Rời đường nhựa, hai chiếc xe đạp cà khổ lăn khập khình trên con đường đất gồ ghề chạy qua khu đồng rộng, nhằm vệt núi lam phía trước.
Lúa mùa đã gặt quang. Rạ chụm từng bó khum khum. Rúc rích bày sẻ rỉa hạt thóc sót. Gió bấc tạt vào mặt tê tê.
Đi trước, thoảng thoảng mẹ tôi lại ngoảnh lại, tiếng bạt trong hơi gió: Chịu khó một tí con nhé. Tôi muốn ứa nước mắt vì nhận ra gương mặt nhìn bán diện càng xanh xao, ảo não và giọng nói đến tội nghiệp của mẹ tôi.
Đó là những ngày ngổn ngang lo sợ. Bố tôi vẫn không hồi âm. Anh tôi vẫn mất dạng. Căn nguyên của cảnh tan đàn xẻ nghé vẫn ở trong tình trạng mập mờ. Chuyện nọ chưa xong lại nhằng sang chuyện khác. Càng lúc càng nhận ra trạng thái nhân gian thật là rối rắm và con người dường như bất lực trong sự tự giải thoát mình.
Sự thật về vụ án của bố tôi đang được cứu xét. Chú Đạt phóng viên báo Người Lao Động hăng hái trong vai thám tử, những dẫn liệu đầu tiên chú thu về cho thấy bố tôi bị một tập đoàn những tên bất lương lợi dụng cơ hôị vu cáo, quy tội. Có những báo cáo ngầm xuất phát từ tư thù. Chú Đạt nói sắp đi Sài Gòn để điều tra về bức điện nặc danh đánh cho bố tôi. Gặp mẹ tôi, chú Đạt hào hứng kể lại mọi chuyện. Chú hoàn toàn không biết rằng mẹ tôi đang sống trong trạng thái vô cùng bối rối và đớn đau.
Sau hôm xảy ra việc vợ Viển đến lu loa chửi bới, mẹ tôi ốm liệt một tuần. Ngoại trừ những lúc thiếp đi bằn bặt, tỉnh một tí là bà lại rứt tóc, cào mặt, kêu tên bố tôi và khóc lóc rất thảm thiết. Qua trận ốm, bà đi lại được, nhưng dường như đã trở thành một người khác vậy. Nhiều lúc bà thẫn thờ như kẻ mất hồn. Có lúc ngơ ngác như trong hoang mê. Nhiều đêm thức giấc, tôi nghe thấy tiếng bà nấc nghẹn xót xa. Tựa như bà vừa đánh mất một vật báu mà không sao tìm lại được. Cảm giác mắc phải lỗi lầm không thể tha thứ được ngày đêm nấu nung day dứt trong lòng bà. Mặt bà thường xuyên giăng tấm mạng nhện ủ ê, sợ sệt.
Bà luôn lảng tránh tôi. Nhưng, cũng không ít lần bà nhìn tôi bằng ánh mắt van lơn, xin được tha thứ, những lúc ấy tôi ứa nước mắt, quay đi.
Nỗi đau đời của mẹ tôi đã vượt quá sức chịu đựng của nhân thế. Bà phải đi tìm liều thuốc an thần cho mình. Những ám thị quái đản đã từng chi phối bà, giờ đây trở thành bộ phận quan trọng trong đời sống tinh thần của bà. Niềm tin duy nhất của bà đặt vào các quyền năng bên ngoài thế tục. Hương hoa, lễ lạy, cầu xin nơi đền miếu là công việc hàng ngày của bà. Môi trường tĩnh mạc nơi chùa chiền và những ảo giác về sự khoan thứ, phù trợ của thần linh là môn thuốc giải toả cơn đau nhức tâm hồn bà. Từ một cô giáo trẻ đẹp, hiền hậu, đa tài, đa cảm,mẹ tôi dần dần biến thành một con nhang đệ tử mê muội của đủ các môn phái dị đoan, tín điều sằng sịt. Nghe được bất cứ người nào mách bảo, đền, miếu nào có thánh thiêng, cây đa, hòn đá nào có thần linh, xóm làng nào có ông đồng, bà cốt pháp thuật cao cường, là thế nào mẹ tôi cũng tìm đến bằng được, dù có phải mệt nhọc, tốn kém, để đặt lễ, khấn vái, xin lời phán bảo.
Thế là, tưởng rằng đi tìm sự cởi thoát mà trên thực tế mẹ tôi lại quàng thêm cái vòng dây oan nghiệt vào mình. Tưởng rằng thênh thênh ra khỏi trần ai, trên thực tế lại nhận thêm sức ép của những áp lực vô hình và không kém phần bạo liệt khác.
Tháng trước nghe có người mách: ở chân núi Tâm có ông thầy xét đoán vận kiếp con người chính xác như thần, đã học đưục phép xem đất của cụ Tả Ao, mắt có thể trông thấu ba thước đất, mẹ tôi liền cơm đùm cơm nắm lần mò tới. Vừa đặt nón, mẹ tôi chưa kịp ngồi, ông thầy nọ đã lên tiếng bảo rằng mẹ tôi đang bị cái tam hạn. Mẹ tôi chưa kịp thưa thốt, ông đã hỏi: Chị có đồng bạc nào trong túi đưa tôi xem. Mẹ tôi rút túi đưa ông tờ 5.000. Giơ tờ bạc lên soi một lúc, hạ xuống, ông tặc tặc lưỡi: Tất cả mọi vận hạn ở đây đây. Rồi ngẩng lên, ông hất hàm: Một ông tam đại bên chị đặt vào nơi hung địa, lại mất nấm, đúng không? Trời, chỉ có thần thánh mới thấu hiểu nguồn cơn đến vậy. Mẹ tôi vội chắp tay lạy ông và kể lể hết mọi sự oan khổ từ ngày bố tôi bị bắt. Ông thầy cắt ngang lời mẹ tôi: Anh nhà chủ về uy võ lừng lẫy, vì mệnh đúng vào cung Tý, Ngọ, Dần, Thân, có thất sát triều dẫn, nhưng phải ngoài ngũ tuần mới trèo cau tới buồng được. Ông đút túi tờ bạc 5000 nói là giữ để làm mực đo. Bảo mẹ tôi về nhà lấy tờ 5000 khác đặt lên bàn thờ một tuần, rồi trở lại đây, đưa ông xem. Y hẹn, mẹ tôi đem tờ bạc đến cho ông, ông đưa ra ngoài sân, nheo mắt ngắm, rồi trở vào, vỗ đùi đánh đét: Số chị còn may! Mộ cụ vẫn còn, ăn ngang đây này. Muôn việc nơi dương thế đều có can hệ đến bên âm. Sao lại để mộ cụ thất lạc thế? Tội quá!
Ông ngoại tôi mất năm 1954. Ba năm sau cải táng, cốt cho vào tiểu sành đặt ở một sườn gò sau làng. Hơn ba chục năm đã qua. Gia đình tôi dọn về thành phố, xa quê hơn trăm cây số. Phần vì kháng chiến và bận rộn, phần vì quan niệm sơ sài về việc coi sóc phần mộ ông cha, nên nay không còn ai nhớ chính xác nơi đặt mộ ông ngoại nữa. Cách đây mấy năm, bố tôi cũng có lần nhắc, nhưng nghĩ thời gian đã là hơn ba chục năm, đủ để ông hoàn thổ, trở về với đất mẹ rồi, nên thôi. Bây giờ, hoá ra tất cả sự sống của chúng tôi vẫn còn phụ thuộc vào cái di thể của người đã khuất. Huyết mạch bao giờ cũng vẫn liên quan với nhau, ông thầy nói vậy.
Mẹ tôi mừng quá, xin ông thầy giúp tìm hài cốt ông ngoại tôi. Ông gật đầu bảo: Tìm đã, còn có chuyển đi đâu hay không, chờ lúc đó quyết định.
Thêm vài tờ 5000 nữa đặt lên bàn thờ để xem linh ứng. Rồi mẹ tôi sửa một lễ cúng lớn, đốt vàng mã, làm cả sứ giả và dâng sớ, ông thầy mới hẹn đúng rằm này đến để ông dẫn đi.
Hôm nay là ngày hẹn đây.
Mẹ tôi và tôi gửi xe đạp ở nhà người quen trong làng rồi ra ga. Y hạn, ông thầy đã có mặt. Đội cái mũ bộ đội sờn bo sùm sụp, tay cầm một tấm nilông gấp nhỏ bằng cái thẻ bài, toàn bộ tư trang của ông nhẹ tênh, nhẹ như thái độ của ông. Mẹ tôi mời ông ăn phở, ông xua tay, mẹ tôi đưa ông ba chục để ông tiêu vặt dọc đường, ông lập nghiêm mặt, quở: Chị coi thường tôi thế à? Tôi làm việc để lấy phúc, chứ vì tiền của chị?. Rồi như thấy hớ liền hạ giọng, nói vớt: Mấy lỵ, việc đã xong đâu!
Chúng tôi lên tàu.
Ông thầy ngồi cạnh tôi. Ngoại lục tuần, bé choắt, da bánh mật, mặt héo, mũi tẹt, mắt ti hí, răng thưa, tiếng nói như chuông. Dị tướng là cặp mắt rắn và hai cái tai phật, mềm oặt tưởng như vẫy được.
Tàu chạy, ôm ngực ông ho một tràng dài:
Mấy hôm nay tôi mệt. Làm việc này hại thần kinh lắm!
Sao thầy không đi khám bệnh mua thuốc uống ạ?
Làm gì có thì giờ! Hôm rồi tôi phải xuống tận ga Đồng Văn đánh một quả đấy. Bận, nhưng nể vì là bạn cũ mời. Ông này là đại tá mới về hưu. Làm xong cái nhà mái bằng bỗng gặp liền mấy tai ương. Tôi xuống, liếc mắt qua nền nhà biết ngay có âm khí. Đất có thổ công sông có hà bá, cảnh thổ nào có thần hoàng ấy. Một là thờ cúng chểnh mảng, hai là. còn có việc u viễn, người trần mắt thịt bỏ qua. Tôi bèn chỉ vào giữa nền nhà, hạ lệnh: Đào! Thoạt tiên gia chủ còn tiếc mấy hòn gạch hoa. Sau, cuống quýt lên. Ôi chà, chưa hết một thép mai đã thấy một cái sọ người.
Mẹ tôi thở dồn, ngó sang. Thầy cao giọng:
Gia chủ mừng quá! Rút luôn ví, hậu tạ tôi một trăm ngàn! ấy, trăm ngàn tiếng thì to thật, nhưng không bù được hao sút thần kinh đâu!
Tiếng thầy choang choang và vì chuyện lạ, nên người cả toa xúm lại quanh thầy. Thầy bắt đầu nổi cơn hứng, trổ tài đoán định. Thầy bảo, bố tôi bản lực cao cường lắm. Dàm phê phán cả ông Mác, ông Lênin. Số kiếp long đong vì lắm kẻ thù. Thầy kể chuyện, nhà này nhà nọ nghe lời thầy đặt lại hướng nhà, cải được số, nên qua khỏi tai nạn, của cải đổ về như nước. Thầy kể, thầy giúp người trong tỉnh tìm ra không biết bao nhiêu là vụ trộm. Cả ông chủ tịch tỉnh mất xe Cúp. Cả ngân hàng tỉnh mất két, cũng đến nhờ cậy thầy chỉ hướng tìm. Tôi bảo là không mất. Ông trưởng công an tỉnh cuống cuồng, sợ bị khiển trách, cứ giục tôi. Nhờ cụ chỉ cho hướng xuất hành. Tôi mới đủng đỉnh chỉ tay ra phía môtô nổ máy vù đi! Thầy chỉ các cô gái trẻ mê chuyện ngồi cạnh thầy, bảo cô này ngày ấy ngày nọ có lộc, cô kia đang có đứa thù, nên cẩn thận. Một bà nửa tin nửa ngờ hỏi, vì sao thầy giỏi thế. Thầy bảo: Lẽ tạo hoá huyền diệu đang có tự nhiên không, đang không tự nhiên có, đừng nói tôi giỏi! Chẳng qua là trời giao cho chức nhiệm đó thôi. Mà trời còn phải thử thách chán mới giao. Sáu tháng ốm liền. Một lần đổ xe. Hai lần ngựa đá đấy, bà ạ. Thầy nói, vạch đầu gối, chỉ vết ngựa đá còn tím bầm.
Ôi, cái cuộc sống u u minh minh của trần thế chúng ta, cái đời người dằng dặc, mờ mịt, cái tâm trí tối như đêm, dầy như đất của chúng ta! Mắt phàm, trí phàm như lũ chúng ta làm sao mà hiểu biết mọi sự để mà phân giải, để điều hành. Nhưng, chúng ta đừng vội buồn nản. Bởi vì còn có một lối thoát. Bởi vì còn có chìa khoá để mở cánh cửa u trệ của kiếp người. Và chìa khoá ấy, Trời, đấng cao xanh, đã chọn mặt để trao gửi. Trao gửi sau khi đã tuyển chọn kỹ càng. Điều đáng chú ý là kẻ được trao gửi lại không phải là một bậc siêu nhân, một học giả uyên thâm, hay một quan chức công đức lẫy lừng. Kẻ được trao gửi chỉ là thầy. Thầy, học lực lớp ba bổ túc, nghề nghiệp: tráng bánh đa, kiêm đánh rậm, chẳng hề hay biết một tí teo nào gọi là giáo lý, chẳng có phép thuật, ngay chút ít cổ ngữ nghề nghiệp cũng lỗ mỗ, sơ sài. Cứ nôm na vạch mặt chỉ tên như vậy thôi. Chà! Thì ra cái thể xác phàm tầm thường của thầy lại là cái vỏ bọc một khối tinh lực siêu thường, phát triển anh hoa, giao tiếp, điều hành được cả Đất, Trời, Thánh linh, ác quỷ.
Cả toa tàu mê tín thầy. Lắm bà, cô xin địa chỉ thầy và mời thầy tới giúp việc nhà mình. Tôi cũng bị thầy thôi miên. Ngủ gà ngủ gật, tôi không nhận ra thầy chuyển sang ngồi cạnh mẹ tôi khi đêm xuống. Và cả đêm thầy cứ lục xục, cứ thì thầm điều gì đó vói mẹ tôi, tôi cũng chỉ nhận biết mơ mơ hồ hồ.
Sớm hửng, tàu tới ga, vẫn giữ trọn niềm tin ở thầy, tôi không để ý tới vẻ mặt sượng sùng khó hiểu của mẹ tôi. Còn thầy, thầy không phụ lòng tin của tôi thật. Quả là năng lực phi thường của thầy đã bắt đầu phát hoả. Thầy cứ đi phăm phăm, rẽ trái, ngoặt phải, không hỏi, mà không hề lầm. Tới gần quả gò đặt hài cốt ông ngoại tôi, mẹ tôi đi trước, không hề nói cho thầy biết, thế mà đang đi sau, thầy bỗng vượt lên trên mẹ tôi và kéo tay mẹ tôi, gắt Ô kìa, rẽ xuống đây, chứ còn đi đâu nữa! Đúng là có một con mắt thần soi lối thầy đi: Thầy chạy trước, leo lên đỉnh quả gò, ngồi xuống, nheo nhéo: Có đích thị là mộ cụ xưa táng ở đây không?
Ôi, thần thiêng đã hiện lên giữa cuộc đời chúng ta! Sự sáng láng đã kịp thời chiếu hoả để giải cứu những u mê, lầm lạc tăm tối của chúng ta!
Thầy đứng phắt dậy, nhỏ bé mà uy nghi khác thường. Xếch hai con mắt rắn lên, thầy xẻ dọc xẻ ngang quả gò, ngổn ngang mồ mả, bằng những bước chân của một vị tướng đi kiểm binh. Có phải thầy đi trên đất và thấy cái mắt trần ta thấy đâu. Thầy nhìn thấu ba thước đất, nhìn thấy cả thế giới bên âm. Các ngôi mộ không khác gì các ngôi nhà. Mỗi dãy là một phố nhỏ. Mấy phố họp thành một phường. Trong mỗi ngôi mộ, tức mỗi ngôi nhà, thầy nhìn rõ từng chủ nhân, biết họ đang làm gì và đọc được cả tên họ, tả được nét mặt họ. Chà!
Mười phút sau, mẹ tôi và tôi đứng lại sau thầy ở chân quả gò nọ. Công việc đã sắp hoàn tất. Thầy quay lại, mỉm cười, chỉ xuống chân thầy, nhẹ như không: Đây, cụ ở đây. Đào đi! Mẹ tôi vội sụp xuống chân thầy: Thầy ơi, ơn này của thầy con biết lấy gì báo đền, thầy ơi.
Thấy mẹ tôi vậy, thầy liền rụt chân, vênh mặt gắt, vừa âu yếm vừa kẻ cả:
Cô này hay nhảy! Anh bảo cô đứng lên! Có nghe không? Nào, ngoan, đứng lên! Không đứng lên là anh ghét bây giờ đấy!
Rồi đi tới hai người trai trẻ mẹ tôi mới gọi tới để thuê đào, thầy chống tay lên sườn, hách dịch:
Cuốc tốt chưa! Làm ăn cho cẩn thận nhé! Nhất cử nhất động phải theo lệnh tôi! Có ánh dương phải căng ni lông che. Hôm nay, chỉ hôm nay thôi, là đem được di cốt của cụ về, là xong hết mọi sự! Nào, đào!
Mẹ tôi giàn giụa nước mắt. Mấy người nông dân đang mót lúa ở ruộng gần đấy thấy vậy, bỏ việc, xán tới. Thầy nghênh ngáo nhìn trước nhìn sau, chặc chặc lưỡi khen ngôi mộ phía trước có minh đường thủy hội, phía sau có long mạch thu thúc. Mẹ tôi nghe những người nông dân xác nhận ngôi mộ này đúng là vô thừa nhận vì lâu lắm rồi không ai hương khói, sung sướng quá, quên cả lời thầy chê mộ ông tôi đặt vào hung địa hôm nào.
Đó là những giây phút tâm hồn mẹ tôi cất cánh, thăng hoa. Mẹ tôi đang ra khỏi cơn mê mụ, đang rũ sạch mọi ưu phiền, đang thoát khỏi bể trầm luân, khổ ải. Mọi đau đớn, trệ luỵ sẽ tiêu tan. Mẹ tôi trở lại như ngày nào, trinh trắng và thơm ngát như hương hoa.
Hai người trai trẻ thật là những tay cuốc cừ khôi. Mặt trời mùa đông vừa tới ngọn tre, lưỡi cuốc của họ đã xuống sâu gần đến cán. Đất tơi xốp, cứ y như thuận lẽ trời, việc gì cũng được thần linh giúp rập.
Trong giây lát, trút hết những sầu tư, ai oán não nề và sợ hãi, gương mặt mẹ tôi tràn trề nguồn sáng hiển linh. Bao nhiêu là những năng lượng tâm thần dự trữ, thế là cùng lúc đã bừng dậy, từ bên trong mẹ tôi, toả rạng ra bên ngoài.
Kỳ diệu thế đấy, cuộc sống này! Cứ ngỡ rằng nó rắc rối, không biết đâu mà lần, hoá ra nó lại vô cùng đơn giản, rõ ràng. Chú Đạt và bao nhiêu kẻ sẵn sàng hiến đời mình cho chân lý, đã và đang còn mất bao công sức để đào bới, tìm kiếm mà chắc gì đã thấy sự thật? Ở đây, công việc đào bới chỉ cần chút ít sức lực và thời gian. Hoá ra, cả một chuỗi sự kiện với bao đầu mối và đường dây liên hệ dẫn tới bi kịch của gia đình tôi, lại giấu đi cái căn nguyên khởi thuỷ của nó ở dưới ba thước đấy này. Ghê gớm quá là sức mạnh linh hồn của người đã chết!
Ông thầy càng lúc càng tăng vẻ hứng khởi. Thầy lăng xăng, lúc bên này, lúc bên kia miệng huyệt. Khi huyệt đã sâu tới đầu gối, thầy bảo hai người đào thuê hãy nhè nhẹ tay. Và vểnh đôi tai phật, thầy như dò bắt một tần số âm thanh cực nhỏ nào đó đang vi vu trong không trung.
Quả nhiên, khi một lưỡi cuốc chạm đánh kịch vào một vật gì đó dưới lòng huyệt, thầy liền giơ tay, ra hiệu cho rút cuốc lên. Rồi phắt cái, thầy nhẩy xuống lòng huyệt, khom lưng, dùng tay bới bới một thôi một hồi. Lát sau, giữa im lặng nao nao của mọi người, thầy nhảy lên bờ, vỗ vai gọi mẹ tôi đến bờ ruộng dưới chân gò:
Cô bảo quách của cụ bằng sành à?
Dạ, vâng ạ.
Nhớ chính xác chứ!
Nhà cháu nói vậy. Sao ạ?
Không sao! Không sao!
Thầy gật gật rồi bước thoăn thoắt tới miệng huyệt:
Hai chú tiếp tục đào cho tôi. Cháu Toản chuẩn bị căng ni lông che ánh mặt trời. Cô Trang sửa soạn hộp đựng. Cốt của cụ còn nguyên, đẹp lắm.
Hai người đào thuê bổ thêm vài nhát nữa, liền dừng tay. Dưới lòng huyệt, hiện lên đường gờ mảnh ván bên của một chiếc quan tài. Một người kêu: Làm gì có tiểu sành. Ông thầy nghe vậy, liền quát, đuổi cả hai người lên, rồi tụt xuống, cầm chiếc xẻng con xúc đất, hất lên.
Mẹ tôi đứng dậy, bóng liêu xiêu. Ngực dội lên tụt xuống hoăm hoẳm. Thời khắc quyết định sinh tử đã gần kề. Tôi nóng đỏ hai con mắt. Khốn khổ! Quẩn trí hay sao mà chúng tôi lại tự dẫn mình vào tình huống thử thách chết người này?
Mẹ tôi từ từ ngồi xuống, chống tay lên đống đất bên bờ huyệt. Mặt bà nhợt dần như bị hút máu.
Lúc ấy, chợt như có luồng gió lạnh từ xa thổi tới. Mẹ tôi đưa tay xoa mặt, ngẩng lên. Từ phía gò bên kia có một người đàn ông vác cái nơm úp cá đi tới, ông này dừng lại, kêu to:
Ơ, ngôi mộ này là mộ bủ Sâm, vừa cải táng năm ngoái, sao bây giờ lại bới lên?
Ông thầy dún chân từ lòng huyệt nhẩy lên, xấn tới người nọ, xửng cồ:
Anh biết gì mà nói láo!
Rồi quay lại với hai người đào thuê, gắt:
Tôi đã đánh quả nào trúng quả đó chứ. Hai chú, đào đi!
Hai người nọ thở đánh rầm, nhổ phịt hai bãi nước bọt, vác cuốc lên vai, lặng lẽ bỏ đi. Mấy người đứng xem từ nãy cùng cười ồ lên, đồng thanh bảo rằng đúng là mộ bủ Sâm rồi.
Mẹ tôi hoa hoa mắt, đưa tay quờ quạng, xung quanh như một kẻ mộng du. Rồi đột nhiên bà buột búi tóc sau gáy, như cây gỗ ải, rụi từ từ xuống bờ huyệt.
Tôi vội nhẩy tới đỡ mẹ tôi. Người mẹ tôi mềm nhũn. Bao nhiêu sinh lực đã thoát ra hết ngoài. Máu từ miệng mẹ tôi nhổ ra, đỏ sẫm cả một vùng đất, bết cả một mảng tóc vào má.
Đứng bên bờ huyệt, ông thầy bịp bợm, làu bàu chống chế:
Mẹ nó chứ, thế là nó tranh mất cái thế đất đẹp của cụ!