Có lúc công khai cất tiếng sủa. Có lúc dõi theo với thái độ ngấm ngầm đối địch. Cả cái đêm ba mươi thời gian và không gian chuyển động bất thường ấy, Bi không ngủ. Bi cứ ở nguyên cái vị trí trấn giữ cửa ra vào nọ, một mình một lèo một phiên canh.
Nói cho chính xác thì người lính bé nhỏ nọ có ngưng việc gác cửa chừng năm phút để ăn một bát cơm trộn thịt lợn với nhiều xương gà. Chú ăn rất gọn. Xương to, xương nhỏ nhai nghiền nuốt hết. Bát không còn dính một hạt. Hột rơi, hột vãi ra ngoài nền nhà, chú cũng la liếm nhẵn. Ăn xong, tợp mấy hụm nước rồi lập tức chú trở lại đảm nhiệm chức phận thiêng liêng của mình.
Cả đêm chú cứ ngồi ở điểm đó, gánh vác chức trách đó. Khổ! Mẹ tôi và tôi tuyệt nhiên không ngỏ ý nhờ cậy chú việc đó. Nhưng, gọi chú không vào. Bế chú lên thì chú quẫy. Đem chú vào, chú lại mò ra. Cuối cùng chỉ còn cách đặt một cái áo bông cũ làm mền để chú nằm cho đỡ lạnh. Nhưng, chàng chiến sĩ tí hon lại tỏ ra can trường hơn tôi tưởng, chú không màng tới nệm ấm đệm êm. Hẳn là chú sợ sẽ tít mắt khi đặt mình vào nơi êm ấm. Cũng có thể là chú muốn rèn luyện? Ôi, đời chú còn dài lắm, còn bao nỗi gian truân, bao lần thử thách, không quen với kham khổ, không gan góc, sao mà trụ nổi!
Đêm ấy quả là một đêm không bình thường. Nỗi nghi ngờ do Bi phát hiện ra xuất phát từ sự khôn ngoan cố hữu của giống nòi nó, đã ám ảnh tôi, lởn vởn trong giấc ngủ đứt đoạn của tôi. Có những đám mây từ đâu bay đến phủ rợp tâm trí tôi rồi lại thoắt bay đi. Tôi thiếp ngủ, rồi lại bừng tỉnh, trong tiếng gầm gừ giữ nhịp cầm canh của Bi. Dẫu tri giác khi đó lờ mờ, tôi vẫn nhận ra Bi có lý. Điều nó cảnh giác chẳng phải là thừa, vì đó không phải là sản phẩm của trí tưởng tượng vu vơ. Mập mờ giữa đường ranh của giấc ngủ nông và giấc ngủ sâu, tôi nghe được những nỗi đe doạ lẩn quất quanh mình.
Đó là những tiếng người thầm thì như nói trong lòng đất vô cùng bí hiểm. Đó là tiếng đàn ông cười lạnh tanh và đàn bà la thét lánh lỏi đến buốt óc và xa tít. Cuối cùng là tiếng những bước chân rón rén như bước chân mèo. Tôi có cảm giác có những bóng đen khả nghi đang rình mò quanh nhà tôi. Chúng định ăn cắp ăn trộm nhà tôi ư? Không! Chúng chơi trò hù doạ thôi. Hù doạ chập chờn gần xa còn quái ác bằng mấy ra mặt quát nạt, thét lác ấy chứ!
Trời sáng bạch. Tôi mở mắt, nhận ra Bi đang rời cánh cửa sắt đi vào. Tôi ngồi dậy. Bi mon men đến, chạm mũi vào chân tôi, rồi lảng ra. Bi đi xuống bếp. Mẹ tôi đang nấu cỗ cúng sớm Mồng Một, gọi nó: Bi! Bi! Nó đứng lại, ngửi chân bà rồi đi quanh bếp. Hết dưới bếp, nó lững thững lên buồng ngủ. Từ buồng ngủ, nó bước ra buồng tiếp khách. Góc nhà nào nó cũng tới; đồ vật gì nó cũng dí mũi vào hít hít. Nó nhìn cái giá sách năm tầng đồ sộ chiếm hết cả một mặt tường buồng ngoài, nghiêng nghiêng đầu, vẻ khó hiểu. Gió thổi, tấm màn che bay lất phất, chạm vào cây đàn ghi ta, sáu dây đàn rung khe khẽ và cộng hưởng âm âm trong bầu đàn khiến hai tai nó vểnh lên chăm chú. Lát sau, nó đi ra cửa, khịt mũi rồi bước từ tốn ra sân. Góc trái sân nhà tôi, trên diện tích chừng ba mét vuông, đã từ rất lâu rồi, đặt hơn hai chục chậu hoa cây cảnh. Nơi đây có tên gọi là An Lạc Viên. Vườn yên vui của gia đình tôi, quả đúng như tên gọi, có sức hấp dẫn Bi đặc biệt. Bi ngửi từng chậu hoa. Bi nghênh mặt ngắm từng loài cây cảnh. Ở đây có cả các loài lan. Ở đây có ngô đồng, xương rồng, ngà voi, hoa đá và phong lan thả từng dò hoa bung bênh giữa trời.
Như hòn bi lăn, Bi xa xẩn khắp chốn cùng nơi. Có vẻ như nó cố ghi nhận vào kho trí nhớ của mình, hơi hướng, mùi vị môi trường sinh sống và những người từ nay nó sẽ gắn bó. Có thể lắm chứ. Vì dẫu sao thì Bi cũng bước sang một đoạn đời mới rồi. Không còn có thể rong chơi với em Vện nó và quẩn quanh bên vú mẹ nữa. Xa mẹ rồi, lớn lên ai chả vậy, là phải làm việc, phải tự lập.
Tôi nhận ra Bi rất khác với lớp cún cùng trang lứa với nó. Nó không có thói dễ dãi trong các quan hệ. Tình cảm không thể là món hàng cho không, hoặc rẻ tiền. Cái vẫy đuôi phơ phất cũng là có giá trị đấy! Tuy vậy, nó lại tỏ ra rất thính nhạy trong sự đánh giá con người và rất mau chóng thiết lập quan hệ keo sơn với những ai nó đã tin cậy. Ngày hôm sau, Bi đã chính thức nhận tên của nó bằng việc chạy bổ từ sân vào, khi mẹ tôi và tôi đồng thanh gọi: Bi! và bằng ngôn ngữ của nó, nó đã bày tỏ lòng biết ơn khi mẹ tôi tặng nó một cái đầu cá mè nướng. Từ hôm đó, nó quấn quýt với tôi lắm. Tôi đi đâu, nó theo đấy. Tôi ngồi học bài, nó nằm áp vào chân tôi. Tôi ngủ, nó nằm ngay cạnh đôi dép tôi đặt ở cạnh giường.
Là chó con, Bi háu ăn lắm. Nhưng, nó là con vật rất dễ nuôi. Ngoại trừ ba ngày tết có được tí thịt tí xương, còn những ngày khác, nó cũng như mẹ tôi và tôi, cơm rau dưa đạm bạc. Cũng như mọi trẻ con nhà nghèo, nó chẳng chê cái gì, nếu cái đó ăn được. Cơm nguội, cơm cháy, tí canh cặn, tí vừng lạc thừa, nó ăn tất. Thậm chí cơm chan nước sôi để nguội và rắc mấy hạt muối vào, nó cũng ăn ngon lành. Nó không ăn bẩn, không uống nước cống rãnh. Bát cơm nó ăn bao giờ cũng sạch bong. Hình như nó cũng thấy là phí phạm, nên có hạt rơi hạt vãi nào là nó nhặt bằng hết. Thật chẳng bù con mèo Mí. Con mèo Mí hư thân mất nết, chả được mặt nào. Chuột không bắt. Ngủ cả ngày, mùa đông chưa tối đã rúc chăn bông cùng người. Không được thế thì dạo quanh màn, gầm gào cả đêm. Chưa đến bữa đã ngồi chầu bên mâm, nghêu ngao đòi ăn. Mà ăn là phải cơm cá kia. Ngoài cá ra, nó chê tất. Có cá rồi nó cũng còn đỏng đảnh lắm. Bát cơm bao giờ cũng lem nhem, bê bết cơm thừa.
Bi của tôi, ăn tạp, ăn phàm, nhưng lại rất có ý. Dẫu là cơm cá cơm thịt cũng chẳng bao giờ nó cắm đầu cắm cổ, sấp mặt xuống ăn một mạch cho đến khi đánh ngoẻn bát cơm mới ngửng đầu lên. Không bao giờ nó ăn vội vàng, hộc tốc. Nó ăn chậm, nhai kỹ. Lưỡi chạy một vòng quanh bát, hớt đồ ăn lên miệng là bước thứ nhất, bước thứ hai tiếp theo nó nhai trong miệng và nuốt từ từ. Thỉnh thoảng đang ăn nó lại ngừng, ngẩng đầu lên nhìn tôi như bày tỏ sự tri ân. Lúc ấy mắt nó long lanh nước, rất tội nghiệp. Bữa nào có cá thịt, nhất là cá, Bi hí hởn lắm. Nó vừa ăn vừa vẫy đuôi. Ăn xong, muốn ăn thêm, nó cứ đứng tại chỗ, phất đuôi liên hồi, trông rất thương. Với các thức ăn chưa quen ăn, bao giờ nó cũng dè dặt. Vứt cho nó hột lạc, mẩu bánh quy, nó chỉ ngửi thôi. Khi tôi nói: ăn đi, nó mới cặp lên, đưa vào răng hàm, khe khẽ nghiền và nuốt. Trăm lần ăn kẹo mè sửng cu cậu bị dính răng cả trăm. Lúc ấy, trông nó buồn cười lắm. Nó cúi gục đầu và dùng chân trước gạt liên hồi hai bên má. Cuối cùng, miếng kẹo dính răng hàm cũng bật ra. Cứ y như người chữa hóc xương bằng mẹo vậy. Vớ được khúc xương, bao giờ nó cũng tha vào nơi kín đáo gặm cho đến khi khúc xương nhẵn nhụi, trắng hếu mới thôi. Ham ăn, nhưng chưa khi nào vì miếng ăn mà nó lờ đi hoặc quên phứt tiếng gọi nó của tôi. Bi lại đây! Chỉ cần phát ra từng ấy từ thôi, là nó sẵn sàng bỏ ngay bữa đại tiệc đang ăn dở mồm, phốc ngay đến với tôi.
Một nết quý nữa của Bi là không bao giờ nó chầu mồm người ăn. Cả nhà quây quần quanh mâm cơm, bên cạnh có con chó ngồi chờ. Đó là hình ảnh thường thấy ở mỗi bữa cơm gia đình. Bi thậm chí không cả chầu chực bên bữa ăn của người. Trong khi con mèo Mí quẩn quanh bên mâm cơm, nhũng nhiễu đòi ăn, thì Bi lảng ra cửa trông nhà. Hoặc không còn việc gì nữa thì kiếm khúc gỗ gặm chơi cho đỡ ngứa răng, thế thôi. Hèn hạ nhất là tỏ ra thèm khát và khúm núm, quỵ luỵ trước miếng ăn. Bi chỉ ăn khi tôi đặt bát cơm của nó đúng chỗ quy định, tức là cạnh chân cái mễ kê tấm phản ở buồng khách. Thông thường khi ấy, đang nằm ở ngoài cửa, nó liền chống chân đứng dậy, chậm rãi đi vào với vẻ bẽn lẽn khác thường. Cứ y như là nó đã thấm nhuần lời giáo huấn của các bậc thánh hiền: miếng ăn là miếng nhục!
Bi ưa sạch sẽ và cũng tinh ý. Ba hôm tết ăn quá mức, chú cuống quýt vãi ra dưới gầm phản mấy hòn phân khô khốc, tròn như viên bi. Mẹ tôi bế chú vào hố vệ sinh, nhắc lại cái lễ tiết hôm trước tôi đã bắt chú làm một lần nữa rồi, bẻ que đo đuôi chú vứt xuống hố; từ đó chú chỉ phóng uế trong nhà vệ sinh.
Bi cũng có thói tật xấu đáng phàn nàn. Nó không có quan hệ thân ái với con mèo Mí. Tất nhiên, lỗi ở cả hai bên. Con mèo Mí cũng là đứa đáo để, chẳng vừa. Bên nọ mang nặng thành kiến với bên kia. Mối hiềm khích không phải do va chạm hàng ngày mà nảy sinh. Có thể chúng có nguồn gốc từ lịch sử tổ tiên truyền lại và bây giờ cả hai bên đều tiếp thu, không cải biến gì hết. Cũng có thể đó chỉ là thói ghen ăn ghét ở cố hữu của đời, nhất là giữa những kẻ khác loài.
Điều đáng phàn nàn nữa là do hàm răng Bi gây ra. Tôi không hiểu vì sao mà nó hay cắn, gặm các đồ vật trong nhà đến như thế? Vì nó ngứa răng, ngứa lợi? Vì đó là trò chơi trẻ nhỏ của nó? Hay là nó cần rèn luyện hàm răng thứ vũ khí lợi hại cần được mài rũa, chuốt chau liên tục? Nó đang ở thời điểm hoàn thiện bộ răng về mặt cấu trúc vật chất?
Đối tượng đầu tiên nó tấn công là nắm giẻ rửa bát. Mấy hôm mất giẻ liên tiếp, mẹ tôi thắc mắc lắm. Xưa nay có thấy chuột tha giẻ rửabát bao giờ. Một hôm, quét nhà moi gầm phản mới biết thủ phạm là Bi. Tôi bảo: Đó là kem để Bi mút, mẹ ạ. Tất nhiên Bi không buông tha bít tất chân và găng tay. Thảm chùi chân, giày, dép, guốc, chẳng bao lâu cũng trở thành kẻ thù của bộ răng Bi.
Cuối cùng, khi các thứ kể trên được cất dọn lên cao thì Bi nhằm các món đồ gỗ trong nhà. Hàm răng của nó quả thật không chịu nhụt truớc bất cứ một kẻ địch cứng đầu cứng cổ nào. Chân mễ, đầu phản, tay ghế. tất tật, trong vòng chưa đầy nửa tháng trời đã xây xước, sứt sẹo hết. Mẹ tôi cười: Bi nó đánh dấu đồ đạc trong nhà.
Nhưng, không phải chỉ là những đồ vật quen thuộc. Và tôi đã nhận ra, không chỉ một lần, mẹ tôi đi làm về, vứt cái xe đạp đấy, hốt hoảng giật từ mõm Bi ra một vật gì đó nó đang cắn xé. Lần thì là một đôi bít tất xanh cỏ úa cỡ đại. Lần thì là một cái khăn quàng sọc dưa cũ. Lần thì là một chiếc khăn tay. Lần khác lại là một cái túi vải trong đựng nhiều thứ lặt vặt, đặc biệt là những lá thư, trong có kẹp những lọn tóc phụ nữ. Bi moi móc những thứ đó ở đâu ra? Hẳn đó là những thứ đã rơi trong gầm bàn, gầm tủ, hoặc các ngách nhà. Có lần tôi thấy nó tha một cái khăn mặt màu xanh từ đâu đó quấn đầy mạng nhện và bụi bậm vào gầm phản, kẹp vào đôi chân, ngửi hít chán rồi cắn dứt.
Mẹ tôi đã giật lại từ Bi những thứ nó tìm thấy. Bà ôm vào ngực những vật đó, xúc động đến đứt đoạn cả hơi thở:
Của bố con! Những thứ này. như đôi tất, cái khăn, phong thư là của bố con. Từ hồi họ lục soát. không hiểu rơi đâu. Còn những thứ khác là của anh Cần con.
Những cảm nhận manh nha qua tích tụ dần dà mới có thể định hình. Thoáng cô đơn đêm ba mươi tháng chạp quạnh vắng, giờ đây đã trở thành một tâm trạng hiện thực, nhờ đã lý giải được tình thế. Tôi nhận ra, tôi cùng mẹ tôi, nhờ bó Bi đã đỡ đi rất nhiều, nhưng vẫn không thoát khỏ thế chênh vênh, đơn chiếc. Nhưng, chính việc Bi phát hiện ra các vật dụng bị thất lạc ấy, lại giống như những chi tiết giàu ý nghĩa, để phục hồi bức toàn cảnh đã qua. Ngày tôi còn nhỏ, cách đây vài năm, gia đình tôi không chỉ có mẹ tôi và tôi.