Cảnh huống sinh hoạt nọ chỉ còn lại trong ký ức. Người đàn ông, tức cha tôi, đã biến ra khỏi khung cảnh, ít nhất là đã bốn năm nay, từ khi tôi lên chín. Người xưa mất dạng, còn lại hoạ chăng là cảnh cũ mảnh vườn An Lạc Viên nơi cha tôi vẫn hay đứng ngẫm nghĩ sự đời.
Vườn yên vui thực tình chỉ là một mặt bằng có diện tích chừng tám mét vuông, nhưng lại quy tụ được đến mức tối đa cây và hoa dưới một chủ đề nhất quán: hãy lắng nghe tự nhiên và để nó toả hương vào tâm hồn mình.
Ở đây, phong cách tiết kiệm đến nghiêm ngặt đất đai và không khí của người Nhật được đặc biệt sùng kính. Chậu, bồn, lọ, bình sát nhau, không kẽ hở, nhưng không gây nhàm chán, vì người tạo dựng cảnh quan còn muốn kết hợp tạo nên một cuộc trưng bày nghệ thuật tạo hình của các chất liệu: Gốm, sứ, đất nung, sành, gỗ. Chiếc tròn, chiếc vuông, chiếc bát giác. Cao, thấp, lưng lửng. Cái thon vót. Cái bung toả. Mỗi dáng là một câu thơ đầy ẩn chứa, chỉ giải mã được nhờ phiến lá toả và cánh hoa nở xoè. Các loài cây chịu hạn như hoa đá, xương rồng, ngà voi phô diễn chiều sâu triết học, thậm chí hấp dẫn hơn cả những hồng, cúc, thược dược, ngọc châm chau chuốt, mĩ miều. Các chậu lan đất tạo nên một cực đối xứng với các loài phong lan treo buông từ mấy thanh sắt bắc dàn. Phong lan chứa đựng trong nó cả một khối mâu thuẫn. Ta có cảm giác bị ức chế đến ngột ngạt khi nhìn thấy vẻ xù xì, gộc gạc của nó ở bộ rễ và nơi nó ký sinh. Cả hình hài của dò lan nữa. Xe điếu, thoi chỉ, thảy đều gây cảm giác thắt nghẹt khó chịu, nhưng liền ngay đó kiềm thúc lập tức được giải toả, hồn ta thanh thoát theo độ bung nở tận lực của chùm hoa nở hết đường biên và sự kì ảo của sắc hoa dẫn ta vào luôn cõi mộng.
Thiên nhiên cô đọng một bài học về sự hợp lý tuyệt diệu. Thiên nhiên không thừa thãi một chi tiết nhỏ, âm vang một lời mời thân ái ta đến để khám phá, giãi bày. Phảng phất ở đây một tâm tình bè bạn, rủ rê ta xa lánh sự nhộn nhàng, trở về cõi thiện và sự an bằng.
Những đêm mùa hạ nồng nàn, khuôn viên xinh xắn này thực sự là một miền an lạc và giao hoà; soi trong lòng hoa ám hơi sương, ta như nhìn thấy tia sáng từ những ngôi sao xa ngoài vũ trụ. Cùng với cảm giác được mở rộng tâm giao, ta cũng lại mê man trong hương hoa kết đọng. Dạ hương. Nhài. Quỳnh nở đêm. Thơm nồng. Thơm thanh tao. Thơm đằm thắm, sâu đậm. Một hoà phối trùng phức mà chỉ những ai hồn còn trong trẻo, và tinh tường mới có thể nhận biết được tới tận cùng.
An Lạc Viên di sản mang nhiều ý nghĩa tinh thần do cha tôi hàng chục năm tạo lập tỉa trồng, cặm cụi thể hiện, tiểu vương quốc cây hoa, nơi mẹ tôi gìn giữ như một báu vật gia đình, phần gia sản nằm trong sự bảo vệ của Bi, trưa nay bỗng bị xáo trộn tanh bành!
Đi học về, tôi đã thấy một đám đông người tụ tập ồn ĩ ở trước cổng, trong sân nhà mình. Lách vào sân, tôi hoa mắt. Còn đâu khung cảnh yên hoà của mảnh vườn yên vui. Năm sáu giò phong lan bị giật, rơi lổng chổng dưới đất. Lăn lóc khắp sân là chậu, bình cây cảnh bị xô đổ rập vỡ. Cành gãy, hoa rơi, lá rụng, rễ bung bật. Vườn nhỏ rõ ràng in dấu tích một cuộc phá phách và giằng giật mới xảy ra. Cánh cửa sắt đóng. Bi bị nhốt trong nhà. Mẹ tôi đứng ở sân, tóc tai bơ thờ, mặt mày nhợt nhạt giữa những lời bình phán và châm chọc:
Cái hồi bắt lão ấy có thấy chó đâu nhỉ!
Chà! Tôi đang ngủ, thấy ầm ĩ tưởng thằng anh nó về, nó gây gổ!
Gay đấy! Mùa này mùa chó dại, toi như bỡn chứ đùa!
Này, có bị chảy máu không? Cứ gia chủ mà ăn vạ, bà Lên ạ!
Trung tâm chú ý của đám đông là người đàn bà béo trục béo tròn đang ngồi ôm ống chân phải, rên hờ hờ ở giữa sân. Đứng đằng sau bà này là ông Viển chủ tịch phường, phương phi như hộ pháp. Trước bà ta là một gã trai hai mươi tám tuổi, trán dô, gáy lõm, răng vẩu, hai chiếc răng nanh bọc vàng, mặt sùi trứng cá.
Mẹ tôi ở thế yếu, ngửa hai bàn tay phân trần:
Con Bi nhà tôi đã tiêm phòng dại rồi. Có bác Viển đây chứng nhận. Còn bảo là không xích thì không đúng. Với lại.
Không để mẹ tôi nói hết, gã trán dô vung tay hùng hổ:
Xích gì! Xích thế nó đánh rắm cũng đứt! Bà là bà cố tình. Gia đình bà chống lại chủ trương, chính sách của nhà nước có hệ thống, bà có biết không?
Mẹ tôi nhăn nhó:
Cậu Xuân Chương ơi, sao cậu hay quy kết thế!
Còn oan hả? Chồng thì thế. Thằng con trai bà hành hung tôi, án đã lĩnh đủ, giờ lại đến con chó.
Hình như giữa những tiếng trao đi đổi lại ở đám đông ngoài cổng có một ai đó vừa buông một câu rất trái gió ngược chiều, nên người đàn bà đang ôm chân ăn vạ lập tức buông tay vùng ngay dậy, xoe xoé:
Tiên nhân cha đứa nào bảo tao vào ăn cắp hoa nên mới bị chó nhà nó cắn nhé! Bà là bà dí đít vào các thứ hoa nhà mày. Hoa nhà mày thối như cứt, biếu bà bà chỉ cắm vào chuồng xí thôi, hiểu chưa!
Có tiếng người cười ồ một hơi. Gã trai quay cái trán dô ra cổng, chống tay lên háng, xửng cồ:
Yêu cầu ăn nói có tổ chức nhé! Với lại, bất biết là lý do gì. Luật nước đã có rồi. Chó vô cớ cắn người là chủ đền. Nợ máu là trả máu!
Ông Viển lục ục đôi ủng cao su, quay ngang quay ngửa, lên giọng:
Thế nào! Thế nào! Thế nào thì cũng phải kẻ nói còn có người nghe chứ!
Thấy đám đông nín thít, ông liền cúi xuống, kéo ống quần người đàn bà, chặc lưỡi thật to:
Hừ, mục sở thị rồi. Hai nốt sâu đấy! Có đau không?
Hư hư. đau quá, buốt quá!
Hừ, nguy hiểm quá! Tôi đã phổ biến rồi. Thế nào! Thế nào! Có nghe tôi nói không? Về phía cô Lên, khi gặp chó dữ, phải như thế nào? Còn phía chị Trang.
Gã trai hếch mặt, ngắt lời ông chủ tịch:
Tôi yêu cầu bà Trang nhè tiền ra để tôi đưa cô Lên tôi đi bệnh viện. Tốn phí thuốc men và bồi dưỡng phục hồi, bà Trang cũng phải chịu. Ngoài ra, nếu vết cắn gây thương tật suốt đời, hay nguy hiểm tính mệnh thì đề nghị toà án quận can thiệp.
Mẹ tôi mắt mưng đỏ, nhễ nhại:
Chó nhà tôi vừa tiêm phòng dại tháng trước chứ đã lâu gì. Chính ông chủ tịch đưa người y sĩ đến, chứ nào có phải ai.
Ông Viển phẩy tay, mồm bành rộng một tiếng cười nhạt:
Xét việc công không thể như chị Trang nói được! Nhưng thôi, việc này, trước hết hai bên các vị phải hiệp thương với nhau đã. Đó là lẽ thông thường. Rồi sau thế nào chính quyền sẽ có ý kiến. Có phải không, bà con?
Xuân Chương giơ hai nắm đấm lên trời, ngoác mồm:
Tán thành đấy! Chó căn người, chủ phải đền!
Nhưng mà tôi xin có ý kiến.
Mẹ tôi quay ngang người, giang hai tay, bộ điệu kinh hãi, mất cả tự chủ. Bà nghẹn lời, không phát thêm được một tiếng nào nữa, để kêu gọi sự bênh vực sáng suốt của công luận. Đám đông tụ tập ngoài cổng, một lần nữa thể hiện đầy đủ tính chất a dua a tòng mù quáng và sự hèn đớn trước uy lực trấn áp của ông Viển, cùng dào lên như một ngọn sóng dữ, hưởng ứng lời gã trai nọ và sau đó tản khai, thây kệ sự đời.
Tất nhiên trong đám đông nọ cũng có người biết được trò phối hợp đê tiện giữa ông Viển với người đàn bà nạn nhân của Bi tức bà Lên và Xuân Chương, kẻ gọi bà Lên là cô, nhưng chả ai dại mà bênh vực mẹ tôi cả!
Viển, Lên, Xuân Chương, bộ ba tướng sĩ tượng ở phường tôi!
Xét về mọi phương diện, kể từ diện mạo, dáng vóc bề ngoài, sự chọn lựa kẻ tâm phúc của mỗi vị phải công nhận là khéo. Ba người nam, nữ, trẻ, già khác nhau, nhưng lại hao hao hình sắc, cũng kỳ hình dị tướng và đầy vẻ gian manh như nhau.
Viển, còn gọi Viển cụt, hộ pháp kềnh càng, hai cánh tay khuỳnh khèo như hai cái còng cua, mặt đỏ bứ như người sung huyết, môi dày, cổ to. Trong hàng ngũ chức sắc cấp phường, y nổi tiếng là quyền biến, tráo trở và háo sắc!
Nguyễn Thị Lên là cái tạ gạo biết đi. Má bánh đúc. Mắt lá răm. Ngực như hai nắm cơm. Người hừng hực bản năng giống cái.
Xuân Chương tên mỹ miều, thực tình chỉ là một gã trai đàng điếm. Người gầy lẳng khẳng dáng cò hương, tướng khỉ, gáy lõm, trán dô, mắt vàng, môi lợt, tiếng nói eo éo.
Họ dọn đến khu tập thể này gần như đồng thời. Nhưng đến đây mới quen nhau. Cả ba đều ở diện hưởng ưu đãi của chính sách. Viển khai là thương binh què chân (nên tứ thời đi ủng cao su) chứ không phải là cụt ngón tay chỏ. Xuân Chương khai là thương binh loại nhẹ. Lý lịch ghi là có thời là thanh niên xung phong tuyến lửa. Mụ Lên là vợ liệt sĩ.
Viển là chủ tịch phường. Lên là chủ nhiệm cửa hàng kinh doanh tổng hợp, buôn bán từ đồng, chì tới sa nhân, thảo quả, băng vidéo và mắm kem. Xuân Chương được phân công chuyên trách văn hoá tư tưởng của phường. Chính quyền, kinh tế, văn hoá. ba người nắm ba mặt quan trọng nhất của đời sống, thật khéo!
Bộ ba này dính với nhau như nhựa. Quan hệ của họ không minh bạch, thậm chí hỗn độn đến khó hiểu. Chủ tịch phường lắm hôm say bí tỉ ở nhà bà chủ nhiệm. Cậu cháu khi thì cô cô cháu cháu ríu ran, lúc lại béo má, day tai bỡn cợt với bà cô như bằng vai phải lứa! Ngược lại, bà cô cũng chẳng nề hà gì mà không vượt qua rào ngôi thứ cách bức!
Lương cô giáo cấp hai nửa tháng đầu vừa mới lĩnh, mẹ tôi đành đưa hơn nửa phần cho Xuân Chương, để y chi cho sự đi lại và thuốc men cho mụ Lên.
Bữa cơm chiều thật buồn. Tôi chỉ ăn được hai bát. Bi nằm thỉu trong gầm phản. Mẹ tôi bưng bát cơm lên lại đặt xuống, nước mắt lưng tròng. Con dại cái mang, đành là thế. Nhưng, trong chuyện này, điều gây bức bối là ở chỗ thấy mình bị ức hiếp và rơi vào cảnh hoàn toàn cô lẻ hết sức vô lý. Mụ Lên và Xuân Chương cùng phường mèo mả gà đồng, quen nghề đổi trắng thay đen, mồm loa mép giải để thủ lợi thì chẳng nói làm gì. Đáng buồn là đám đông xóm giềng lân cận. Khi xưa thân mật, tin cậy, kính nể là thế. Khi xưa, tấp nập vào ra trò chuyện, hỏi han, nhờ cậy là thế! Giờ một lời hỏi han cũng không, chứ đừng nói lại qua thăm viếng. Vô phúc cho ai từ nơi xa đến hỏi lối. May mắn lắm là được lời chỉ bảo với hai con mắt nhìn đầy tinh thần cảnh giác và nghi ngờ. Nhà tôi, nhà có người đi tù! Người xưa chê trách thế thái nhân tình mỏng, bạc là có lý. Nhưng trong chuyện này còn có điều đáng nói hơn: con người là vậy đấy, suốt đời họ có thoát khỏi vòng vây ép rất nặng nề ở bên ngoài họ đâu!
Vậy thì, tốt nhất là đừng có bị xích tay lôi đi và tống vào nhà ngục. Bởi vì, như thế là anh đã ở phía đối lập với tất cả. Và tổ dân phố lập tức được nhóm họp để nhỏ to báo cho nhau biết, anh là một phần tử nguy hiểm. Chỉ cần biết như vậy thôi. Mặc nhiên là vậy. Liệu còn có ai đến với sự thật vì một mục đích cao hơn sự an ninh riêng mình?
Càng lớn tôi càng nhận ra cảnh ngộ rất đáng buồn của gia đình tôi. Cảm giác cô đơn tôi nhận ra đêm ba mươi tết năm rồi, Bi vốn thông minh, nó phải thừa hiểu điều đó chứ! Vở bi kịch còn thiếu điều buồn thảm hay sao, hở Bi!
Tôi đâm cáu với Bi. Đặt bát cơm trộn của nó xuống chân mễ, tôi hằm hằm nhìn nó:
Ra mà ăn đi! Rồi đi mà cắn bậy!
Mẹ tôi đặt bát cơm xuống rìa mâm nhìn tôi, nghẹn ắng:
Đừng mắng oan Bi, con. Bà Lên lẻn vào định ăn cắp hoa, Bi mới xổ ra. Khổ, rắn đổ nọc cho lươn là thế!
Tôi ngồi thụp xuống đất. Bi chui ra khỏi gầm phản. Nó không đến với bát cơm. Nó rúc vào lòng tôi, rít khe khẽ. Chắc nó rất buồn và cũng có phần ân hận. Tôi vuốt ve nó, tôi muốn xin lỗi nó.
Bẵng đi một dạo không thấy ai nói, giờ khắp nơi lại xì xầm câu chuyện bên âm đang có loạn và lời khuyên: đêm đêm nghe thấy tiếng chân rậm rịch thì đó là tiếng chân các cụ bên âm đi tuần tra, chớ có mở cửa mà mang vạ. Cùng với câu chuyện dị đoan nọ, phường tôi ở xuất hiện bọn lưu manh chuyên bắt trộm chó.
Bọn này thường hoạt động vào chập tối và lúc tờ mờ sáng, khi chó ở các gia đình được tháo xích cho đi nhởn. Thủ đoạn bắt trộm chó của chúng vừa tinh vi vừa tàn bạo. Phổ biến nhất và cũng tương đối đơn giản là cách câu ếch. Cầm một cuộn dây ni lông buộc lưỡi câu mắc một con nhái bén nướng thơm, chúng đi đến gần con chó và tung mồi. Ngửi thấy mùi thịt nướng, rất ít chó biết đó là bẫy. Chó liền đợp mồi, nhai. Khi ấy bọn bất lương mới giật mạnh giây. Lưỡi câu bằng thép gọng ô, nhọn sắc, mắc vào hàm, dù chó to dữ mấy cũng đau cứng họng, chịu không nổi. Cẩn tắc hơn, có bọn còn lồng một ống bơ to vào dây câu. Chó đã mắc lưỡi câu, kéo mạnh ống bơ theo chiều dây dốc tụt xuống, đóng vào mõm chó còn chắc hơn cả rọ sắt. Khi ấy, bọn bắt chó chỉ còn việc hất chó vào bao tải, vứt lên sau xe đạp và phóng đến các hiệu thịt chó đang mọc như nấm trong thành phố.
Có bọn áp dụng thành tựu khoa học hiện đại trong trò lưu manh này. Chúng dùng dây kim loại mềm làm dây câu. Chó đớp mồi rồi chúng mới quay máy phát điện. Chó chết đứ đừ ngay tại chỗ.
Với bọn chó cảnh bé con con, chúng chỉ cần dụ ra khỏi cổng là quơ tay tóm được liền. Loại này giá hàng cây vàng một con, lại cũng là mặt hàng xuất khẩu có giá.
Khi đám chó con đã bị bắt vãn, bọn ăn cắp chó bắt đầu tấn công loại chó to, chó dữ. Với loại chó này bọn chúng không từ một thủ đoạn hung bạo nào. Đập vỡ sọ, phang gẫy lưng, quật què cẳng, miễn là không còn chống cự lại được và ném được vào bao tải. Có lần, cả bọn bốn năm đứa, giữa ban ngày ban mặt, hô hoán con chó nọ là chó dại phải đập chết, rồi vây ép, dồn đuổi con vật ấy xuống một cái ao nhỏ và dùng gạch đá ném cho kỳ chết.
Trần đời mới thấy có bọn côn đồ độc ác đê tiện thế! Các cụ già bảo: Xưa chỉ có trộm trâu, trộm bò, trộm ngựa thôi. Mà cũng chưa thấy bọn trộm cướp nào vu vạ con vật là điên, dại để công nhiên hạ thủ cưỡng đoạt!
Thế là mới chỉ riêng là thân chó thôi, chưa cần phải cắn ai, gây sự với ai, Bi đã có kẻ thù rồi!
Đề phòng mọi sự bất trắc có thể xảy ra, tôi không cho Bi tự do dong chơi nhiều như trước. Mỗi ngày tôi chỉ thả nó trong khoảng nửa giờ, vào lúc ngủ dậy mỗi sớm. Nó thực hiện, nhưng tỏ vẻ khó chịu. Vì nhu cầu chơi nhởn với đám bạn bè của nó thật là nhu cầu của sự sống, riết róng lắm. Đã không ít lần nó bứt xích chui, lách, lẻn đi chơi mà không được sự đồng ý của chủ. Tự nó đã mang nỗi nguy hiểm về cho mình.
Sớm ấy, Bi đã gặp bọn trộm chó!
Có hai gã trạc hai mươi tuổi, to béo, mặt nung núc thịt đi chiếc Honda 70 từ đâu đến. Bọn này mới phát minh cách bắt chó mới, giản tiện hơn và hiệu quả hơn. Thấy Bi xởn xơ đang thơ thẩn sớm mai trên bãi cỏ gần hồ nước, chúng liền vòng xe lại. Tài lái thiện nghệ đã khiến chúng tạo ngay được những vòng vây nhỏ hẹp rối rít quanh con chó càng lúc càng ngơ ngẩn trước một trò lạ mắt. Tại vòng quay thứ bảy, khi chiếc Honda lướt cách Bi ba mươi phân, tên ngồi sau xe cầm chiếc thòng lọng làm bằng dây điện bọc nhựa cứng, căn rất chính xác, choàng qua đầu Bi.
Bi khi ấy còn đang ở trạng thái bị thôi miên. Tới lúc chiếc xe vụt qua, bỗng thấy bị giật mạnh và cổ họng tự dưng bị thít ngẵng đột ngột, đau thắt lại và nghẹt thở vô cùng, nó mới biết rằng, một tai hoạ chết người đã sắp cắt ngang đời nó! Hai tên trộm này sử dụng nút thòng lọng và tốc độ của Honda 70 sẽ giết Bi trong nháy mắt, hệt cách bọn maphia đã dùng dây chịt cổ để giết người lành gần đây được chiếu trên màn ảnh.
Tình huống thật là tuyệt vọng! Cái chết đã cầm chắc! Nhưng Bi quả là một con vật cực kỳ thông minh và bình tĩnh. Cách thoát hiểm duy nhất lập tức xuất hiện và được nó thực hiện trong một phản xạ tức thời, trong vòng một hai tích tắc. Nhận ra tình thế, nó dùng hết sức bật mạnh bốn vó, phi thân bay lên, nhanh hơn cả đà lao của chiếc xe, đợp một phát trúng cổ tay tên ngồi sau xe cầm dây thòng lọng.
Thằng nọ kêu ối, buột tay. Chiếc xe loạng choạng, suýt đâm xuống hồ. Sợi dây thòng lọng làm bằng dây điện bọc nhựa cứng một khi không có lực kéo, tự động nới rộng ra. Hú vía, Bi quay đầu chạy bán sống bán chết.
Tôi đi tập thể dục về, đến cổng thì đã thấy Bi đứng chờ. Nó chồm lên tôi, ôm ngang người tôi, nép vào ngực tôi, thở hổn hển. Cổ nó còn loằng ngoằng sợi dây thòng lọng. Nó biết: Nó từ cõi chết trở về!
Mẹ tôi từ trong nhà chạy ra. Mẹ ôm chầm Bi. Mặt mẹ xanh xám sợ hãi. Mẹ kể, đêm qua mẹ mê thấy có một con rồng từ đâu bay đến cắp Bi đi ăn thịt.
Từ hôm ấy tôi với mẹ tôi sống với những ám ảnh ghê sợ. Mẹ hay mê những giấc mơ lạ lùng. Mê nhà cháy. Mê thấy ông ngoại hiện về mắng mỏ. Mê thấy những con quái vật.
Thật không ngờ, cơn mê của mẹ tôi ngay sau đó ứng nghiệm vào con Bi.
Một chiều đi học về, tôi hốt hoảng chạy như lao vào bếp, run lên kinh hãi vì nhận ra vừa có cuộc huyết chiến giữa Bi và một kẻ gian vừa đột nhập vào nhà. Chấn song cửa sổ bị xà beng bẩy cong vêu, roãng rộng, vừa người chui lọt. Dưới sàn bếp, cạnh một miếng thịt trâu thui đen, Bi bê bết máu nằm liệt, mắt he hé, thoi thóp thở từng hơi ngắn. Trên sàn nhà, loè nhoè những vệt máu loang.
Câu chuyện đã diễn biến như thế này chăng? Một tên gian trước khi đột nhập vào gian bếp nhà tôi đã ném vào cho Bi miếng bả thịt trâu. Đinh ninh là Bi đã mắc bẫy và nằm quằn quại chờ chết, lúc sau tên gian mới bẩy song cửa, chui vào. Ngờ đâu Bi đã nhớ như in lời mẹ nó dặn, không đoái hoài tới miếng bả thịt và nằm im, phục sẵn chờ kẻ gian phi. Cuộc đấu lực ác liệt diễn ra. Bi bị đâm nhát ở mông, nhát ở lưng; nhưng tên đạo chích cũng đã không thoát khỏi những miếng cắn trừng phạt lợi hại của Bi. Chứng cớ là những giọt máu của y để lại trên sàn bếp. Chứng cớ là cuộc tháo thân của y và đồ đạc trong bếp nhà tôi còn nguyên vẹn.
Nhìn đám nồi, xoong, bát đĩa trong bếp nhà tôi, bất giác tôi phải tự hỏi và tôi không sao trả lời được. Chẳng lẽ là mấy cái nồi xoong cũ kỹ và lũ bát đĩa nhốc nhếch tầm thường kia lại được tên gian nọ đánh giá cao đến mức y có thể dấn thân mạo hiểm? Mẹ tôi nói mai mỉa mà nước mắt ứa ròng ròng: Nó tưởng bố con có của chìm của nổi gì! Không, nếu vậy thì đối tượng mà nó nhằm tấn công không phải là cái gì khác, ngoài chính Bi. Phải! Bi chính là nhân vật đã xuất hiện và có vai trò của nó!
Tôi bế Bi lên giường. Lau mình cho nó xong, tôi lấy thuốc mỡ bôi lên các vết thương của nó. Mẹ tôi bảo: Khổ thân Bi. Nhưng đừng lo, chó liền da, gà liền xương. Ngày một ngày hai Bi sẽ khỏi thôi.
Mẹ bảo tôi trông Bi để mẹ đến nhà ông Viển báo cáo lại sự việc vừa xảy ra. Lát sau mẹ trở về nói: Con Xồm nhà ông Viển dữ quá. Cứ như con yêu con quái. Thấy mẹ, nó gậm kột kột cái cột cũi. Ông Viển và Xuân Chương đang thui chó. Mụ Lên bắc bếp ở trụ sở Uỷ ban. Mụ chẳng đi bệnh viện, sau lần bị Bi cắn chảy máu đâu. Tiền mẹ đưa, họ mua chó về đánh chén. Thế mà thấy mẹ, họ lại còn nói: Mở tiệc ăn mừng vì thoát chết đây! Mấy hôm sau vết thương của Bi đã liền miệng. Tuần sau thì tróc vẩy, lên da non. Rồi lông vàng phủ lên, che khuất. Bi lại như ngày nào. Nhìn bề ngoài, dễ tưởng nó cũng như mọi con vật khác thôi, nghĩa là nó đến với gia đình tôi như một ngẫu nhiên, rồi nó ở với gia đình tôi như một sự lắp ghép, thêm thắt vào. Có biết đâu, nó đã hoà nhập vào gia đình tôi, cùng đồng hành, chia xẻ. Vật và người, đồng minh của nhau, phản ánh nhau. Biết vậy, tôi vẫn không khỏi ái ngại và thương nó. Bỗng dưng nó ở vào cảnh ngộ một nạn nhân, lĩnh đủ mọi rủi ro do số phận oái oăm đưa đến cho gia đình tôi. Mà nó thì sinh ra đã có tội tình gì!
Nhưng mà Bi chấp nhận cảnh ngộ. Nó không biết phàn nàn. Cũng không sợ sệt, lui bước. Nó chủ động đương đầu chịu thử thách. Và lần thử thách này mới thật ác liệt, nặng nề.
Tôi đi học về đã thấy trẻ con người lớn í ới gọi nhau, kéo nhau ra bãi cỏ cạnh hồ cá của phường. Chưa hiểu chuyện gì thì có người réo vào tai:
Toản! Ra mà đem xác con Bi nhà mày về. Nó bị cắn sắp chết rồi!
Trời! Tôi vứt sách vở vào nhà, chân chạy mà hồn vía như chẳng còn.
Hơn hai chục người lớn và trẻ con đã túm tụm trên bãi cỏ sát ngay bờ hồ, nơi vẫn hay họp chợ. Tôi chen vào, run bắn người ngay lập tức. Con Xồm nhà ông Viển và con Bi nhà tôi đang cắn nhau. Chính xác thì phải nói rằng: Con Xồm đang cắn con Bi nhà tôi. Con Xồm, như tôi đã có lần nói, lâu nay độc tôn chiếm giữ ngôi vị đệ nhất ác cẩu trong vùng. Nó vừa to con, vừa khoẻ, vừa hung dữ. Chẳng con nào có thể địch nổi nó. Thông thường, thấy nó là mọi chó đều lảng, đều chạy, chứ đừng nói là dám nghênh chiến. Vào lúc này, con Xồm lớn gấp rưỡi con Bi và đã vào hạng chó già, chó đã thành tinh, thành quái. Thuộc dòng trực hệ của loài sói, nó lại được nuôi ăn toàn bằng thịt, nhiều khi là thịt tươi sống. Nó có thói quen bắt gà, mèo, chó con để ăn thịt. Nó to bằng con bê, lông lá vằn vèo, rùm roà phủ đầy đầu và quanh mặt. Đuôi nó dài và cứng đơ như bằng song.
Lúc này con Xồm đã đè dập con Bi nhà tôi ở dưới đất. Nửa mình nó che kín địch thủ. Hai chân sau nó to như chân lợn nái chống dưới đất rung bần bật vì sức dún. Trong khi mõm nó xục vào cổ con Bi, tìm yết hầu con này để cắn. Con Bi nhà tôi yếu thế quá, hơn nữa sức nó sao đương cự được với tên ác cẩu cỡ đại này, nên nằm bẹp như cái xác ở dưới. Nắm chắc phần thằng, con Xồm vừa kêu quặc quặc vừa ra sức giật cái cổ dề của con Bi nhà tôi. Có lẽ nó tưởng cái cổ dề là da thịt con Bi. Thói hung tợn, nóng nảy là cái mạnh áp đảo của con Xồm, nhưng chính đó cũng lại là điểm yếu của nó. Cuộc chiến đôi bên do vậy sẽ diễn ra không hẳn là đơn giản như mọi người nghĩ. Nghĩa là, phần thằng chưa phải đã thuộc về ngay con Xồm nhà ông Viển.
Một lần nữa tôi lại thấy đám đông vốn tiềm tàng một thói xấu muôn thuở: a dua a tòng phù trợ kẻ thịnh, bất kể nó là xấu xa thế nào, thêm nữa, một khi bị kích động thì cũng dễ dàng trở lên ngu muội và độc ác như thế nào! Thế đấy. Lẽ ra phải can ngăn con Xồm để khỏi xảy ra án mạng tang thương, lẽ ra phải mủi lòng trước số phận bi thương của kẻ yểu nhược, lẽ ra phải bênh vực kẻ không may là con Bi, thì họ lại đồng thanh hò la cổ vũ và mách nước cho con Xồm.
Hoan hô con Xồm! Chết cha con Bi nhà thằng Toản rồi!
Xồm Xồm! Cho nó một phát vào cổ họng đi!
Hảo hán chơi nhau bằng răng mới thật xứng danh hảo hán! Tùng, tùng tùng. Tiến lên, Xồm ơi!
Cả đám người như lên cơn động kinh, chuyển dịch quanh đám hai con chó đánh nhau với tiếng hò hét, hối thúc và những bước nhảy tâng tâng, khoái trá, càng lúc càng man rợ. Ra vậy, con người vốn có tử tế hiền hậu đâu. Buông thả nó nó cũng thích chơi trò bạo ngược, lấy thịt đè người lắm!
Mắt tôi mờ mờ quay vòng. Tôi rơi vào trạng thái lên đồng. Và tôi nhận ra, con người ta còn một khía cạnh bất ngờ nữa là rất ương ngạnh, dẫu là yếu ớt, nó cũng chẳng ngay một lúc chịu nép một bề, cam chịu.
Thế là tôi gạt vòng vây nhảy vào xát cạnh hai con chó đang quần nhau, với tư cách là người của một bên đối địch. Tôi rạp mình xuống, cố để cho con Bi nghe thấy tiếng mình:
Bi! Bi! Có anh đây! Cố lên! Cố lên! Bi!
Ở gần mới thấy tình thế con Bi không hoàn hoàn bi đát. Có thể hình dung sự việc diễn ra như sau. Con Bi xổng nhà ra hồ chơi. Xuân Chương đang ở cửa hàng kinh doanh nhác trông thấy con Bi, liền hí hửng chạy về, xúi ông Viển mở cũi cho con Xồm xông ra chơi đòn trừng phạt bất ngờ. Bất ngờ thật, vì con Xồm lồng tới như một cơn gió. Chưa kịp tránh, con Bi đã bị vồ và nhờ ưu thế to con, cường tráng và chủ động, nên con Xồm dành được thế thuận. Tuy nhiên, nó đã ngu xuẩn là đã ngoạm vào cái cổ dề của con Bi và mất rất nhiều sức để nhai giật cái vật mà nó ngỡ là một bộ phận cơ thể của con Bi. Hơn nữa, con Bi lại là một cá tính ngoan cường và khôn ngoan. Bị đè dập xuống bằng một sức mạnh hung bạo, nó không nao núng. Y như rằng lúc nguy cấp là nó bừng lên sự nhanh trí kịp thời, nó liền gục mặt xuống, giấu bằng được cái cổ và dồn sức vào hai chân sau, hích thật mạnh mông lên. Một là để lật con Xồm, hai là để lừa con Xồm rời đầu nó ra, quay lại, tấn công vào mông nó. Rõ ràng là trận đấu đã trở lên quyết liệt dần. Phần vì sự chống trả mãnh liệt của con Bi. Phần vì con Xồm càng lúc càng cay cú và say máu. Răng nó nhe ra trắng ởn, và rớt rãi nhểu xuống, ướt đẫm cả đám lông cổ của con Bi.
Hai con chó đã biến thành hai mãnh hổ và cuộc quần thảo càng lúc càng hừng hực khí lực căm hờn, quyết không đội trời chung. Trong khi ấy, vây quanh chúng, bầu không khí chiến trận cũng càng lúc càng bốc mạnh. Thật tình chẳng hiểu vật hay người, đám nào có tác dụng cổ động cho đám nào!
Trong náo động vậy, tôi còn có cách nào hơn nữa là phải cố gào thật to để truyền đến con Bi một tín hiệu thân thuộc, để nâng đỡ nó, để cổ vũ nó, để trở thành một nội lực của chính nó.
Con Bi có lẽ đã nhận ra được tiếng tôi. Ôi, có thể nào mà lại không nghĩ tới một sức mạnh tiềm ẩn bỗng được khơi nguồn, nhân lên gấp bội chỉ nhờ đơn thuần bằng sự hỗ trợ tinh thần! Bi đã chống được hai chân sau lên. Lưng và mông nó đã trượt ra khỏi thế kìm kẹp của con Xồm. Và bây giờ, một năng lượng mới đã tràn vào cơ thể non tơ đầy sức quật cường của nó. Bao nhiêu nguy nan mà nó đã gặp, những kham khổ mà nó tự nguyện dấn thân, hóa ra là đã có tác dụng rèn luyện sức bền dai và khả năng chịu đòn của nó.
Và bây giờ, thời cơ đã đến! Bằng một cú đánh đầu hất ngược lên vô cùng ngoạn mục và hết sức mạnh mẽ, nó đã thoát ra khỏi sức đè ép của con Xồm. Tiếp đó, nhanh như cắt, bật lui về sau, đầu rạp xuống để tránh miếng đánh trả của địch thủ, nó đã dành lại thế đối mặt chủ động!
Đám người ủng hộ con Xồm lập tức vỡ ra với những tiếng kêu kinh hoàng. Vòng người roãng rộng. Bi đã nhìn thấy tôi. Đuôi nó khẽ phất một cái như cờ hiệu vẫy. Nhưng, đúng là chưa phải lúc biểu lộ tình cảm. Trước mặt nó, giờ đây là một trận chiến sinh tử sắp mở màn. Vì con Xồm đã lại nhe răng hộc hộc tiến lại. Mất mồi, nó uất, đỏ sặc hai con mắt. Thói kiêu ngạo của nó bị bỉ bai, nó quyết phải rửa hận!
Khoảng cách giữa hai địch thủ chỉ xuất hiện trong chốc lát. Cả hai con đều tìm một cự ly thích hợp và chúng dùng cùng một miếng võ như nhau. Và thế là, hệt như ngựa chiến xung trận, chúng phóng thẳng vào nhau. Hai khối căm hờn đập đánh bịch vào nhau, cùng dựng thẳng lên và cùng bật lui về sau, cùng ngã quay lơ. Bi vùng dậy sớm hơn vì nhỏ con, dễ xoay trở, vì thà chết không chịu thua, không chịu nhục. Nhưng lần xáp lá cà thứ hai, nó bị trượt chân, mất đà. Lập tức, đám người theo đóm ăn tàn nọ, vớ được cơ hội, reo toáng lên như nổi chiêng trống.
Con Xồm lập lại thế đánh cũ, nó phủ trọn cả tấm thân đồ sộ lên người con Bi. Bi lại rơi vào thế bất lợi. Nhưng, trong cái rủi ro tìm ngay được cái may. Đáng là nằm sấp thì nó bật ngửa mình lên, xoè hết sức căng của bốn bộ móng vuốt sắc nhọn như gai chanh, nó thúc mạnh vào bụng con Xồm, vùng da non và không có lông phủ. Đồng thời mõm nó, với hàm răng lợi hại, không bỏ lỡ cơ hội, nhằm chúng mẩu thịt nhô ra ở dưới bụng địch thủ tức cục báu của con Xồm, bập mạnh.
Đòn ra quá hiểm và bất ngờ!
Con Xồm hếch mặt phắt dậy, hoác mõm tru một hồi, rồi giãy giụa trong đau đớn và điên cuồng, tìm cách thoát thân. Nhưng, thoát sao được. Bi nhất quyết thực hiện miếng võ đánh vào hạ bộ tên ác thú này!
Bây giờ, thực tình tôi mới thở phào và nhận ra Xuân Chương mặt không còn hạt máu ở phía đối mặt với tôi. Tên đầu têu ra vụ ác chiến này tưởng con Xồm ăn sống nuốt tươi con Bi, nên mới nảy ra ý định mượn chó nhà ông Viển để trả mối hận của y với gia đình tôi. Giờ con Xồm mà đi đời nhà ma, thì nguyên việc đền bù cho ông Viển y cũng sạt nghiệp, chứ chưa nói đến những thất thiệt khác y phải nhận.
Hết khôn dồn ra dại, Xuân Chương chạy tới bờ rào tre cạnh hồ, nhổ một cái cọc. Y xông vào đám hai con chó. Khốn nạn, lẽ ra phải lồng chiếc cọc vào giữa hai con, bẩy cho hai con tách nhau ra thì y lại giơ cao bổ xuống. Con Xồm đứng trên bị luôn một nhát vào lưng, kêu oắng một tiếng thất thanh!
Có lẽ tiếng kêu của nó đã cứu nó.
Nghe thấy tiếng ủng bước vội vã lịch bịch, mọi người quay cả lại, nhận ra ông Viển cao lớn lừng lững, trong đôi ủng cao su đen, đang hấp tấp đi tới.
Thế nào! Thế nào!
Dằn được hai lần câu nói hách dịch quen thuộc cửa miệng, Viển liền há hốc mồm, đứng ngay đơ. Nhưng Viển quả là một kẻ lọc lõi trường đời. Đưa mắt lướt qua, ông nhận ra ngay cú đánh tuyệt luân của con Bi và tình huống tuyệt vọng của con Xồm.
Cứu được con Xồm lúc này thật là không đơn giản. Cứ trông mặt ông cũng thấy điều đó. Mặt ông thường ngày ứ huyết, giờ đây bỗng chùng mềm và lạnh rợi hẳn đi. Tất cả cơ bắp ở cái cổ và hai vờ vai u dường như thả lỏng hoàn toàn, như sắp rời rã cả. Ông đang vận dụng pháp thuật huyền bí gì. Tôi nhận ra những làn vệt chuyển động dưới làn da mặt bì bì của ông. Có thể là tất cả các lỗ huyệt trên mặt ông đều đã mở hết, mở hết để thâu nhận cả sự thông thái lẫn gian ngoan ở thế gian này. Cuối cùng, ông thở đánh phịch và vung tay, giọng chắc đanh như chém đá:
Cho tôi tờ báo!
Quát đoạn, ông ngồi xuống và thọc tay vào cái túi quần lần lần rờ tìm. Mọi người quây cả lại, tò mò sợ sệt. Bùa phép gì đây? Mặt thẩm lẩm, hai nét vạc hai bên mép hằn sâu, trông ông lúc này đầy vẻ ác hiểm, gai góc.
Cái gai góc trong thuật ứng xử của ông đã được moi từ túi quần ông ra kia rồi. Nó là cái bật lửa. Xuân Chương cầm tờ báo tới. Cái bật lửa trong tay ông chuội đi vì ngón tay cụt, nhưng cuối cùng cũng bắt lửa. Hoá ra kinh nghiệm can trâu đánh nhau chí tử hồi còn là lái trâu vẫn còn có ích. Tờ báo cháy đùng đùng. Quân Tào tháo tan tành ở Xích Bích cũng chỉ vì một chữ Hoả mà thôi. Ha ha. ông Viển cười đắc chí, tay giơ cao một ngọn lửa vàng nháng giữa các gương mặt kinh sợ của mọi người.
Bi đành nhả hàm răng, mở đường hiếu sinh cho con Xồm. Con Xồm ròng ròng máu, cụp đuôi chạy thập thễnh về nhà.
Tôi bước lại. Bi trỗi dậy và khuỵ vào lòng tôi.
Nửa tháng sau Bi mới lành các vết thương. Còn con Xồm từ đó thui chột hẳn thói hung hãn. Cỗ máy sinh dục của nó bị thương tổn nặng nề. Nó trở thành một lão chó già suốt ngày nằm lì trong cũi gỗ. Trong khi đó, sau trận thắng, Bi lại có vẻ hung hăng hơn. Xổng ra là nó chạy đến trước công nhà ông Viển, sủa ầm ĩ, như lên tiếng gọi con Xồm ra tiếp tục tỷ thí. Ông Viển hoảng quá, có hôm phải đi cửa sau sang nhà tôi bảo tôi gọi con Bi về. Từ đó hình như vì nể mẹ tôi và tôi hơn, ông bỗng hay sang nhà tôi. Trận đấu đánh dấu một bước ngoặt trong đời Bi. Bi đã qua tuổi vị thành niên. Bi đã khôn lớn thật sự!