Chó Bi Đời Lưu Lạc

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16

❊ ❊ ❊

Trước hết là mặt ông, lông mi ông, mắt ông, trán ông. Nó cố gắng để làm khô tóc ông, rồi nó liếm tay ông, chân ông. Nó chà đi xát lại, bằng cái lưỡi mềm ấm, các vùng kích thích sự thức tỉnh, các điểm có huyệt hợp cốc, bách hội, thái dương, ấn đường. Có lẽ là nó đã nhiều lần thấy ông day, ấn những huyệt điểm đó, mỗi khi ông mệt mỏi. Nó đánh thức từng tế bào, cơ bắp ông. Sau cùng, nó trở lại dùng lưỡi tác động vào thị giác, khứu giác ông và sục mõm vào vùng cổ, miền nhạy cảm của ông.

Ông Thuần he hé mắt, rồi chớp chớp cho quen ánh ngày và mở hẳn mắt. Ông nhìn thấy Bi, hai con mắt tròn và cái lưỡi đốm chàm thè lè như trẻ nhỏ khi sung sướng và kinh ngạc. Vẫn chưa hiểu điều gì đã xảy ra, ông choàng dậy ngơ ngác nhìn quanh. Ông vừa trải qua một cơn mê ngủ ư? Ông đã nhìn thấy con tàu Hải Âu bằng mắt mình, hay đó chỉ là ảo ảnh trong mê mị? Ông nằm vật xuống cát, đưa tay ôm con chó áp ngực mình và nước mắt ứa ra vành mi. Ông đã hiểu ra sự tình. Biển đã đối xử rất thân ái với ông. Số ông chưa chết được. Nợ đời ông còn nặng lắm. Con tàu chìm, số người chết theo con tàu chắc không ít. Ông may mắn vì có Bi, Bi vừa bơi vừa dìu ông, sóng nâng đỡ ông, ông thoát chết. Ông đã thoát chết mà lòng không thanh thỏa. Con tàu, tang chứng rành rành của thói đời bỉ tiện, đã mất tăm, nó buột khỏi tay ông và bao nhiêu người đã chết oan cùng nó.

Bi giãy ra khỏi vòng tay ôm của ông. Nó nhìn ra biển, khe khẽ rít, như tiếc nuối vì đã đánh xổng một con mồi. Chuyện gì đã xảy ra với nó ở trên tàu đêm qua nhỉ? Ông thoáng nhớ và chống tay ngồi dậy. Bên trái ông là cát, bên phải ông là cát, sau lưng ông là biển xanh láng như gương. Trước mắt ông là một vùng đất rậm rì cây xanh. Không được phép sa đà nữa. Trước mắt là sự an toàn. Trước mắt là thấu hiểu hoàn cảnh mà ngẫu nhiên đã ném mình vào. Ông tự bảo mình và đứng dậy.

Xa lạ lắm, vắng vẻ lắm. Đây là đâu vậy? Đất nước mình hay xứ người? Bi bước chầm chậm. Và ông, sau khi cởi áo quần vắt kiệt nước, mặc lại, xách súng lò dò theo sau nó, với các dự đoán tới tấp hiện ra trong óc. Mặt trời tóe sáng. Tới đầu bãi cát, Bi dừng. Quay ngược trở lại, ông Thuần nhận ra ông vừa đi hết một doi cát, và lúc này có thể xác định đây là một hòn đảo nhỏ cách biệt với đất liền, ở ngoài khơi xa.

Bi đã quên tất cả những gì xảy ra đêm qua.

Hai thầy trò cùng bừng lên một ham muốn khám phá, không ai bảo ai, đâm thẳng vào vùng cây bụi ở trước mặt. Sau mấy khóm sú vẹt héo lụi là một vuông cỏ rộng bằng cái sân phơi. Lồng cồng trên mặt đất là các vỏ chai và vỏ hộp bia mang nhãn hiệu nước ngoài. Quỳ xuống ông nhặt lên một tờ báo tiếng Anh loang vết thịt mỡ Không phải là đảo hoang. Ông đứng dậy. Ý nghĩ của ông tìm thấy ngay được một bằng chứng, có một con đường mòn len lỏi giữa các bụi cây.

Bi lại đóng vai kẻ dò đường. Hai người theo đường mòn đi. Một giờ đồng hồ sau, đường mòn chạy theo ven biển đưa họ trở lại vuông cỏ, với di vật một bữa ăn của một tốp người nào đó. Như vậy là hòn đảo đã có người đặt chân đến, có chu vi khoảng bốn ki lô mét.

Vòng quanh đảo lần thứ hai, ông Thuần nhận ra thêm mấy con đường từ lối mòn nọ xuyên vào trung tâm đảo. Ông liền cùng Bi chọn một con đường rộng rãi nhất. Họ như được đón tiếp, vì hai hàng cây dương đứng như tiêu binh hai bên. Dấu vết nhân tạo đã thấy rất rõ ở một vài viên gạch quây quanh gốc cây. Nhưng, đang đi, Bi bỗng dừng lại, xộc vào một gốc cây bứa lớn Chồm lên gốc cây, Bi sủa toang toang như cảnh cáo. Trên các cành bứa, thoăn thoắt chuyền cành những con vật nhỏ lông vàng khè, hai tay dài ngoẵng. Khỉ! Ông Thuần khẽ kêu và đưa mắt nhìn quanh. Không phải chỉ trên cây bứa, mà trên tất cả các vòm cây xanh quanh ông, lúc này là hàng trăm con đang nhẩy nhót, đu chuyền kêu chí chóe và không rời mắt khỏi ông. Chúng dịch chuyển theo bước chân ông và Bi; chúng kéo đến mỗi lúc một đông và ông có cảm tưởng, ông trở thành trung tâm chú ý của đám cư dân trên đảo này. Đám cư dân này đông, nhưng nhao nhác, thiếu tự nhiên vì có một quan hệ ràng buộc vừa bị phá vỡ.

Con đường mỗi lúc một rộng. Cuối cùng ông Thuần và Bi dừng lại ở trước một cái sân xi măng lớn như sân khấu, xung quanh có những căn nhà bán mái và ở hai bên có hai bể nước lớn. Trên vuông sân láng xi măng, một đàn sẻ nâu đang chắm chúi nhặt những hạt cơm khô rời rạc như sỏi.

Có thể đoán định mà không sợ sai lầm được rồi. Đây chính là một cơ sở nuôi khỉ để chế tạo thuốc bại liệt của cơ quan y tế địa phương mà báo chí đã nhiều lần nói tới. Phải tìm người chủ của cơ sở này. Nhận ra điều đó, lòng rất vui mừng, ông Thuần nghĩ. Rồi vượt qua cái sân xi măng, ông leo lên một gò đất cao. Từ đây, điểm cao nhất của hòn đảo, phóng tầm mắt ra xung quanh, ông Thuần đã thu nhận được toàn cảnh cơ ngơi công trình nuôi khỉ này. Khu trung tâm, cách gò đất hai mươi mét là một quần thể kiến trúc toàn nhà xây đá hộc, gồm một kho lớn lợp tôn, một gian bếp, bốn phía thông thoáng và một căn nhà dài lợp ngói tây, ngăn từng buồng nhỏ, chắc là nơi ăn ở làm việc của nhân viên, cán bộ. Lẫn trong màu xanh của rừng, đây đó nổi lên những mái xi măng bằng lì, chắc là những căn nhà để bầy khỉ trú mưa bão.

Ông Thuần chống súng, thở thào thào, nhẹ nhõm. Vậy là bí mật đã được khai mở. Bây giờ chỉ còn một động tác có tính chất thủ tục là gặp người phụ trách ở đây, trình giấy tờ, trình bày hoàn cảnh và yêu cầu giúp đỡ cho được cư ngụ. Biết đâu lại có một cơ hội tốt lành hơn đang đợi chờ!

E hèm. Dẫu sao thì cũng không thể đánh tiếng trước. Vả lại, nếu có thế nào thì cũng cần biết để kịp thời ứng phó. Nhưng, sau hai lần phát đi tín hiệu thông báo và thăm dò, ông Thuần nhận ra xung quanh mình chỉ là một vùng mông quạnh. Căn nhà nhỏ im lìm, cả năm cánh cửa của năm gian buồng đều đóng kín. Trong đó, chỉ một cánh cửa ở gian buồng đầu là không bấm khoá, cánh cửa đó hé một khe hẹp. Trên lớp sơn xanh đã tróc của cánh cửa, ai đã viết nguệch ngoạc như trêu nghịch bằng phấn trắng hai chữ Chúa đảo.

Hướng vào căn buồng Chúa đảo nọ, ông Thuần tiến lên một bước. Nhận ra ý định của chủ, Bi nhảy tới, đưa chân khe khẽ cào cánh cửa và cất tiếng sủa nho nhỏ như chào gọi. Một phút trôi qua! Hai phút trôi qua! E hèm, ông Thuần lại đánh tiếng. Và lần này, ngực ông căng nhức. Có một hơi gió từ biển thốc tới, cánh cửa buồng mở một cung rộng vào phía trong.

Ai sẽ từ trong căn buồng nọ bước ra?

Một ông già phúc hậu, khăn rằn ri vắt vai, môi dính điếu sâu kèn, cất giọng Nam bộ ấm áp: Ồ, chào quý anh! Quý anh mới từ đất liền ra ư? Quý hoá quá, kìa con chó đẹp há! Hay một gã đàn ông tóc xoã, mắt diều hâu, với khẩu súng CKC chĩa thẳng vào khách: Mày là thằng nào? Đã xin phép Chúa đảo chưa mà tự tiện bước vào đây? Cút!

Không! Thân ái không, thù địch không! Dửng dưng, vô cảm! Vọng lại từ xa tiếng tắc kè giật giọng, khắc khoải đến sụt hẫng cả ngực.

Có lẽ Bi sốt ruột hơn chủ. Bi không quen chờ đợi, nên đáng lẽ lui lại để đợi lệnh ông Thuần, Bi liền chồm hai chân trước lên thềm căn buồng. Nhưng chính lúc đó Bi cũng giật thột mình, y như ông Thuần. Từ trong nhà có hai bóng xám phóng vọt qua cửa, phốc qua đầu Bi. Thấy vậy, Bi liền nằm ẹp ngay xuống như tránh đạn, còn ông Thuần né vội sang bên trái. Ông đã kịp nhận ra đó là hai con chuột rừng lão đại.

Một lần nữa Bi tỏ rõ tài ứng biến kịp thời vô địch của nó. Chớp ngay lấy thời cơ có một không hai, nó chồm phắt lên và lao thẳng vào căn buồng, lúc này được nó quan niệm như sào huyệt của bọn chuột vừa bỏ chạy.

Ông Thuần thấy phải theo sát Bi để hỗ trợ nó. Ông đẩy cửa, đứng sững trước căn buồng, kinh ngạc vì sự lặng tờ của chốn không người. Đó là một căn buồng hẹp được ngăn làm đôi. Nửa ngoài kê một chiếc bàn để sách vở. Cạnh bàn là nơi đặt bếp nấu ăn, nồi xoong thẩy đều nhỏ, chứng tỏ chủ nhân là người độc thân. Nửa ngoài đặt một chiếc giường cá nhân, một cái tủ nhỏ đã lỗ chỗ mọt. Cái mắc áo gắn trên tưòng treo một bộ quần áo bảo hộ lao động đã cũ. Chiếu giải giường đã rách, thoảng mùi mốc. Dưới gầm giường là chiếc ấm đất sắc thuốc đen sì và đôi guốc gỗ đẽo lấy, xỏ quai bện bằng giang.

Tuy nhiên, khung cảnh không để lại ấn tượng buồn tẻ, ngưng đọng. Cái bàn kê ở nửa ngoài, với sách vở trên mặt nó, giống như gương mặt phản chiếu một đời sống vô cùng phong phú và chăm chỉ của chủ nhân. Bốn năm chồng sách vở đặt cạnh nhau, hết sức ngăn nắp, chiếm hết nửa bề mặt cái bàn. Nhìn lướt qua bìa và gáy sách, nhận ra ngay đó là những cuốn sách nghiên cứu về các giống vượn, khỉ, hắc tinh tinh ở các châu lục, các tạp chí về nuôi dạy thú rừng, bằng chữ Anh và chữ Trung Quốc, đặt ngay ngắn ở giữa mặt bàn là những cuốn sổ đóng bằng bìa xanh, cùng một cỡ kích. Một cuốn ghi công văn đi, đến. Một cuốn nháp các báo cáo hàng năm. Một xấp những văn bản về quy trình, quy chế chăn nuôi khỉ. Nhiều nhất, có đến mươi cuốn, xếp ở trên cùng, bìa ghi rất nắn nót hai chữ Nhật ký. Giở cuốn trên cùng, mở trang ghi cuối cùng, thấy đề ngày tháng cách đây một tuần, với một dòng viết nôn nao: Thêm một con khỉ nữa trốn sang đảo bên cạnh, hiện còn 1918 con!

Hai vật cuối cùng ông Thuần nhìn thấy ở bên trái bàn là chiếc đài bán dẫn Mẫu đơn chạy bằng pin đã cũ và chiếc máy điện thoại quay tay cổ lỗ sĩ. Đúng lúc mắt vừa chạm vào chiếc máy điện thoại, ông Thuần chợt giật nẩy mình, bên trong vỏ chiếc máy, cái chuông rỉ bỗng gõ lạch cạch một hồi.

Ông Thuần lui nửa bước chân cách chiếc bàn. Ông có phận sự gì ở đây nhỉ? Vô cớ bước vào căn buồng này, nguyên việc đó người ta cũng có thể bắt ông rồi. Huống hồ lại còn dám tự tiện nhấc máy điện thoại. Hành vi này chỉ có thể là của một kẻ có mưu đồ đen tối thôi.

Giật lùi ra phía cửa, ông Thuần có tâm trạng một kẻ trốn chạy. Nhưng, lui được ba bước, ông liền dừng. Đế giầy vải truyền lên ông một cảm giác vướng bận. Ông cúi xuống, nhận thấy vừa dẫm phải một tờ giấy có lẽ đã rơi từ trên bàn xuống từ lâu, nhưng khi bước vào, ông không để ý tới nó.

Ông Thuần nhặt tờ giấy lên và đọc:

Tôi là Đào Lễ, Chúa đảo khỉ đã trên hai chục năm nay. Nay tôi không thể ở lại thêm một ngày nào nữa. Tôi không yêu cầu gì hết và ngược lại, cũng không ai có quyền yêu cầu gì ở tôi nữa. Tôi chờ mãi rồi. Chờ đỏ cả hai con mắt rồi! Giờ tôi xin bàn giao lại toàn bộ của cải và đàn khỉ trên đảo cho chủ nhân vĩ đại là thiên nhiên.

Ông Thuần thõng tay, ngực xẹp như vừa thoát hết không khí. Trạng thái nhao nhác của đàn khỉ thế là đã được giải thích. Nhưng tình thế này, thật là bất ngờ, chua chát và trớ trêu quá với ông.

Tiếng chuông già nua từ lòng chiếc máy điện thoại cổ lại khua lạch cạch một lần nữa, lần này nó giống như một tiếng gọi khẩn cấp. Và lần này, không né tránh được nữa, bản tính hào hiệp và cứng cỏi đẩy ông Thuần tới cạnh máy. Trong ống nghe vọng lại giọng nói của một người đàn ông to béo, mỡ màng và trịch thượng.

Thế nào, ông Chúa đảo tự phong, ông đi chơi với con mẹ thuyền chài nào mà để tôi gọi mỏi cả mồm thế!

Dạ, dạ!

Ông Thuần khe khẽ và nín hơi.

Sao, ốm hả? Nghe giọng ông thấy lạ hoắc. Lại viêm họng chứ gì?

Vâng, vâng. Tôi ốm.

ốm gì thì ốm cũng phải đảm bảo cho đàn khỉ ngày hai bữa cơm chứ. Có con nào trốn nữa không? Đừng oán trách lãnh đạo. Lãnh đạo chúng tôi có cái vất vả mà ông không hiểu nổi đây. Hay là ta đánh đổi. Nói đùa thế thôi, ông mà lên đây, cam đoan ông không trụ nổi một tuần.

Dạ!

Lúc này nên tự giác, công việc còn nhiều lắm. Khoảng nửa tháng nữa, bên Xí nghiệp dược sẽ ra lấy năm mươi con về làm thuốc. Anh nhớ chưa?

Vâng!

Năm mươi con! Ông có hiểu như vậy một năm ta cung cấp cho ngành dược bao nhiêu triệu liều thuốc chống bại liệt không? Mười hai triệu liều! Mười hai triệu liều, nghĩa là mười hai triệu đô la. Đó, ông thấy lớn chưa? Phải lấy cái đó làm niềm tự hào để đẩy lùi những tính toán tư lợi, vị kỷ, cá nhân, đồng chí Lễ ạ. À, tôi còn quên chưa nhắc ông, Liên đoàn xiếc tháng sau sẽ cho tàu ra chọn mười con về huấn luyện đấy. Có thể các nước bạn cũng sẽ đến mua nữa. Ông nghe có rõ không? Có thấy tự hào không?

Dạ!

Phải nghĩ rộng ra, ông Chúa đảo ạ. Ông đừng làm hoen mờ danh hiệu chiến sĩ thi đua mười tám năm liền nhé. Sau mươi nhăm đã lấy gì làm già! Còn sức còn làm! Tổ quốc còn yêu cầu, còn làm! Làm đến hơi thở cuối cùng! Đừng có làm đơn xin thôi việc. Đừng nổi khùng rồi tự ý bỏ việc. Bỏ việc là đào nhiệm đấy. Đồng ý không?

Dạ!

Đừng buồn. Tôi biết anh vẫn còn thương nhớ người phụ nữ ấy, nhưng anh nên tỉnh. Loại đàn bà sống không có lý tưởng ấy, tiếc mà làm gì. Này, tôi nghe thấy tiếng anh thở trong máy đấy. ốm hả?

Dạ, dạ, cũng có ốm.

Giọng lạ hẳn đi. Nhưng ốm cũng phải gượng dậy. Mười giờ sáng. Năm giờ chiều. Hai bữa phải đầy đủ. Mỗi con, mỗi bữa một lạng, nắm lại. Anh nhớ chứ? À, khỉ còn chia bầy đánh nhau không?

Ông Thuần đặt ống nghe xuống. Thế là mọi việc đã trở nên rõ ràng.

Ông mở rộng cửa, bước ra ngoài trời. Mặt trời đã chênh chếch, chiếu lóng lánh trên các bộ lông khỉ. Khỉ, cả trăm con, cả nghìn con, đang lố nhố trên các cành dương, trên nóc nhà, đang hau háu nhìn về ông. Đã một tuần lễ nay, chúng không được ăn cơm như thường lệ. Đã một tuần lễ nay, bầy đàn thiếu hẳn một mối liên hệ tâm linh với một đấng tối cao.

Quên hết tất cả mọi nỗi niềm riêng, cả cái gã lãnh đạo đạo đức giả nào đó nói trong điện thoại, ông Thuần chẳng chút đắn đo, đứng ngay vào vị trí ông Đào Lễ Chúa đảo đã bỏ đi. Ông gọi Bi cùng xuống bếp. Hai thầy trò nhóm lò, sửa soạn bữa cơm chiều cho đàn khỉ.

KHÁNG —★— CHÓ BI, ĐỜI LƯU LẠC Tiểu thuyết ebook©MotSAch —★— TVE-4u©Conan-tieudao Nhà xuất bản: Thời Đại
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.