buồn nản đã tới mức chả ai buồn phủi bụi và xếp sắp lại; dẫu biết rằng nó vẫn là cái di tích đáng giá của một thời chăm chỉ nghiên cứu, học hành của anh tôi và bố tôi.
Ông Mệnh không để một giây trống không, tẻ nhạt, ông biết cách trò chuyện. Tôi chỉ bực bội một điều là con Bi nằm trong gầm phản, hễ ông Mệnh làm một động tác chân hay tay quá mạnh, hoặc đứng lên định đi lại trong căn buồng, thì nó lại xồ ra, tức tối lên tiếng, rất bất lịch sự.
Ngoài cổng lại có người gọi. Ngày hôm nay là ngày gì mà được mùa khách tới. Chả bù, đã mấy năm nay.
Khách mới đến tuổi trạc ba mươi lăm, tầm vóc hơi thấp. Đội mũ bô, đeo túi ký giả, mặc áo sơ mi trứng sáo, quần simili xanh rêu. Người sao của vậy, chiếc xe đạp cũ kỹ, không có chắn bùn, chắn xích, vành bong mạ, đen sì, yên bó bằng bao tải. Cúi xuống tháo cái kẹp sắt ở gấu quần, người nọ nhanh nhảu tự giới thiệu:
Chú là Trần Đạt, phóng viên báo Người Lao Động. Chú có việc cần gặp mẹ cháu.
Sự giản dị và cởi mở của một gương mặt mang nhiều dấu vết đời sống cần lao, chiếm ngay được cảm mến của tôi. Con Bi cũng vậy. Thật lạ. Nó cũng dóng to vài tiếng khi chú Đạt bước vào cổng thật. Nhưng khi chú đặt chân vào nhà thì nó lại im bặt và nằm xuống, quệt lệt xệt cái đuôi trong gầm phản.
Chào anh!
Chú Đạt bỏ mũ chào ông Mệnh và nhắc lại câu chú nói với tôi khi nãy. Ông Mệnh hơi nhổm lên, kiểu cách:
Dạ, thưa anh, tôi cũng là khách của cô Trang thôi ạ.
Tôi biết. Người phóng viên ngồi xuống ghế, gật đầu. Bố và anh cháu đây hiện bị giam giữ. Hai vụ án còn nhiều uẩn khúc. Tôi được toà soạn phân công tìm hiểu.
Khuôn mặt ông Mệnh chợt như thu lại. Vẻ như không chú ý nghe người phóng viên nói, đưa tay lên túi áo ông rút ra một tấm danh thiếp.
A, cám ơn anh. Bùi Văn Mệnh, chuyên viên. 1096 Bis Đường Đồng Tiến. Chú Đạt lẩm nhẩm.
Ông Mệnh ngã lưng vào thành ghế, giọng vô cảm:
Tôi là chuyên viên 8. Nếu không có việc sáp nhập mấy bộ thì tôi lên thứ trưởng từ lâu rồi.
Cơ quan tôi có chi nhánh ở đường Đồng Tiến trong Sài Gòn.
Biệt thự riêng tôi ở đó. Chà, ra ngoài này mới có mấy hôm mà thấy khó chịu về khí hậu quá.
Ra đây anh ở nhà khách chính phủ ạ?
Không! Tôi đặt buồng ở khách sạn năm sao. Mình quen xài máy lạnh, không có, hết chịu nổi.
Anh được mấy cháu, anh Mệnh?
Có một thôi, nó đang làm tiến sĩ hoá ở Ba Lan. Nhà tôi mất đã bảy năm. Giờ, một thân một mình quản lý một trang trại, một biệt thự mười hai buồng, một xe ô tô, hai xe đờ rim đời 89. Mệt quá!
Thế ra anh là người ngoài Bắc?
Tôi và cô Trang đây cùng quê Hà Bắc đó.
Có thể là do ông Mệnh đột ngột đứng lên để tìm cái quạt nan. Cũng có thể là một lý do nào đó chưa thể cắt nghĩa được. Nên đang nằm Bi bỗng kéo xích ngồi xổm dậy, đột ngột ngoác mõm sủa. Tiếng sủa, ngôn ngữ của nó đấy. nghe thì như vu vơ và thật là ngẫu hứng. Nhưng có thật là như vậy không?
Ông Mệnh đập vào tay ghế, cau cau mặt:
Con chó này hư thật!
Huýt một hơi sáo về phía Bi, thấy Bi ngậm miệng, chú Đạt nhìn tôi cười:
Nó tên là gì thế, cháu?
Dạ, nó tên là Bi ạ.
A! Bi! Bi! Trong tiếng Anh, To Be nghĩa là tồn tại. Ừ, trông nó khá. Đẹp. Có tình. Thông tuệ. Đừng tưởng, chú biết xem tướng chó đấy nhé!
Ông Mệnh gườm mặt:
Trông con này bần tướng lắm. Tôi đã nuôi nhiều chó rồi, tôi cam đoan con này chẳng được nét nào. Trông kìa, ngậm mồm lưỡi còn hở. Thế gọi là loại chó lưỡi đầy.
Chú Đạt ngẩng lên:
Tôi cũng nuôi nhiều chó rồi. Tôi thấy con này khá toàn diện. Trông xem: Dáng nó nằm rất gọn. Mõm gác lên hai chân trước để song song. Ngực áp đất. Nghe động là vọt lên ngay!
Thế thì anh nhầm. Con này vừa hay ăn vụng vừa hay cắn trộm.
Nhầm sao được nhỉ! Xem chân nó này. Con chó mà có móng treo. Khỏi lo ăn trộm bắt heo, bắt gà.
Tôi cam đoan là tôi đã nuôi nhiều chó hơn anh.
Có khi ngược lại đấy, anh ạ. Cứ như suy đoán của tôi thì con này đủ dũng, nghĩa, vừa có đức nhân, vừa có trí, có tình chẳng kém gì người.
Tôi cam đoan là con này thuộc loại chó lạc mèo hoang. Loại mõm nhọn, đít vồng.
Mắt anh phải đeo kính rồi đấy. An đừng nên chủ quan!
Chủ quan, nhưng tôi có cơ sở. Ở cơ quan tôi, người ta phải gọi tôi là chuyên gia chó kia mà. Một mình tôi đã nuôi vài chục con để biếu các đồng chí lãnh đạo các ngành, các tỉnh. Anh nên nhớ tôi đã nghiên cứu cả mối quan hệ giữa chó và người về phương diện tâm sinh lý. Hiện tôi đang làm thí nghiệm với một con béc giê nòi Đức.
Nói chó tức là chó ta! Con chó gắn bó với đời sống tinh thần và vật chất của người Việt mình chớ.
Chó ta khôn sao bằng chó tây. Không thể nghiên cứu với con chó nông nghiệp lạc hậu được. Toản à, cháu có biết là con chó của chú nó thông minh đến thế nào không? Chú ra ngoài này bảy hôm. Chú mở sẵn nắp hai mươi mốt hộp thịt, đặt vào tủ lạnh. Một ngày ba lần, sáng, trưa, chiều, con béc giê tự mở tủ cắp mỗi lần một hộp thịt ra ăn. Không bao giờ nó ăn quá tiêu chuẩn!
Đấy chỉ là chuyện ăn thôi, anh ạ. Còn.
Anh định nói về lòng trung thành à? Anh có nghe chuyện con chó Shep ở thị trấn Fort Benton bên Mỹ không? Người chủ của nó bị bệnh nặng. Người ta đưa ông ta ra ga, lên tàu đi bệnh viện. Con chó tiễn chủ ra ga. Không may, bệnh đã quá nặng, người chủ không bao giờ trở về được nữa. Nhưng con Shep ngày nào cũng ra ga đón chủ. Năm năm trời ròng rã, cho đến khi già yếu mắt mờ chân chậm và chết vì tai nạn vào một ngày tháng 12 năm 1942. Người dân ở đó đã an táng nó, xây một đài kỷ niệm và viết một cuốn sách về nó. Con chó hiện tôi đang nuôi có huyết thống xa với con Shep nọ.
Chú Đạt cắn cắn môi, giấu nụ cười bỡn cợt lấp ló ở khoé môi:
Tôi nghe nói là con béc giê một khi chuyển sang chủ mới thì nó rất chóng quên chủ cũ. Trong khi đó, con chó ta ân nghĩa với chủ cũ rất lâu bền. Anh có biết có một làng ở ven sông Hồng thờ một con chó không? Con chó này đã phát hiện ra chỗ nước sủi ở chân đê, tức là phát hiện ra tổ mối, mạch nước ngầm trong thân đê. Nhờ đó mà cả làng thoát trận lụt vỡ đê đó.
Ông Mệnh trề môi:
Tôi thì cho rằng chó ta là đại ngu. Có dạy được đâu. Chó tôi bảo im là im, bò là bò, bắt tay là bắt tay. Còn con này ông Mệnh chỉ con Bi trong gầm phản cứ thử làm một thí nghiệm mà xem. Anh buộc nó vào một cái cột. Nó sẽ đi vòng quanh. Tới lúc dây cuốn hết vào cột, không đi được nữa là chịu cứng. Chứ đố mà biết đi ngược chiều trở lại để mở dây ra.
Chú Đạt bật cười:
Thế thì chó nào cũng vậy thôi! Anh có biết câu: Chó ngao đạo Chích cắn vua Nghiêu không?
Tôi cam đoan là chó tây khôn.
Tôi cho rằng chó ta chẳng kém, mà về ân tình thì chó ta lâu bền hơn. Anh có nghe chuyện xưa kể về con chó bị ném xuống sông chưa? Nhà nghèo, không còn gì ăn nữa, người chủ đành buộc con chó vào tảng đá ném xuống sông để nó khỏi chết đói, tội nghiệp! Không may khi lẳng con chó với tảng đá, vô ý để chân quấn vào dây, người chủ cũng bị ngã xuống nước. Con chó thấy vậy liền tự giải thoát và bơi lại cứu chủ.
Ôi giời, thế thì là thậm ngu chứ!
Sao lại có thể gọi thế là thậm ngu. Đạo đức của dân tộc là lấy lòng tốt đáp trả lại kẻ ác tâm. Nhưng, người chủ ở đây không phải kẻ ác.
Nói gì thì nói, tôi vẫn cứ thậm ghét chó ta.
Tôi thì tôi lại quý con chó ta. Nó là con chó đẹp, con chó khôn, con chó hiền, con chó thảo. Con chó đã đi vào đời sống người mình. In dấu cả vào văn chương. Chó đâu có chó sủa không. Chẳng thằng ăn trộm cũng ông ăn mày. Trở thành ẩn dụ, biểu tượng của bao kinh nghiệm nhân sinh: Chó chê nhà giột ra nằm bụi tre. Chó quê đòi ăn mắm mực. Chó ngáp phải ruồi. Chó cậy gần nhà. Chó cùng cắn dậu. Chó già giữ xương. Hoặc: Làm người thì khó, làm chó thì dễ. Chó dại theo mùa, người dại quanh năm. Chó gặm xương chó!
Chà! Ông Mệnh cựa quậy, mở khuy áo ngực. Người ông phát hoả. Ông đỏ mặt tía tai. Ông hay nguỵ biện, nhưng ông lại không hề hay biết là ông bị chàng phóng viên trông xuềnh xoàng mà tinh quái dắt mũi vào cuộc tranh biện tưởng như là vào một trò chơi vô bổ mà hoá ra vô cùng ma quái! Thật thế, người phóng viên cứ thủng thẳng, nhẩn nha. Nhưng chính chú là người tạo nên kịch tính cho cuộc đối thoại và kéo dài nó ra với một dụng ý riêng hết sức kín đáo. Không phải để tìm kiếm chân lý mà là để đặt ra một bài toán thử, để dò la tính cách con người. Tôi nghĩ vậy. Có lẽ chú muốn xuyên qua cái lớp vỏ bọc bên ngoài của ông Mệnh, tìm thấy cái bản thể sâu xa bên trong của ông. Không ngờ một trò chơi tâm lý con người thường chơi ấy lại có ích. Cũng không ngờ cuộc tao ngộ này lại tạo điều kiện để sau này chú Đạt có được những cứ liệu để góp phần làm sáng tỏ vụ án của cha tôi. Và con người ông Mệnh.
Cuối cùng thì bản tính hiếu thắng và cay cú đã khiến mặt ông Mệnh đỏ gắt lên. Chuyện nọ sọ chuyện kia, ông đứng dậy chỉ mặt chú Đạt, sừng sộ:
Anh nói là con chó ta của anh có nhiều ưu điểm. Anh coi nó như bạn quý. Thế mà anh lại ăn thịt ông bạn quý của anh. Thật tôi không chịu nổi con chó ta và cách xử sự với con chó của người mình!
Lần này thì ông Mệnh đã dồn chú Đạt vào thế bí? Không! Tôi vẫn biết là nghề nhà báo giúp cho con người ta có trực giác rất tinh nhậy và phản xạ linh hoạt, đồng thời sự quảng giao cũng là một cơ sở để tăng cường vốn hiểu biết, nhưng tôi cũng không thể ngờ chú Đạt lại đáp trôi chảy và ung dung như thế. Thọc hai tay vào túi quần, chú đứng dậy, tươi cười, nhẹ như không:
Thế thì tôi cũng rất lấy làm lạ không hiểu vì sao người phương Tây rất quý con ngựa, nhưng người Pháp lại có câu nói: Ngon như miếng bít tết ngựa! Hà!
Họ là ba người, hai trai một gái, tuổi mười chín, đôi mươi.
Cọ trung du xoè lá mướt xanh là ô dù quê hương che mưa nắng suốt tuổi hoa niên học đường của họ.
Gió chiều hè lồng lộng thổi dọc những triền đồi sim hoang vắng và lá bạch đàn reo lăn tăn trong hoàng hôn, in lên gương mặt trắng hồng của vầng trăng lớn lặng lẽ nhô lên từ sau mái đồi là khung cảnh trữ tình hằng nuôi dưỡng tâm hồn thơ mộng của cả ba con người trai gái ấy.
Người con gái thuần thục nét dáng giới tính từ độ trăng tròn mười sáu tuổi, nhưng nhuần nhị và kín đáo như phong cách thiếu nữ con nhà gia giáo cổ xưa. Trên gương mặt trái xoan nhân hậu của nàng là cặp mắt mượt như nhung vô cùng đa cảm. Nàng nén khuôn ngực mình, nhưng không giấu nổi niềm rạo rực say mê. Vóc dáng nàng gợi cảm mà không thô, thanh cao, nhưng không phải nhạt nét thế phàm, thông tục. Nàng là một người con gái dịu hiền và nồng nàn. Nàng học giỏi nhất trong đám nữ sinh cùng trang lứa, và có thiên bẩm đặc biệt về nghệ thuật ứng xử và tài nữ công gia chánh. Nàng là con gái rượu duy nhất của một ông giáo dạy văn học cổ điển Việt Nam và Trung Hoa một người còn sót lại của nền học vấn cổ, nức tiếng về kiến văn và đạo đức, nhưng dưới sự quy chiếu của hệ tư tưởng mới đã bị khúc xạ làm cho sai lệch, nổi danh là một ông đồ gàn ngang bướng. Chẳng hạn, đã chủ trương phải uyên bác và thiện tâm mới hiểu được lẽ đời, luật đời, mới là người chỉ lối dẫn đường cho người khác được, vì vậy trong buổi lễ ra mắt của viên hiệu trưởng mới, khi thấy ông này nói ba câu thì một câu sai kiến thức, một câu không phân biệt được ý tứ của hai từ tri thức và trí thức, một câu nữa ngọng e nờ thành e lờ, liền ngồi xây lưng, quay đít lại diễn giả. Hai chàng trai, ngoài giờ học chính khoá, vẫn thường đến nhờ ông thầy này bổ túc thêm về văn chương và học vấn toàn diện. Cả hai đều là tinh hoa quái kiệt của đám học trò trung học trong vùng, tuy mỗi người một vẻ.
Người thứ nhất xuất thân từ nông thôn, trong một gia đình hàn nho đã hoàn toàn tàn lụi về kinh tế từ đầu thế kỷ này. Chàng chân thật, có thực tài, có tầm nhìn vượt qua cái hạn hẹp của thời gian, đồng thời vô cùng nồng nhiệt, nồng nhiệt đến cực đoan, đến mức sẵn sàng xả thân cho một tín điều, bởi nồng nhiệt từ tâm can. Chàng hoà hợp với người, nhưng không dễ để người khác uốn nắn. Bằng việc trồng hoa, chàng tự làm ra đồng tiền để ăn học từ năm đầu của cấp trung học.
Người thứ hai cùng đẹp người như chàng trai vừa kể. Cao ráo, cân đối, ngay ngắn. Nhưng chàng trắng trẻo và thanh nhã hơn tí chút. Chàng từ bỏ cha vì ông này lấy vợ lẽ là một nữ cán bộ cùng hoạt động tự lực kiếm sống theo đuổi nghề nghiệp, trau dồi học vấn bằng một nghề cao quý: kèm cặp học trò tiểu học. Chàng thông minh, học một biết hai, hay lý sự kiểu chẻ sợi tóc làm tư, vượt qua trình độ lý luận sơ giản một cách dễ dàng và hơi lạnh lùng trong tính toán. Người thứ nhất sống ngay thẳng và hồn nhiên. Toàn bộ sự học hành, làm lụng của chàng tựa như không có một động cơ tư lợi nào chi phối. Chàng là nguyên bản của một đời sống tự nhiên, mọi hành vi đều tự do, vì tựa như nó chỉ bị điều khiển bởi một tập quán có sức mạnh ẩn chứa trong thiên nhiên vậy. Chàng có vẻ như một hiệp sĩ đi trên đường lớn, không mảy may vì lợi riêng nên rất tâm đắc với điều thầy dạy, chủ trương một tâm hồn thanh thản, ở thế quân bình, vượt ra khỏi mọi trạng thái lo âu và mưu toan, để lập thân ích nước.
Vào năm cuộc cách mạng ruộng đất sôi động nông thôn trung du, cả hai chàng trai đều hăng hái tham gia công việc nghĩa cử nọ. Họ làm công tác tuyên truyền cổ động . Nhưng một hôm, khi cán bộ đội cải cách sai họ xẻ những bức hoành phi, câu đối ở đình nọ để đóng máng lợn và ghế ngồi, thì chỉ có người thứ hai là hăm hở thực hiện. Người thứ nhất bị kiểm điểm. Anh không sao tự phân tích được nguyên nhân của sự chần chừ, ngểnh ngảng.
Ông đồ gàn, ương bướng lâu nay đã là cái gai nhọn với số người có chức trách lớn, dịp này được bỏ chung một dọ với bọn địa chủ phong kiến, ác bá cường hào và bị miễn nhiệm chức trách ông thầy của nền giáo dục mới.
Một buổi, thấy tiếng người học trò thứ nhất gọi ngoài cửa, xin được tiếp tục theo học thầy, ông đồ gọi anh vào, hỏi: Con không sợ liên luỵ ư? Anh đáp: Con không nghĩ đến điều đó. Ông đồ cười: Cuối cùng bây giờ thầy mới thật hiểu hai câu thơ cổ này: Cực nhân gian chi phẩm giá, phong nguyệt tình hoài. Tối thế thượng chi phong lưu, giang hồ khí cốt(*). Ông đồ dẫn anh đến trước tấm gương lớn bảo anh soi hình, rồi hỏi: Cái gì trong gương đó? Anh đáp: Thưa, con. Ông đồ lắc đầu, bảo: Không phải, đó chỉ là một ngôi nhà trú ngụ hai con người, hai bản thể, một bản thể chính trực ngay thẳng, một bản thể ti tiện tầm thường. Vấn đề là phải giúp cho bản thể chính trực ngay thẳng chiếm ngự mình hoàn toàn.
Hai hôm sau lớp học có thêm người thứ hai. Anh trình thầy: Thưa thầy con không thể bỏ thầy, vì con kính mộ thầy.
Ông đồ không nói gì.
Tuy phân biệt rõ hai người, nhưng ông quý trọng cả hai. Ở bàn tay họ, đường trí đạo càng lúc càng đậm. Ông đoán, sau những rủi ro, cả hai đều thành đạt ở cuối đời, tất nhiên là nghĩa chữ thành đạt phải được hiểu một cách rộng. Tuy trong hai người có một kẻ bẩm sinh anh hùng, hành trình khởi thuỷ đã bước chân trên con đường lớn, nhưng cả hai lúc này đều xứng đáng để ông đồ trút lại toàn bộ vốn liếng học hành, hiểu biết của ông. Đúng giờ ngọ một buổi xem thọ tinh cho hai người, ông nói cả hai đều sống ngoài tám mươi. Ông dạy họ cả chút ít nghề y dân tộc. Ông chuyền cho họ cả những bài võ mà ông đã tập. Cùng với nền tảng triết học phương Đông uyên thâm, ông trau dồi cho họ bài học triết lý nhân sinh thông thường. Hình như nhìn rõ quan hệ của họ trong tương lai, ông luôn nhắc nhở cả hai người rằng: Hoạ không gì lớn hơn không tự cho là đủ; tội không gì lớn bằng theo điều ham muốn.
Cả hai đều đã thể hiện đúng gương mặt thế hệ trẻ thời đại. Với số điểm rất cao họ trúng tuyển vào trường đại học bách khoa lớn nhất nước và vào năm thứ tư đại học, trước yêu cầu khẩn thiết của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, cả hai đã nhập ngũ ra tiền tuyến. Hai người tách khỏi nhau khi đột ngột, trước một chiến dịch lớn, người thứ hai được gọi về hậu phương, ra nước ngoài học tập.
Câu chuyện chẳng có gì đáng kể cả, nếu không có việc cả hai cùng yêu người con gái tuyệt sắc của thầy và thiếu nữ giai nhân nọ xem ra cũng mến mộ cả hai.
Ở địa hạt tình yêu tuyệt duyệt này, cả hai đều được thanh lọc, trong sáng đến tuyệt vời. Hai người có một hợp đồng ngầm: dàn hàng ngang, không theo cách đi trên đường mòn trong rừng, nghĩa là không ai đòi trội hơn người kia. Độ sâu sắc với tình yêu cả hai đều không thua kém nhau. Cả hai đều rất xứng đáng với người con gái họ yêu thương. Tuy nhiên, người thứ hai phong vẻ văn nhã hơn người thứ nhất: Em có hiểu không? Em có thể biến anh thành nhà thơ, đồng thời có thể biến anh thành quỷ dữ. Đó là một câu nói văn vẻ chàng hay nói với thiếu nữ nọ.
Biết tình thế ấy, đã có lúc có mặt cả ba người, ông đồ cười nói xa xôi: Các con có biết câu này của cổ nhân không: Nam đại bất hạnh nhi phú. Nữ đại bất hạnh nhi sắc. Giàu có và nhan sắc là phải biết kìm chế!
Tiếc thay, ở địa hạt này không có giáo huấn, không có kinh nghiệm. Đó là năm thứ ba đại học; trong khi người thứ nhất lặn lội trong khu rừng kiến thức như một hiệp sĩ có bản tính vô tư bắt đầu tỏ ra ương ngạnh trước các chân lý thông thường, thì người thứ hai giành toàn bộ tinh lực chạy trăm mét cuối cùng để dành vương miện tình yêu của người con gái nọ, nhưng tiếc thay, mọi nỗ lực ý chí của chàng đều không dẫn tới diều mong muốn.
Cuối cùng người thứ hai gọi người thứ nhất ra ngoài căn buồng ký tức xá, đấm mạnh vào vai bạn, nhức nhối nhưng hết sức rõ rành:
Mày đã thắng! Tao chúc mừng mày! Nhưng tao giao hẹn với mày một điều. Nếu mày để Trang đau khổ, về vật chất và tinh thần, dù chỉ là một ngày, thì tao sẽ giết mày! Ngoài ra, tao cảnh cáo mày: thời đại hiệp sĩ rởm đã qua rồi, liệu hồn đấy, không là mang vạ cho người khác!
Không để ý đến nét lạnh lùng và độc ác hiện lên ở phần hàm bành ra khi người nọ nghiến răng, người thứ nhất ôm chầm lấy bạn, nghẹn ngào cảm ơn bạn.
Bây giờ, sau bao nhiêu năm xa cách, người thứ hai vẫn dào dạt thương nhớ mối tình đầu, tìm đến để thực hiện lời giao hẹn nọ chăng?
Tôi nhận ra, đang bước những bước hấp tấp, mẹ tôi bỗng sững lại, khi thoáng nhận ra ông Mệnh. Cùng với sự lúng túng vì bất ngờ, trên mặt mẹ tôi còn có cái nhíu mày nao lòng và nỗi nghi ngại vừa chợt bừng dậy.
Tôi vội đỡ làn rau từ trên tay mẹ tôi, đi vào bếp.
Trang mới đi chợ về à? Sao bảo đi thăm người nào đó. Có anh phóng viên của tờ Người Lao Động đến chờ lâu quá, bỏ về rồi. Hừ, cái anh chàng nhăng cuội.
Ông Mệnh chỉ đứng lên có một lát rồi ngồi xuống ngay. Ông cũng bị bối rối và không làm chủ được cảm xúc vì gặp lại người xưa với những kỷ niệm dồn dập ào về.
Có nhận ra anh không? Thế là đã.
Ông giải toả cảm xúc bằng những ngón tay gõ không có nhịp điệu trên tay ghế. Ngồi đối diện với ông, mỏng mảnh một chiếc sơ mi hoa tím, mẹ tôi khoanh tay đè ép khuông ngực đầy, lập bập:
Lâu quá rồi. Lâu quá rồi.
Mắt nhìn thẳng, lặng đi một giây để thu nhận lại toàn bộ hình và hương vị của người phụ nữ một thời mình đã từng mê đắm, ông Mệnh nghiêng đầu, môi thoát ra một âm điệu buồn buồn và bâng khuâng:
Ừ, lâu quá rồi. Hơn hai mươi nhăm năm. Anh đã già đi, tóc đã có sợi rụng, răng đã có chiếc long. Chỉ có một vùng kỷ niệm là còn xanh tươi. Có phải thế không? Còn nhớ chiếc áo Trang mặc hôm tiễn anh lên tàu ra mặt trận? Cũng một màu tím sáng tươi như màu hoa sim trên đồi trung du. Còn nhớ.
Mặt người phụ nữ ửng dần. Thể chất con người còn những yếu tố chống chọi với thời gian, ngoại cảnh. Mẹ tôi lại là một phụ nữ trẻ lâu. Tuy thế, trong những ngày tháng bất bình thường vừa qua, vóc dáng mẹ tôi đã sa sút, hao gầy đi rất nhiều rồi. Giờ đây, dưới tác động của thứ ngôn ngữ giàu âm điệu và nhiều hình tượng, mẹ tôi như được tiếp nhận một phép màu thiêng liêng. Đẹp và đa cảm, chỉ mấy phút la đà với kỷ niệm xa xưa, như nhấp vào chén rượu nồng say, bao nhiêu xúc động và sắc nhuỵ thời con gái tưởng đã phôi pha, lại thức dậy xôn xao trên gương mặt, ánh mắt và làn môi của bà. Nhưng, có lẽ đó chỉ là một thoáng siêu thoát, ảo mộng giữa trần gian còn bộn bề lo toan thôi. Mẹ tôi tỉnh lại ngay. Đứng dậy, giọng bà chênh vênh như mới thức giấc:
Thôi chết, muộn rồi. Để mẹ con em làm cơm. mời anh. Kìa, chú lái xe của anh đâu rồi.
À, à. Anh tự lái xe lấy. À, khỏi phải chuẩn bị gì. Có đủ hết ngoài xe rồi. Để anh ra lấy vào.
Đó là một bữa ăn bất ngờ và thịnh soạn.
Chật ních mặt bàn là bọc giấy và lá sen, lá chuối. Cả một con gà luộc vàng ngà. Nửa con vịt quay đỏ bầm. Mấy xâu chả nướng. Nửa cân giò lụa. Dưa giá. Kiệu muối. Sáu bảy quả cà chua sống. Một cái bánh mì gối cùng một lạng bơ. Đem vào cuối cùng là két bia Heineken còn nguyên đai.
Mẹ tôi ra vào, mặt sần sượng. Bà có mặc cảm về sự nghèo nàn và bị coi thường. Nhưng, bật mở nắp bia, đặt từng hộp xuống trước mặt tôi và mẹ tôi, ông Mệnh đã biết khoả lấp ngay trạng thái tâm lý đó của mẹ tôi:
Anh vào công tác ở phía Nam, thoạt đầu còn nghèo khổ hơn em hiện thời nhiều. Thì tiếng là đi học ở nước ngoài về, nhưng có quái gì đâu, ngoài cái xe đạp Spútnhích và cái quạt tai voi. Đi công tác thường xuyên với các đồng chí lãnh đạo, ra nước ngoài không ít, quà biếu không ít, nhưng cũng chỉ là của phù vân. Quan trọng là thu nhập từ chất xám của mình cơ. Ở đây, không có chuyện khôn dại. Vấn đề là biết, tức lý trí. Chứ không phải là tự nhiên nhi nhiên đâu.
Câu chuyện bắt đầu về đề tài làm ăn. Tiếp đó, tất nhiên là những vấn đề nhân sinh, sự thức thời, thuyết trung dung. Quẩn quanh thế nào đó ông đã khéo léo hé lộ cho mẹ tôi biết ông hiện thời không phải là một kẻ nghèo kiết xác và tôn thờ chủ nghĩa khổ hạnh.
Những cảm xúc có phần thánh thiện, thiêng liêng thoạt khởi thủy đã tan loãng. Có thể là do khối vật thể gồm những miếng ăn miếng uống ú ụ ở trên bàn tạo ra một trường phàm tục, thô thiển, cũng có thể là ông Mệnh nói về của cả, giàu sang hơi nhiều. Nhưng, rất may, Bi đã giúp ông chuyển mạch.
Tất nhiên là anh phải nuôi chó béc giê, nhưng con chó của anh không hư như con Bi của em đâu.
Ông nói và thuận tay quẳng một dẻ xương vịt vào gầm phản cho con chó nhà tôi. Tôi hơi bực. Nhưng cúi xuống nhìn, tôi nhận ra, Bi vẫn nằm im, không nhúc nhích, không thèm để ý tới miếng xương quăng.
Bữa ăn thật bất ngờ. Nhưng tôi và mẹ tôi còn bị bất ngờ hơn khi ông Mệnh cho biết ông ra đây họp Hội đồng nhà nước năm hôm thì năm hôm ông sẽ ăn ở nhà tôi.
Chú sẽ chi toàn bộ. Còn thực đơn do mẹ cháu và cháu chọn.
Ông Mệnh tuyên bố. Mẹ tôi ngần ngại:
Thôi thế này, bữa trưa, bác nghỉ lại ở cơ quan, không nói làm gì, bữa chiều, bác về đây, mẹ con em chiêu đãi bác đặc sản miền Bắc.
Ông Mệnh ngả người:
Đặc sản miền Bắc của em là những món gì nào?
Lươn, ốc, tôm, cá.
Em có tôm càng xanh năm đôla một con không? Loại ấy anh ăn chán ở các Restaurant bên Nhật rồi nhé.
Canh cua rau rút, đậu phụ luộc và cà pháo.
Ông Mệnh bật cười nhè nhẹ và giơ hai tay lên trời:
Xin hàng! Xin hàng! Đậu phụ luộc! Trừ món ấy. Anh nhớ ra rồi: ông ngoại không bao giờ ăn món rán, rim, chỉ ăn luộc. Còn cua, anh bị dị ứng. Còn nhớ hôm anh ở từ chiến trường ra, em chiêu đãi anh cua bể. Anh nổi mẩn khắp người, cả đầu. Lúc ấy anh đang đọc thơ của Jacque Prévert: Je suis la lampe. Tu es lumière.(*)
Lại chập chờn giữa thực tại thế tục và kỷ niệm mờ mờ một màn sương lãng mạn. Ông Mệnh đọc thơ Prévert Anh là cây đèn, em là ánh sáng. Ai đem bán mất tim đèn!. Tiếp đó, ông đọc Nhớ của Nguyễn Đình Thi, Đôi mắt người Sơn Tây của Quang Dũng, Màu tím hoa sim của Hữu Loan, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm. Ông dựng lại khung cảnh một thời đã qua. Ông nhắc lại tên những người thầy đã dạy ông và mẹ tôi, những bạn bè một thuở, với những hỗn danh, đặc tính và những thói tật xấu rất đáng chê cười: Ông giáo dạy vật lý ham săn bắn đến mức tiết dạy nào cũng phải lạc đề năm, mười phút vào cái thú vui này: Các trò không thể tưởng tượng được đâu. Một con chim rơi. Cái chết buông mình từ trên cao xuống, đầy màu sắc. Ông vừa chết trong độc một màu ảm đạm nghèo nànCòn thầy dạy hình học mơ giật giải Noben, giờ là một phó mộc chuyên đóng tủ chè. Cậu B, cậu L, cậu Kh, cậu X. ông Mệnh vanh vách, toàn những mộng ước một thời, giờ kẻ thì trốn chạy biệt tăm vì vỡ hụi, kẻ thì bế tắc đến mức phát bệnh tâm thần. Thầy dạy và bạn học của ông, giờ chỉ là một lũ một lĩ những kẻ nghèo đói, bệnh tật, ươn hèn, hư đốn, luôn luôn tìm đến nhờ cạy, gây phiền cho ông và ông rất khinh thường họ, tuy vẫn giơ tay cứu giúp họ.
Ký ức con người ta thật lạ. Giữa những xô bồ, trần tục vô cùng buồn nản là một miền hoan lạc tràn đầy mơ mộng, ông vẫn có ý thức giành riêng cho mẹ tôi. Ông nhớ hết từng đặc điểm về dáng nét, gương mặt, sở nguyện, tài trí của mẹ tôi. Ông nhớ từng màu áo, kiểu áo mẹ tôi mặc. Ông nhớ từng tình huống riêng biệt và trí nhớ tài tình của ông khiến mẹ tôi nhiều lúc phải bồi hồi.
Hồi ấy tâm hồn em đẹp lắm. Còn nhớ, một bữa ăn có nước mắm cà cuống. Ông ngoại hỏi: Mỗi người cho một ý kiến về món đặc sản này đi. Anh xin chịu. Thuần nói: Nhỏ vài giọt cà cuống vào mắm tôm, cả hai dậy mùi lên, ngon đặc biệt. Em nói: Con không thể vượt được Thạch Lam, con chỉ xin nhắc lại lời ông đã miêu tả: Mùi cà cuống thoảng như một nét nghi ngờ. Mọi người sững sờ cả người, vì mến phục em. Trang à! Tâm hồn đẹp tinh tế ấy giờ vẫn còn trinh vẹn chứ em?
Đêm ấy, bữa ăn kéo dài.
Học bài xong, tôi đi ngủ, ông Mệnh vẫn còn ngồi rì rầm với mẹ tôi bên đống vỏ bia lổng chổng trên bàn. Tôi nhận ra trong mờ ảo, tấm màn che ngăn cách tôi với hai người lớn đã buông tự bao giờ.
Ông Mệnh ăn ít, uống nhiều. Đó là phong cách ẩm thực của kẻ quen được khoản đãi, tiệc tùng. Ông cũng giống một thầy giáo đã có thâm niên nghề nghiệp, giảng từ tiết đầu tới tiết cuối, giọng chẳng khàn rồ, tuy vẫn lên bổng xuống trầm theo từng văn cảnh.
Câu chuyện nối tiếp từ đầu bữa giờ đây đã tới khúc cao trào, sau khi mẹ tôi đã nhiều lần cố tình lần lữa.
Thở dài não nuột, mẹ tôi nhả từng tiếng trầm buồn:
Thật tình có những lúc em không hiểu tại sao lại có thể vô lý như thế được. Cuối cùng, em chỉ còn cách là dựa vào lá số tử vi của em.
Sửng sốt kêu trời một tiếng khẽ, ông Mệnh nhún vai và nhăn trán:
Em tin vào điều nhảm nhí đấy ư?
Em tuổi thân, âm nữ, mệnh thuỷ.
Ông Mệnh lắc đầu:
Một trong những đặc điểm của con người hiện đại là: Không có vấn đề vận mệnh.
Nhưng!
Không có nhưng gì hết. Nghe anh nói đây. Anh rất buồn. Sau bao nhiêu năm gặp lại em, mừng bao nhiêu vì thấy em vẫn xinh đẹp, mặn mà thì đau buồn bấy nhiêu vì thấy em phải sống trong một hoàn cảnh có thể nói là khủng khiếp. Nghèo nàn, thiếu thốn, không niềm vui, trong cô đơn. Khủng khiếp! Không còn từ nào khác đâu! Vậy mà em chịu được!
Em đã tập để quen với hoàn cảnh.
Sao lại có thể quen với thứ chết tiệt ấy được. Như thế là vô trách nhiệm với chính mình, là thụ động!
Ông Mệnh đứng phắt dậy, gay gắt, gót giày ông xiết trên nền nhà. Con Bi chợt nhỏm dậy, rũ mình dưới gầm phản tôi nằm. Ông Mệnh đã chuyển sang chiếc ghế cạnh mẹ tôi ngồi.
Để em dọn mâm rếch đi.
Khoan đã, Trang. Anh muốn.
Đừng, anh ạ.
Anh thề là sẽ không xúc phạm đến lòng tự trọng của em, không làm hoen mờ vẻ trinh trắng của tâm hồn em. Anh nhớ ngày ở chiến trường Khu Tư ra Bắc họp, ghé lại thăm em. Cũng một đêm đầu hạ ngọn gió nồm thổi ấm áp như đêm nay. Em mới sinh cháu Cần. Và em đã khóc, khi anh kể rằng, bọn anh một ngày bắn trả máy bay Mỹ nhiều bằng cả tháng ở ngoài này. Anh kể, trong ống kính đo xa, anh nhìn thấy mày bay giặc gớm guốc như con quái vật tiền sử lao thẳng vào mình. Em nói: Anh chịu nhiều gian khổ hơn em tưởng. Không bao giờ em quên điều đó!. Không, nỗi khổ đau của anh khởi sự từ một nguyên uỷ khác kia. Em có hiểu không? Ngày em làm lễ thành hôn với Thuần, anh thắp hương và treo băng tang. Sáu năm học ở nước người, sáu lần như thế. Từ lúc nào nhỉ, anh thấy đời anh không thể thiếu em? Ngày mẹ anh mất, một tối em đến, lặng lẽ thắp hương nước mắt lưng tròng nhìn anh, khe khẽ nói: Đừng buồn, anh Mệnh. Lúc ấy, anh muốn gào lên thống thiết: Trang ơi, em là người duy nhất chia xẻ niềm vui, nỗi khổ với anh trên đường đời vạn dặm. Buổi sáng anh lên tàu đi nước ngoài học tập, trời mưa tầm tã. Em đội mưa, ướt đầm mái tóc, hớt hải từ cửa ga chạy vào. Tàu chạy, em đuổi theo. Lúc ấy anh chỉ muốn nhảy ra khỏi tàu. Ừ, nếu như lúc ấy em chỉ có một mình, không có.
Ngừng một lát, ông Mệnh lại tiếp:
Bây giờ anh cứ nghĩ, sẽ gặp lại em trong một khung cảnh khác kia. Khi sao phong gấm rủ là. Giờ sao tan tác như hoa giữa dòng. Không thể thế được! Tài năng, nhan sắc em, tâm hồn em, là vưu vật của tạo hoá. Đó, nếu chủ trương đề cao quy luật tự nhiên thì đó chính là quy luật.
Vụt ngẩng lên, quay lại, ông đặt nhẹ hai tay lên đôi vai nhỏ của mẹ tôi, giọng hạ xuống một cung bậc và ngân lên hết sức thiết tha:
Trang ơi, đừng quay mặt đi, em. Nghe anh nói đây, ai là kẻ gây ra thảm cảnh này cho em? Không phải là do em. Mà là.
Mẹ tôi nhè nhẹ nhấc hai tay ông Mệnh, khe khẽ ngắt lời ông:
Tự em.
Không phải! Em tự dối mình!
Ông Mệnh giãy nảy. Mẹ tôi chớp chớp mắt:
Đúng là tại em!
Nếu thế thì là lỗi từ lịch sử. Tức là thời đại bị biến dị, thể hiện ở sự lựa chọn.
Không, không phải thế!
Áp sát mẹ tôi, ông Mệnh đang đóng vai kẻ đuổi bắt. Giọng ông dồn nén bực bội:
Trang, em phải có can đảm nhìn thằng vào sự thật. Phải gọi đúng tên sự vật. Lỗi tại Thuần! Tại Thuần tất! Vì Thuần mà em và cả thằng Cần nữa, mang tai hoạ.
Sống với anh Thuần lâu, em hiểu anh ấy.
Cậu ấy về căn bản là một người hoang tưởng, một hiệp sĩ lầm thời. Một kẻ kiêu ngạo mà không thấy lố bịch, nhẹ hơn thì có thể nói, đó là một bản năng. Một bản năng tự nhiên, chẳng ra xấu chẳng ra tốt, nhưng dễ gây nguy hiểm vì mù quáng. Anh đã có lời cảnh cáo Thuần rồi, nhưng cậu ta, vẫn chứng nào tật nấy. Khi còn là sinh viên, cậu ta cứ ít hôm lại nảy ra một phát minh, vì tưởng mình là thiên tài. Nào là, làm gì có quy luật mâu thuẫn trong toán học, vì có phải hễ chỗ nào có vi phân là nơi ấy xuất hiện tích phân đâu. Nào là lịch sử là một dòng chảy liên tục, không có nhảy vọt. Nghĩa là động chạm tới những chân lý đã được chế định rồi. Trang! Em không thể sống với một bản năng được. Em là sự thuỳ mị, đoan trang, là văn hóa, tức là đã được văn minh trau chuốt. Hôm từ chiến trường ra để đi học ở nước người. anh đã nói xa gần với em ý đó. Lúc đó có một tin vì hư thực chưa tỏ, anh không muốn nói với em. Thuần bị địch bắt. Bị bắt, sau khi chơi trò yêng hùng rơm. Một chiếc máy bay trực thăng quạt tung mái gianh nhà cậu ta ẩn náu. Lẽ ra cậu ta cứ nằm im thì có khi thoát chết. Đằng này cậu ta lại nhảy ra và giơ một nắm kíp mìn lên, doạ chúng.
Đứng lên, chân chuyển dịch tới cạnh cái bàn nước, như một kẻ bị giam hãm, bí bức, không có cơ hội giải toả, ông vừa xả từng câu, vừa chém mạnh tay vào không khí. Cuối cùng ông dừng tay lại trước mặt mẹ tôi, cao giọng và rành mạch.
Trang, em không thể sống mu muội được! Đừng giận anh. Anh đã làm việc với các đồng chí có trách nhiệm. Thôi, hãy cho qua tất cả những sai lầm về tư cách, như thói kiêu ngạo, tuỳ tiện, cực đoan. Chỉ nói về trách nhiệm kinh tế chính trị của một kẻ đứng đầu một xí nghiệp thôi. Xì! Vay tiền tư nhân, tự tiện định ra chế độ lãi xuất cao hơn cả ngân hàng Nhà nước. Toạ chi. Lập quỹ đen. Quan hệ với người nước ngoài. Và để mất một con tàu. Anh nhắc lại, để mất một con tàu. Hừ, anh có thể dành cả một buổi, một ngày để kể lại chi tiết và hệ thống hoá lại toàn bộ câu chuyện với em. Không đơn giản đâu, bởi vì đã nhiều lần người ta nhắc nhở cậu ấy rồi.
Thì ra ông Mệnh đã biết hết, biết kỹ lưỡng bố tôi, từ thuở thiếu thời và từng bước đi, mỗi tiết đoạn tiểu sử, các sự kiện nổi bật và những tình cảm, tính cách chủ yếu! Chẳng những thế, ông lại như một kẻ chủ động, đứng cao hơn sự phát triển của câu chuyện và nắm được cả những tình tiết khuất nẻo mù mờ.
Thấy mẹ tôi chống tay đứng dậy run rẩy và nhìn ông bằng hai con mắt sợ hãi, ông bước lên một bước nhỏ, hạ giọng:
Thằng Cần nông nổi, tội của nó, gỡ dễ thôi. Tuy rằng, em nên nhớ, trong nhà tù, cậu cả lây máu bố, nghĩa là cũng anh chị lắm! Nhưng, vì Trang anh sẵn sàng đặt cả danh dự lên bàn cân, để bảo lĩnh cho nó về. Còn Thuần, em hiểu chứ? Một bài toán không giải được vì chính nó mập mờ các dữ kiện.
Mẹ tôi đưa hai tay bưng mặt. Dường như bà sợ ánh sáng chói gắt của sự thật. Bà sợ nhìn mắt người đàn ông đã một thời quen thân và không ít cảm mến. Giờ đây, con người này đã chia đôi, một nửa thuộc về những kỷ niệm êm đềm, còn nửa kia toả ra một sức ép của bạo lực vừa có tính chất quyền uy vừa có mùi vị thần quyền. Vừa sợ hãi vừa bị mê hoặc, người phụ nữ đa sầu, đa cảm phút chốc chỉ còn là một thân xác bé bỏng và yếu đuối, chỉ có thể không ngã rụi, nhờ đôi vai vững chắc của người đàn ông nọ thôi.
Dịu dàng vuốt tóc người phụ nữ gần như đã bị thuần phục, người đàn ông không giấu nổi bồn chồn, rạo rực:
Thời gian đi theo một tuyến thẳng, một đi không trở lại. Nhưng, Trang yêu dấu, với chúng ta, không có quy luật ấy. Chúng ta giang tay đón nhận những ngày xưa đã cất cánh bay đi trở về. Kỳ diệu quá, cuộc đời này! Trang, anh xin quỳ dưới chân em, nàng tiên lộng lẫy, giấc mơ xuân, mối tình đầu và mộng ước cả đời anh.
Trời!
Trang, nghe anh nói hết đã. Anh cần gì ở em? Tiền tài ư? Không! Danh vị ư? Không! Tình dục ư? Không! Anh chỉ cần tình yêu của em thôi. Một tình yêu không hoen mờ vì bất cứ khung cảnh nào, một tình yêu thuần khiết triệt để. Cũng cần nói thêm khi đã ở tuổi chúng ta, để khỏi trở nên viển vông kiểu hiệp sĩ, anh không nghèo để tình yêu trở thành hành khất. Nhưng anh không quá giàu để tình yêu tha hoá trong tiền bạc. Đúng như ông đã nói đấy: Nam đại bất hạnh nhi phú, em à.
Đột ngột dừng lời, người đàn ông vòng hai cánh tay ôm riết eo hông người đàn bà, vì nhận ra có một cơn trồi sụt vừa xuất hiện ở bà.
Nghe anh nói, Trang Ông Mệnh hổn hển. Anh không tranh cướp gì của Thuần. Anh thực hiện lời giao hẹn! Tuy nhiên, anh không hại cậu ta, anh chỉ đền bù những thiệt thòi mà em đáng lẽ không phải chịu. Nếu thích nói đến lẽ tự nhiên thì đó chính là lẽ tự nhiên Ai đem bán mất tim đèn? Thuần, chính là Thuần! Đó là sự trả giá công bằng. Một điều quan trọng nữa, nghe anh nói, Trang. Thuần, với bản tính cố chấp, sẽ tiếp tục đóng trọn vai hiệp sĩ. Cậu ấy không bao giờ đến trước em với khuôn mặt nhem nhuốc của mình. Ra tù Thuần sẽ không bao giờ về với em đâu. Nhưng, em đã có anh ở bên.
Đây quả, đây hoa, đây cành và đây lá
Và anh đây tim anh chỉ đập vì em
Để với em gương mặt tuyệt trần, anh cầu khẩn êm đềm(*)
Trang em đã biến anh thành nhà thơ rồi đấy!
Khi viết những dòng này tôi đã ở cách tuổi thiếu niên hơn chục năm rồi. Giờ đây, tôi ở trong sự cân bằng thanh tĩnh, tôi đứng cao hơn địa vị một người con. Tôi biết ông Mệnh không phải là một tên bẻm mép, chuyên lừa bịp và lợi dụng đàn bà yếu đuối và nhẹ dạ. Ông yêu mẹ tôi thật tình. Hình bóng mẹ tôi in sâu trong tâm khảm ông. Kỷ niệm giữa hai người là dồi dào và có sức níu kéo ông. Còn mẹ tôi, vả chăng, ít nhất là đã có thời mẹ tôi không vô tình với tình yêu của ông. Đã có những rung động chân thành. Trái tim thanh nữ hẳn không phải đã ít lần thổn thức trước một ánh mắt yêu dấu, một cử chỉ thân ái, một dấu hiệu sùng mộ. Những tình cảm thuở thiếu thời thường không dễ phai lạt! Chúng sống lâu, càng lúc càng trở nên thuần khiết. Sau những năm tháng cô đơn trong buồn nản, nhu cầu được vỗ về, được an ủi là của bất cứ ai. Con người luôn mong muốn được sống trong an ninh và bác ái. Huống hồ, lại là người đàn bà giàu tình cảm như mẹ tôi. Rơi vào trạng thái ngây ngất vừa là hệ quả của niềm tin cậy thánh thiện lẫn sự mê hoặc do nhấp vào chất men say của lời tỏ tình nhiệt thành. Mẹ tôi thật sự mềm lòng trước tình cảm của ông Mệnh lúc đó.
Tuy nhiên đã xảy ra một đảo lộn khiến kết cục câu chuyện lại trở về đúng vạch xuất phát của nó. Vì nguyên nhân gì, đến nay tôi cũng chưa thật rõ. Một sự quá trớn? Một thái độ nôn nóng? Một cử chỉ sàm sỡ, lỗ mãng và một sự bừng sáng, thoát khỏi phút hôn mê và vòng lưới cám dỗ? Có thể là vì tất cả!
Thoạt đầu tôi nghe thấy những tiếng rên rỉ của mẹ tôi.
Tiếng đó là tiễng quẫy động, rồi những lời van vỉ khẩn thiết của bà:
Anh Mệnh! Đừng! Hãy để em kính trọng và nhờ cậy anh! Anh Mệnh! Anh Mệnh, em tin là anh Thuần không xấu thế đâu!
Cùng với tiếng kêu, tiếng tay giằng, hơi thở dồn là tiếng bước chân mẹ tôi chạy vào phía buồng trong.
Kỳ lạ, chính lúc đó, Bi ra khỏi khoảng tối gầm phản, kéo sợi xích căng vút và giống như hôm nào, xồ tới con Xồm, nó bỗng phát ra những tiếng gầm rất dữ tợn.
ối giời! Ông Mệnh bật thét, giật lui, trên tư thế lò cò, hai tay ôm cái chân phải gập thước thợ.
Mẹ tôi lập tức dừng cuộc tháo chạy, quay ngược trở ra. Mặt nhợt như mất máu, bà lập cập như chính mình là tội phạm. Kéo ống quần lên, nhìn rõ bốn nốt răng chó sâu hoắm đang phòi máu đỏ ở bắp chân mình, ông Mệnh nghiến chặt răng, bạnh quai hàm:
Đồ chó khốn nạn! Bao lâu rồi mà mày vẫn chưa chịu quen tao, hả! Đồ chó chết!