Chó Bi Đời Lưu Lạc

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11

❊ ❊ ❊

Con chó lim dim hai con mắt. Động cơ xe nổ đều đều. Sau cuộc ân ái, con chó vừa mệt mỏi, vừa khoan khoái dễ chịu. Nó chập chờn, không ngủ được.

Thùng xe lưng lửng các bì gạo năm chục cân xếp dốc vào phía trong. Người đàn ông chủ con chó nằm ở phía trong ấy, từ lúc nửa đêm, khi xe khởi hành. Anh tưởng rằng lên xe sẽ ngủ được ngay. Ngủ để quên đi cái bồi hồi đau đớn ở khúc ngoặt này trong đời. Nhưng, hoá ra anh cũng chập chờn. Hình ảnh hai con vật giao hoan, thực hiện việc truyền di nòi giống cứ lảng vảng trong vùng ký ức hình tượng của anh. Lạ là nó không gợi một cảm xúc tăm tối, bẩn tưởi nào. Trái lại, lòng anh nao dậy một niềm thương, nỗi nhớ vô hình nhưng trong sạch và buồn thăm thẳm!

Anh hé mắt nhìn con chó Có nhớ nó không? Anh muốn hỏi nó. Lần đầu tiên anh thấy thương nó, muốn an ủi nó. Nó, thế là từ đây cũng như anh, từ bỏ một đời sống tự nhiên, yên hoà, dấn mình vào một cuộc đời sống hoàn toàn vô định, trái với lẽ thông thường. Lẽ thông thường là cái đời sống được ổn định, được ấm no, học hành và yêu thương. Lẽ thông thường là vật và người ở đúng chỗ của mình. Các chức phận được thực hiện, không bị một lực cản. Con người sống giữa tự nhiên và nhân quần, không bao giờ phải lo âu và chạy trốn.

Trời đang sang phần hôm sau. Nhưng càng lên ngược, sương càng dầy. Đã có nhiều khúc gấp và dốc mỗi lúc một cao. Xe gầm từng đợt dài nặng nhọc. Dầu điêden bị đốt cháy khét lẹt quẩn vào thùng xe mịt mù.

Buồn biết bao cuộc trốn chạy này của anh! Buồn đau biết bao những ngày sống của anh! Nằm trong xó thùng xe cùng con chó, anh đang lảnh ra một góc cuộc sống để nghĩ về mình. Để ngắm cái chân dung mình. Hóa ra cuộc sống là một dòng chảy liên tục và con người thì như một kẻ vô tâm và hèn đớn. Chẳng hề có một chút năng lực nào cưỡng lại được. Hóa ra anh cũng chẳng phải là một con người hiền lương, có hiểu biết sâu xa và biết hiệu chỉnh mình để luôn ở thế cân bằng, điềm tĩnh và tự tin như cha anh. Anh thực sự là một thằng khùng và liên tục đánh mất mình. Anh nổi sung với mấy người công an. Anh đánh nhau với thằng Xuân Chương. Anh trả thù ông trung uý và ở trong tù, anh sống với bọn đầu gấu, chịu sự hạ nhục của chúng, đối chọi với chúng, như một kẻ cùng bầy đàn. Anh tàn bạo, anh ba que xỏ lá, anh du côn có hạng. Với mẹ anh, anh là đứa con khốn nạn, vô lương không thể tha thứ được. Và sau cùng, anh hiện nguyên hình là một thằng hèn mạt, đánh cắp con chó để chạy trốn khỏi đòn thù.

Tóm lại là bắt đầu từ một cơn khùng. Người xưa nói: gieo hành động được thói quen; gieo thói quen, gặt tính cách, gieo tính cách, nhận số phận. Số phận anh là chui rúc trong cái thùng xe đầy gạo này để chạy trốn đây. Khốn nạn thế!

Những ý nghĩ buồn nản về bản thân mình khiến anh mệt mỏi rã rời. Lát sau, trong lơ mơ, anh thấy phía sau xe vừa leo lên hai bóng người. Anh nghe tiếng họ như qua ống nghe của máy điện thoại. Tất cả đều xa lắc. Nhưng anh nhận ra đó là tiếng của một người đàn ông và một phụ nữ trẻ. Tiếng người đàn ông có một tần số rất quen. Chính gã toả ra mùi thuốc lá có tẩm á phiện. Và anh đã bị hơi thuốc nọ đưa vào cơn mê. Trong mê ảo, anh nghe thấy người đàn ông rít và tiếng người phụ nữ trẻ kêu la. Tiếng rẫy rụa. Tiếng đấm đá. Và sau cùng, anh thiếp đi trong tiếng khóc tấm tức của người phụ nữ nọ.

Bây giờ thì chiếc xe đã đậu lại. Trời sáng bạch. Quanh xe inh ỏi tiếng rao của các hàng quà. Thái và chú em lái xe chắc là đã xuống xe. Mở mắt, nhìn ra phía sau thùng xe, anh nhận ra khuôn hình bán thân một phụ nữ trẻ. Chị đang đưa tay cào mái tóc rối, vẻ uể oải, mệt nhọc. Gã đàn ông đi cùng hình như đã xuống xe để ăn sáng. Chắc là vậy. Vì ở trên một bì gạo anh nhìn thấy một đôi dép Thái Lan màu gan gà, ngoại cỡ.

Ối giời!

Người phụ nữ bới tóc xong, bật hàng khuy ngực, định thay áo, chợt giật thột, co người lại; thấy anh và con chó lục đục ở sâu trong thùng xe, chị vội khép hai tà áo, che ngực. Đó là một thiếu phụ trạc hăm nhăm tuổi. Tầm thước, chị có gương mặt trái xoan nhẹ nhõm, với đôi mắt hai mí buồn buồn ở đuôi mắt trái có một nốt ruồi nhỏ.

Ý tứ, anh để tay ấn đầu con chó xuống và quay mặt vào thùng xe. Lát sau, đợi người phụ nữ thay áo xong, anh mới ngồi dậy, quay ra. Chiếc áo lụa màu vàng ngà cắt may lấy, rất khít với những lằn cong mềm mại trên thân hình thiếu phụ.

Chào chị! Chị cũng ngược à?

Anh dịch lui ra phía ngoài, cất tiếng. Người thiếu phụ cúi mặt ngượng ngập:

Dạ, thưa anh, em lên Phố O ạ.

Hình như có một người nữa cùng đi với chị.

Dạ, vâng ạ. Ông ấy người cùng làng em, về rủ em cùng đi. Em không muốn đi, nhưng cực chẳng đã. Nhà em hy sinh ở Campuchia. Chợt nhận ra mình quá vội vàng dốc bầu tâm sự, người phụ nữ liền mím môi, ngẩng lên. Chị đưa tay quệt vệt nước mắt ở đuôi mắt và chuyển giọng Anh ơi, từ đây lên Phố O có còn xa không, anh?

Tôi cũng nghe nói, chứ chưa lên trên ấy bao giờ!

Ông Đậu bảo em lên nấu cơm cho bọn ông ấy. Rồi ông ấy sẽ cấp cho em một số tiền đủ để cung dưỡng bố mẹ già bên em và bên chồng em. Nghe nói họ đào vàng, giầu lắm. Cả vùng ấy, chỗ nào cũng có vàng.

Con chó chống chân đứng dậy, rạp vai, rũ mình. Phía sau thùng xe có tiếng đàn ông cười khình khịch. Con chó sủa một tiếng. Một gã đàn ông to ngang vừa leo lên, ngoái cổ ra cạnh xe, hất tay ra phía trước thúc: Xong rồi! Đi thôi!

Anh vội quay mặt vào xe, người run như lên cơn sốt rét. Trời! Có lẽ nào lại là nó. Thằng Đậu đầu gấu. Nó bị tù chung thân kìa mà!

Gã đàn ông chui vào xe, ngồi xuống cạnh thiếu phụ, vừa thở è è vừa bê một cái túi vải nặng lên lòng, và lôi từ trong đó ra một xâu bánh chưng bốn năm cái. To ngang quá khổ, vai nổi u, bụng chảy, râu mép quặp hợp với bộ râu cằm đen nhánh thành một vòng tròn khoanh cái miệng rộng có thể cắn một nhát hết nửa cái bánh chưng hai lạng, y có dáng hình một đô vật và bộ mặt lục lâm.

Ăn đi, điệu đàng làm gì, cô giáo! Y đưa cho thiếu phụ một chiếc bánh Nào ăn đi! Ăn bánh thì trả tiền! Đơn giản thế thôi. Đời là vậy. Nghĩ càng ít, càng đơn giản thì càng dễ sống. Chả có gì mà phải ngượng nghịu. Đừng phức tạp hoá, quý tộc hoá, đạo đức hoá cuộc sống. Dở hơi! Ăn đi! Rồi vui vẻ cả thôi. Lên đó, chúng tôi sẽ không để cô thiệt đâu. Đầu vào, đầu ra, bọn này vốn chơi đẹp, tính đủ. Khì khì.

Anh gầm mặt xuống, run bắn người vì uất hận và tủi nhục. Anh cũng đã từng nói thứ ngôn ngữ của nó. Ăn bánh thì trả tiền.!

Thế là mọi việc đã rõ ràng.

Sau một ngày một đêm đi nhờ xe, anh Cần tôi cùng anh Thái bạn tù, đã tới Phố O, một thị trấn sát biên giới phía Bắc, gia nhập vào đám quân tứ chiêng tụ hội để đào bới vàng. Họ phát hiện ra gã đàn ông cùng đi nhờ xe với họ, tên cưỡng đoạt thể xác người thiếu phụ trên thùng xe ôtô, chính là tên Đậu đầu gấu, đứng đầu đám côn đồ ở nhà tù, kẻ đã từng hành hạ sỉ nhục họ vô cùng thậm tệ khi họ mới vào tù.

Thái bị tù trong hoàn cảnh rất thương tâm. Anh sống rất nghèo khổ. Đi bộ đội bảy năm về, gia sản độc cái ba lô rách, vô nghề nghiệp, lại phải nuôi một ông bố bại liệt và bốn đứa con người anh trai chết cách đó hai năm vì một tai nạn giao thông tập thể. Anh đói thường xuyên. Nhà bữa cháo, bữa bí đỏ trừ cơm là bình thường. Bốn đứa trẻ, đứa lớn chín tuổi đứa nhỏ nhất bốn tuổi, ngày ngày đi bới rác và ăn xin ở bến tàu, bến xe. Anh thì lúc bốc vác, bổ củi, gánh nước thuê; thảng hoặc thuê được chiếc xích lô của ai đó, guồng vài giờ kiếm được dăm ngàn thì lại dành để thuốc thang cho bố. Một đêm rét mướt vắng khách, bụng đói cồn cào, đạp chiếc xe không đến đầu ngõ nọ, ngửi thấy mùi ngô nướng thơm lừng, liền bỏ xe nhảy xuống. Thoạt tiên là mua chịu. Không được mới mở miệng xin. Xin không được mới liều lĩnh giở trò cướp giật. Bị bắt lúc đang gặm dở bắp ngô nướng, anh há hốc mồm ngơ ngác, chẳng kịp chùi vệt nhọ than dính hai bên mép. Xét về bản chất tội trạng, anh bị toà kết án tù mười tám tháng. Ở tù, thấy anh hiền lành gầy ốm, bọn yêu tạ cứ nhè anh mà nạt nộ, sai phái. Anh Cần tôi nhiều phen đứng ra bênh vực anh và do vậy lắm lúc khốn đốn vì đòn thù. Hai người thân nhau từ chỗ cùng cảnh ngộ.

Bây giờ hai người lại cố kết với nhau trong hoàn cảnh mới. Cuộc sống cơ cực nhiều bề. Nghèo túng là một. Vậy thì hãy thử xem, biết đâu vận hội lại đến.

Tránh mặt tên Đậu, để nó vào một góc trí nhớ, họ bắt tay vào công việc làm ăn đã. Hai người hạ trại, dựng lều ở một eo đồi vắng, cách nơi khai thác vàng chừng một cây số: hàng ngày, bật dậy từ lúc tờ mờ sáng, nấu cơm xong, họ xách luôn đi cùng với đồ nghề, trằn mình vào công việc, cho tới tận tối mịt mới lặn lội trở về.

Bi không bị bán nữa, suốt thời gian họ đi làm vắng, Bi giữ nhà, thực chỉ là một túp lều, cho họ. Bi không ưa anh Cần, nhưng nó lại rất có cảm tình với anh Thái. Anh Thái có biệt tài bắt chước tiếng chó kêu, mèo gào, gà gáy. Anh hay chơi đùa với Bi. Đôi lúc trong khi đùa rỡn với Bi, anh phát ra tiếng kêu của con chó cái trắng nhà anh, khiến Bi ngẩn ngơ cả người.

Chưa từng có một công việc, một phong trào nào có sức động viên lớn lao và khiến con người vừa vào cuộc đã mê cuồng như việc đào vàng ở đây. Một huyện lỵ miền núi nhỏ teo, một vùng đất vô danh vì dân số lèo tèo, vì chẳng có đặc sản gì, lại chẳng bao giờ phấn đấu đạt các chỉ tiêu kế hoạch kinh tế, vậy mà bỗng chốc danh tiếng vang lừng, toả ra sức hút nam châm, lôi kéo cả lũ lĩ người về đây, thiết lập hẳn một tổ chức xã hội mới, với các giai tầng mới, có một đời sống vật chất, tinh thần khác hẳn mọi nơi. Công đầu phát hiện ra vàng đâu có phải thuộc về ngành địa chất. Chính là mấy anh hàng phở mổ vịt tìm thấy cái của quý ấy ở dạ dày giống này. Thế là hàng ngày họ cứ lúi húi đào đất ở ven suối, rồi cặm cụi đãi đạc ngay ở làn nước suối ấy, lặng lẽ ăn mảnh không cho ai hay. Tới khi họ lên nhà lầu, sắm xe Cúp, mua đầu vidéo, lúc ấy thiên hạ mới ngã ngửa người ra, và thế là nhao cả lên như ngộ độc.

Hoá ra ông tạo hoá chơi khăm. Bấy lâu ông giấu vàng trong lớp mạch sa khoáng chảy ngầm dưới một bề mặt tiều tuỵ, úa tàn, cằn cỗi, trồng cây gì cũng chẳng nên. Nay bể dâu biến đổi, đất chỗ trồi, chỗ sụt, chỗ lở, chỗ mòn, vàng cốm mới nổi lên lấm tấm như dải ngân hà. Cua đổi càng, vàng lộ thiên! Câu sấm truyền từ xưa lại, hay mới được sáng tạo, hoá ra ứng nghiệm ngay ở đây! Ở đây, cua đổi càng cả loạt thật! Chẳng gì lan truyền nhanh bằng lời sấm. Còn bằng mấy hịch kêu gọi. Dân tứ xứ đổ về, háo hức như trẩy hội mùa xuân ở thời vua Hùng, khi con người còn hoang sơ giữa tự nhiên. Tưởng như phen này thì cả triệu triệu người trong khắp nước đang thất nghiệp, đang là lao động dư thừa, đang khốn khổ vì ngày hai lần đỏ lửa, cũng có thể trở thành tỷ phú trong chốc lát. Học trò tốt nghiệp phổ thông. Sinh viên ra trường chưa có công ăn việc làm. Lao động hết hợp đồng từ nước ngoài mới bay về nước. Bộ đội phục viên chẳng biết nghề ngỗng gì. Nhà nông chán cảnh làm ăn khó nhọc. Thương nhân buôn bán thua lỗ. Kẻ thất cơ lỡ vận. Đám nhân viên nhà nước nghèo kiết truyền kiếp. Những kẻ mới hết án tù, chưa biết gửi mình vào đâu, như con hủi giữa xã hội vô trùng.

Trăm ngàn tình huống và duyên cớ thúc đẩy cuộc tụ tập bát nháo này. Hàng ngày, gần vạn con người rải rọc hai bờ suối hậm hụi đào bới. Họ quên cả thân xác mình. Họ chẳng còn biết đâu là luật lệ, đâu là ruộng đất, đền miếu. Ngửi thấy mùi vàng, lập tức cả bầy đàn xô tới, nổi cơn si cuồng chiếm đoạt.

Phố huyện phình to, loè loẹt màu sắc hội hè đình đám, trong khi hàng quán mọc như nấm sau cơn mưa lại lộ toẹt ra cái hình tích của sự ăn chơi xả láng, sự phá tán tàn bạo, và thói hoang tàn quá đáng. Chẳng ngày nào không có chuyện tranh cướp, xô xát, lừa bịp, kiện cáo nhau. Dăm ba ngày lại xảy ra một án mạng không hiểu nổi nguyên cớ và vô tang.

Toàn bộ sự kiện và phông màn của bức tranh lịch sử này, Bi không biết. Bi ở ngoài khúc điệu cuồng loạn của cơn sốt kim tiền kinh thiên. Bi không biết đến những quy luật thống trị mới đã phát sinh và con người tưởng là đến đây để tìm kiếm tự do, hoá ra lại là đưa mình vào môi trường khống chế của bạo lực đồng tiền.

Bi không biết đến cả nỗi khó nhọc của anh Cần tôi và anh Thái. Họ đào bới rất vất vả mà thu hoạch chẳng được là bao. Phần vì họ đến muộn, những miếng ngon đã bị chiếm cứ chia phần. Phần vì họ bị ăn chặn đủ điều, dưới mọi hình thức. Tuần lễ đầu họ gặp may, mỗi người được một lọ Pênixilin vảy vàng. Tuần lễ sau, người ê ẩm, chân tay bợt bạt mà chẳng được nổi một hạt nhỏ. Nhẫn nại, họ âm thầm chịu đựng và ra sức đào đãi. Cả hai cùng một sở nguyện đẹp đẽ và xót xa: dấn lên một tí để tạo ra một cơ sở vững vàng cho một đời sống công dân lương thiện. Nghèo thì hèn. Giàu thì hợm. Đói thì cừu cũng thành chó sói. Có no đủ mới nói chuyện tử tế được. Hai người coi đây là một cơ hội có một không hai để họ chuyển đổi sang một đoạn đời mới. Riêng anh Cần tôi, sau cơn phản tỉnh trên thùng xe, anh bỗng nhận ra anh cũng vẫn có một lớp sa khoáng chứa vàng ẩn tàng trong mình.

Tuy nhiên, vào tháng thứ tư, hai người đã gặp may lớn. Họ đào được một khối đá to bằng cái mũ, chứa ba cây vàng bên trong, bán được hơn năm triệu đồng. Do sự kiện ấy họ quyết định thuê thợ sửa sang nhà cửa và nghỉ ngơi một tuần.

Bi không thể biết được những dị biệt của đời thường. Không biết cả việc tên Đậu đầu gấu vừa mới chuyển nhà đến sau quả đồi có nhà Bi ở. Tên lưu manh này có những trang tiểu sử thật là tởm lợm. Mười sáu tuổi, y đã cướp dây chuyền vàng của hai em gái và đánh què một bà lão. Mười bảy tuổi, y giết một bà chị khi bà đến tá túc ở biệt thự nhà y, để cướp tiền. Mười tám tuổi, y giết người, cướp xe máy. Mười chín tuổi, y đánh gãy cổ một quản giáo và vượt ngục. Hai mươi tuổi, y đột nhập một nhà giàu, trói gia chủ, bóp cổ, khoét mắt, cướp một chiếc nhẫn kim cương và hai chục nghìn đô la, định bụng sau đó bùng ra nước ngoài tị nạn(!)

Hai lần tử hình với từng ấy tội ác còn là nhẹ. Vậy mà y vẫn sống nhăn. Chỉ vì một lẽ giản đơn, ông giời cho y sinh ra ở cửa nhà quan đầu tỉnh, đại loại như bố chính, phủ doãn thời xưa. Trong tù, y ăn gà quay, hút ba số, được khen là nỗ lực cải tạo và được cử làm trưởng buồng giam, biến tướng thành đầu gấu hung thần, tầng áp bức khốc liệt nhất của các tù nhân khốn khổ.

Đậu lên đây để buôn vàng chứ đâu có phải để đổ mồ hôi đào vàng. Thực sự là y dùng bạo lực đồng tiền để trấn lột bọn người lao động tìm vàng. Dựa vào bạo lực đồng tiền, y liên tục cưỡng bức người thiếu phụ đã bị y lừa dối. Một buổi kia, y định biến cô giáo có nốt ruồi ở đuôi mắt buồn nọ thành một trò chơi cho đồng bọn. Cô giáo đã liều chết chống lại sự hung cuồng thú vật của y và đồng bọn, chạy thoát thân và cư ngụ bí mật tại nhà anh Cần và anh Thái.

Tự nhiên luôn giữ quyền trừng phạt mọi sự vượt quá ranh giới. Cần và Thái, một đêm mưa, bất thình lình ập vào nhà Đậu, sau một hồi vật lộn đã trói được y lại.

Họ cho y ngồi lên ghế. Hai người kéo bàn, ngồi trước mặt y, oai nghi như quan toà. Hai đầu bàn họ đặt hai cái đèn pin chiếu cánh xẻ vào mặt tên tội phạm.

Cần nói:

Đậu, hãy nhìn mặt tao đây và nhớ lại. Ngày 25 tháng 4 năm ấy, khi tao bị người quản giáo đẩy vào phòng giam, câu chuyện đã xảy ra như thế nào?

Ngừng một lát, nén xúc động, anh tiếp:

Tao còn nhớ như in hình xác mày lúc đó. Mày to béo, bụng phệ và mặt mày y như mặt con quỷ râu xanh. Mày tiến đến trước mặt tao và huơ tay bảo lũ đàn em: Anh em, xưa có câu: Dân ngu tối dạ, học giả yếu chim. Thằng này trông ra dáng trí thức, vậy hãy kiểm tra con cu của nó. Lũ đàn em của mày như một bầy quỷ đói nhao tới. Với tao, việc đó là sự hạ nhục còn nặng nề hơn cái tát, tiếng chửi của thằng Mặt Rách. Lúc đó, tao thề sẽ phải trả thù mày, dẫu tao phải đổi mạng. Nhưng, chưa hết, đứng trước tao trần truồng, mày giơ roi khoái trá hét: Múa Lămbadda! Múa! Tao không nhúc nhích vì sắp nổ tung căm giận. Mày tiến đến và tặng tao một quả móc hàm.

Thái nghiến răng:

Còn tao, tao cũng bị mày lột truồng ra như vậy. Và sau đó mày bắt tao liếm vết sâu quảng ở chân một thằng đàn em mày.

Cần nhổ bọt, mặt lạnh sắt:

Đậu, mày là cái quái thai của đời sống. Điều đó thì mày có thể hiểu được. Nhưng còn điều sau đây mày chưa thể hiểu: xúc phạm đến cái tôi, tức là xúc phạm đến cõi thiêng liêng nhất của con người.

Thái dằn:

Tao nghe nói mày đã lợi dụng lúc tự do để bóp cổ chết một thằng bạn định tố cáo tội mày ở ngoài đồi chè của trại. Mày cũng đã lột truồng một ông già bằng tuổi bố tao, bắt ông hát bài Bé bé bằng bông và giao cho ông nuôi mười con rệp, nếu chết một con thì mày xin ông tí tiết. 

Cần đanh thép:

Mày là thằng thầy phản diện đã dạy cho tao biết rằng ở đời cái quái dị còn đang nhan nhản và tội gì không hùa theo bầy sói mà gào. Mày làm hư hỏng xã hội, con người. Khốn nạn thân tao! Một tên quản giáo đã đập cả một chùm chìa khoá lớn vào đầu tao khi tao kêu: Chú ơi, cháu bị bắt oan! Công an, nhà tù, toà án, bộ máy chuyên chính là cần thiết để giữ sự cân bằng cho xã hội. Đó là quyền lực của tự nhiên, của sự hợp lý. Nhưng còn thằng Mặt Rách và mày? Khốn nạn, nhiều khi cái dị dạng, không phải quy luật lại chi phối cuộc sống mới trớ trêu chứ! Đó, mày đã thoát chết chính là nhờ ở cái dị biệt, chứ không phải do cái gọi là quy luật. Cái dị biệt đã biến mày từ một xác chết ngoài pháp trường thành một chúa nô tự tiện hoành hành. Ăn bánh thì trả tiền! Hừ, đâu có phải là thế. Mày ăn mà quỵt tiền! Còn bây giờ mày mới thật sự trả nợ. Tao muốn thanh toán mọi hận thù với mày để từ đây về sau trở lại đời sống thanh thản, quân bình. Nào, bây giờ cho mày nói lời cuối cùng.

Lời cuối cùng? Cái bị thịt trước mắt hai anh mở to hai con mắt có làn mi hùm hụp. Nó nhăn trán. Nó đã hiểu tình thế và hàng ria mép cùng với hàm râu cằm khoanh quanh mồm nó động đậy. Nó nói, tiếng khò khè, rất khó nghe, nhưng bình tĩnh.

Thôi được. Thằng nào thắng, thằng ấy có quyền xử. Chỉ có điều tao cần nói lại. Thứ nhất: Tao đâu có phải là thầy giáo của mày. Không ai dạy trò giỏi, nếu chính trò không có tố chất thông sáng. Thứ hai: mày đã lớn tuổi mà chưa hiểu đời. Con người nói chung và mày nói riêng, suốt đời loay hoay, nhưng đừng hòng thoát khỏi ách thống trị của ba thứ bạo lực sau đây: Thần quyền, uy quyền và tiền bạc. Mày đã thấy tao dùng bạo lực đồng tiền để chiếm đoạt cô nữ giáo viên xinh đẹp rồi chứ! Mày đã sai khi nói, tao là cái quái thai của đời sống. Không! Tao là cái phổ biến của đời sống. Tao thể hiện bạo lực của quyền uy. Thằng Mặt Rách cũng vậy. Có điều tao đóng không phải lúc nào cũng đạt. Thế nào, mày đã thấy mày cạn hẹp và viển vông chưa?

Bi không hay biết phiên toà xử tội tên Đậu. Không biết rằng lời nói cuối cùng trước khi nghị án của tên Đậu đã khiến anh Cần tôi lặng đi đến mấy phút. Anh bối rối và trong thâm tâm, anh thấy cần cảm ơn nó, nó đã nói thật lòng.

Bi không biết tất cả những sự việc xảy ra kế tiếp. Lục soát nhà tên Đậu, Cần và Thái lấy được một ít vàng của y. Họ đưa cho người thiếu phụ tội nghiệp để chị làm vốn chi dùng và lập nghiệp sau này. Ngày hôm sau, tại một quả núi ven suối có một tai nạn kinh hồn, Bi cũng không hay biết. Buổi chiều đó, Bi nằm ở hiên nhà, nghe thấy tiếng người nháo nhác vang cả một triền núi. Bi không biết rằng, quãng năm giờ chiều, bỗng có một người la khiếp đảm: Ông Đậu sập hầm chết rồi, bà con ơi! và mọi người ùn ùn kéo đến nơi nọ. Khiếp quá! Ở cái cửa hang một người chui lọt nọ chẳng hiểu từ đâu rơi xuống một tảng đá lớn bằng cái thùng phuy 200 lít. Tảng đá nghiền nát và che lấp người Đậu, trừ đôi bàn chân y thò ra ngoài tảng đá mọi người còn trông thấy. Trước cửa hang, hương khói đặt kịt. Có mấy người đàn bà suỵt soạt khấn vái. Nhiều người thở phào như thoát khỏi một tai ách. Một người kể, nghe tiếng đá rơi đánh uỵch chạy lại, còn thấy chân ông Đậu ngọ nguậy và tiếng Đậu gào la, nhưng chỉ giời mới cứu được nó. Lúc ấy có hai người đàn ông trẻ tuổi thắp hương tế sống Đậu. Lát sau, Đậu tắt thở.

Bi không hay biết toàn bộ cuộc sống hiện thực phơi bày sau bức màn che. Bi đang được hưởng tình âu yếm của một người phụ nữ trẻ. Chị xinh xắn, đuôi mắt đẹp có chấm đen nhỏ như ẩn dụ của một nỗi buồn phảng phất. Chị có giọng nói du dương, hậu tình. Một ngày kia, chị vuốt ve Bi và nói:

Bi ở lại đây nhé! Chị sắp về quê đây. Nhưng, thế nào sau này chị cũng gặp lại Bi!

Anh Cần thẫn thờ nhìn người thiếu phụ và nói: Hãy khoan, Chi!. Chị tên là Chi.

Bi không hay biết, nói cách khác, Bi dửng dưng với công việc và những động thái trong đời sống của anh Cần và anh Thái.

ấy là vì Bi vốn không mặn mà gì với anh Cần tôi. Việc bị cưỡng bức lên đây vẫn còn để lại những ấn tượng nặng nề trong tâm thức nó. Nhưng còn lý do gì khác nữa, khiến nó vẻ như là đang ở trong trạng thái phân tâm?

Miền rừng qua mùa mưa ẩm ướt, đang vào tiết thu khô ráo và sáng tươi. Hoa chuối thắp những chấm đỏ rửng trên sắc xanh chàm tươi của rừng thẳm. Ai xé giấy tung rải, tạo nên từng vệt hoa giềng dại lưng đồi núi? Cây mác mật đứng ở góc rừng, bừng sáng cả không gian những chùm quả tròn, vàng choé như chùm nhạc. Mỗi sớm mai, ríu ran những đàn chim má bạc, cánh vàng, ức đỏ, riêm rúa như vũ nữ, lượn vòng qua khu đồi, gọi hồn Bi vào phiêu lãng. Buổi trưa, bướm tung tăng một dải lụa bạc trắng loá, ẩn hiện trên mặt suối sáng long lanh, khiến Bi ngơ ngẩn như lạc lối vào Thiên thai.

Mùa thu miền rừng nao nức và trầm tư. Thiên nhiên hài hoà, không hời hợt. Gạt bỏ ngoài tai đám tạp âm của bầy người hám của đang xáo trộn đất đai, có thể bắt được giai điệu trữ tình của cây cỏ lên hương khi mùa thu về. Những đêm yên tĩnh, vọng về tiếng chân con nai đạp trên bụi cây đom đóm khô, tiếng rũi đất đào củ của bầy lợn mới rời vú mẹ. Gió thu xao xác như một linh hồn đơn côi, đưa về tiếng con sói rừng hú gọi bạn và đôi khi một tiếng súng săn rơi thỏm vào thăm thẳm rừng sâu, khung cảnh càng trở nên mênh mang huyền hoặc.

Từ trong sâu xa, ở mỗi tế bào Bi, hình như vừa có hiện tượng thức giấc. Một ký ức đắm chìm, một ký ức bị vùi lấp giờ đây là bật mình trỗi dậy với sức mạnh của chồi non.

Có những lúc đang nằm im, Bi bỗng nhổm dậy, khịt mũi từng hồi dài cuống quýt. Có những lúc hai mắt nó bật sáng như hai ngọn đèn. Có những lúc nó ríu chân, quẩn lại bên người thiếu phụ xinh đẹp. Có những lúc đang ngồi ở sân, nó bỗng ngỏng cổ, phát lên không gian hàng loạt âm thanh giọng thổ pha hơi kim, vang rè như tiếng kèn đồng, mang thông điệp tới một người nào đó.

Cô giáo Chi bảo hai người đàn ông: Có lẽ là Bi nó nhớ rừng. Em nhớ trong một truyện, nhà văn Giắc Lơnđơn có kể một con chó kéo xe trên Bắc cực, nghe tiếng gọi của bầy sói rừng, đã tìm về với bầy. Nói chung, nó vẫn mang giòng máu sói rừng nguyên thuỷ. Anh Cần nghĩ: Có thể là nó nhớ rừng, muốn được sống đời săn bắn trong rừng. Cũng có thể là nó nhận được hơi người quen thuộc quanh quất đâu đây. Con người ta, dẫu thô giản như thằng đầu gấu Đậu, cũng vẫn là một sinh linh phức tạp, thì con chó cũng không thể là sinh vật quá đơn giản. Chợt nhớ tới con chó cái trắng ở nhà mình, Thái nói: Có lẽ là có một con chó cái đi qua, hoặc ở quanh quẩn đây. Chủ nhật tới, tôi ra chợ Phố O mua một con chó cái về cho Bi có bạn. Giống nó đẹp và khôn lắm!

Chủ nhật ấy, Thái dong từ chợ Phố O về một con chó cái tứ túc huyền đề, lưng đeo ấn, cực đẹp. Nhưng anh không kịp hí hửng, cô giáo Chi hốt hoảng cho anh hay, suốt từ sáng cho tới chiều nay, không thấy Bi đâu cả. Ba người vội chia nhau đi tìm Bi. Tới các hàng thịt chó. Sục vào mỗi căn lán của dân đào vàng. Chui vào các bụi rậm quanh nhà. Leo lên mấy làng Dao có những lò rèn chuyên chế tạo và sửa chữa súng săn ở quanh huyện lỵ. Ba ngày liền đi đi lại lại như vậy, nhưng họ chỉ thu được một thông tin có giá trị duy nhất: Không bị ai bắt cả, cũng không bị thú dữ ăn thịt, đơn giản là Bi đã bỏ họ đi rồi. Bi đã bỏ họ đi rồi!

KHÁNG —★— CHÓ BI, ĐỜI LƯU LẠC Tiểu thuyết ebook©MotSAch —★— TVE-4u©Conan-tieudao Nhà xuất bản: Thời Đại
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.