Phải một tuần sau, so với ngày hẹn với anh phóng viên, ông Thuần mới tới được bến ca nô đi Đông Bắc. Đó là vì chẳng một chiếc ôtô nào chịu nhận chở Bi đi cùng chủ. Tội nghiệp! Hai thầy trò đành cặm cụi bộ hành. Nhưng, không ngờ, cuốc bộ lại là dịp để họ tha hồ ngắm nghía cảnh quan hai bên đường, tiếp nhận được bài học địa lý cụ thể về đất nước. Ông Thuần rất vui. Bi cũng có vẻ phấn chấn đặc biệt. Chắc là nó nghĩ tới những cuộc đi săn thú rừng rất phù hợp với ý thích phiêu lưu, mạo hiểm của nó.
Tiên trở hậu thành, thoạt đầu gặp trắc trở, sau sẽ thành mọi sự, những tưởng đó là luật đời thường gặp, nào ngờ niềm vui của hai thầy trò đang thắp lên phơi phới, lại lập tức bị gió thổi tắt ngúm, khi họ mua vé xong, qua cầu tàu bước lên con tàu khác chạy ven biển. Bến tàu quá ư lộn xộn, bẩn thỉu? Nhân viên nhà tàu hách dịch, vô trách nhiệm và chỉ nhăm nhăm moi tiền khách? Có! Tất cả những nghịch lí ấy đều gây cảm xúc tiêu cực thật, nhưng chúng không thể hủy diệt được nguồn vui sống của ông Thuần, một kẻ giàu bản lĩnh, biết vượt qua cái cạn hẹp của đời thường.
Ông Thuần đã không còn có thể giữ được thăng bằng trong tâm tưởng nữa, chứ đừng nói là nuôi dưỡng được niềm vui, là bởi chính con tàu khách đang neo đậu ở bến cảng kia. Phải, vì sự hiện diện của nó, con tàu nhỏ có cái tên hợm hĩnh Vượt sóng chữ kẻ sơn trắng, mới tinh, ở mũi con tàu sơn đen kia.
Tàu Vượt sóng vốn là một tàu vận tải được cải tiến để chở khách. Tàu có một khoang chìm, đặt ghế cho khách ngồi. Tầng trên một phần là nơi để hàng hóa, một phần dùng làm nơi ăn uống cho hành khách. Với cabin cao lênh khênh như cái chòi canh, tầng trên gây cho ta cảm giác chông chênh, nặng bồng nhẹ tếch, rất đáng ngại, nhất là khi vừa bước xuống, ông Thuần thấy đã đông nghẹt khách. Khoang chứa khách vốn chỉ có tám chục chỗ, lúc này còn tồi tệ hơn tầng trên: đã lên tới trên hai trăm người. Cả đến lối đi lại cũng chật khít người đứng. Người như đút nút ở cửa ra vào. Nghẹt thở, nhiều người phải ghé mặt ra cửa sổ. Khổ, cửa sổ thì đã bịt lưới sắt và cắm chấn song 16 ly đen sì như cửa sổ nhà tù. Con tàu vừa không đảm bảo kỹ thuật an toàn, vừa thiếu thẩm mỹ tối sơ. Có con mắt nhà nghề, chỉ cần liếc qua con tàu là có thể rút ra nhận xét rằng, lúc này đây, con tàu đã ở trong tình trạng quá tải. Bụng nó đã ngốn một số lượng gấp ba lần sức chứa. Vậy mà, người vẫn cứ tiếp tục ùn ùn đẩy nhau, chen lấn nhau, trèo lên đầu lên cổ nhau, để lên. Cứ như đó là con tàu của Nôê chạy trốn cơn đại hồng thủy trong Kinh Thánh vậy.
Nhưng, toàn bộ những điều than thở và lo sợ ấy cũng chưa phải là dòng chủ lưu trong tâm sự của ông Thuần. Trạng thái xúc cảm của ông lúc này thật là rối rắm, bốn ngộn. Niềm vui đường trường tan biến đã đành, ông còn giật mình kinh hãi, tựa như giữa giấc ngủ bình yên chợt thấy ác mộng hãi hùng.
Trời ơi! Nó ở đâu ra, cái con tàu bị gọi là mất cắp ấy? Bấy lâu lặn ngụp trong tiềm thức ông, giờ nó bất thình lình hiện ra, nạt nộ, thách thức ông chăng? Cùng với nỗi kinh khiếp, ông vội đặt tay đè lên ngực để nén nhịp đập quá mạnh của con tim. Ông ngợp trong bàng hoàng. Ông đã tóm được con mồi và ông nhận ra, dường như cả hành trình săn bắn bấy lâu của ông là đi tìm nó. Nó, tên hung thủ, món nợ, nỗi oan của ông. Và bây giờ thế là sẽ bắt đầu một bước ngoặt, một cú lật cánh ra trò của đời ông đây.
Đi nhanh lên! Làm thơ đấy à, cụ?
Gớm cái ông này đã nghềnh ngàng khẩu súng, lại còn con chó. A! Ai mà nuôi chó một râu. Trời cho chủ nó sắp giầu đến nơi!
Chó ta mà đẹp nhẩy! Nhanh chân lên, bố già ơi!
Ôi giời, con chó nó nhe răng định đợp tôi!
Chó điên! Chó điên!
Ông Thuần ghì cái xích, kéo Bi lại gần. Có lẽ nó bị kích động vì cảnh tượng hỗn loạn xung quanh. Nhưng mà thôi, Bi! Bây giờ đây, việc quan trọng bậc nhất là leo lên được con tàu này. Khốn khổ, dường như mọi nỗ lực đều là vô ích. Mảnh chăn thì hẹp mà bao nhiêu người muốn đắp. Thôi thì mặc cho con tạo xoay vần ông và Bi thế là trở thành vật vô tri trong cuộc xô đẩy. Không sao! Không sao hết!
Dành cái may ngay trong cái rủi, ông coi đó là một dịp để ông thị sát từng chi tiết trên tàu, để kiểm nghiệm lại nhận biết ban đầu của mình. Thành ra, cuối cùng, bị dồn đẩy vào góc tối trong khoang dưới con tàu, ông cũng không thấy có điều gì ân hận. Trái lại, ông ôm con Bi vào lòng và nấc thầm sung sướng. Đúng là con tàu đó rồi, dẫu mày có chìm xuống đáy biển, tao cũng phải bằng mọi cách lôi mày lên, đừng có hòng thoát khỏi tay tao. Đúng là con tàu đó, từ số hiệu ghi ở mạn tàu, cái cột bích, vết rìu chặt dây cáp hôm cấp cứu chạy bão, đến cái mũi sắt lõm một vết dài vì đâm vào đá và cái cột cờ gẫy phải hàn lại. Chỉ có nước sơn phủ là đổi màu. Xưa, thời ông làm giám đốc, nó mang tên HẢI ÂU, đã cũ nát, chỉ để chở hàng. Giờ nó đội lốt lừa bịp trong cái tên ngạo nghễ là Vượt sóng. Nó không bị mất, như người ta đã vu cáo kết tội ông.
Chao ôi! Để mất một con tàu. Tội lỗi đâu chỉ đơn thuần là để thất thoát một tài sản lớn. Vấn đề còn nghiêm trọng hơn, người ta muốn tìm một đòn quật ông một cú chết tươi kia.
Đột nhiên, ông Thuần có cảm giác người thiếu hụt trọng lượng, nhẹ bênh lên. Không khí xung quanh ông dãn ra một chút. Tàu đã khởi hành và trời đã tối. Dưới khoang tàu cả trăm người như những bóng ma nằm ngồi vạ vật, dưới ánh sáng tù mù của một cây đèn bão duy nhất treo ở giữa lòng khoang. Bỗng nhận ra mình như một kẻ cô đơn, ông vội đưa tay sờ xoạng Bi! Bi đâu rồi Ông khe khẽ gọi. Rồi ông choàng dậy.
Bi đã tuột khỏi tay ông từ lúc nào? Nó chạy đi đâu? Ông kinh hoàng nhận ra thái độ rất khác thường của nó từ lúc xuống tàu. Rõ ràng là nó ở trạng thái bị kích ứng. Có một nhân tố lạ nào đó đã xuất hiện, giống như là kẻ thù của nó mà nó đã đánh hơi thấy, nên nó bỗng trở nên hung hăng lạ thường. Bi! Bi ơi! Ông cất tiếng gọi. Tiếng ông chìm lỉm. Mưa vừa đổ ròa ròa. Con tàu náo loạn cả lên.
Thôi thì bất chấp tất, trước mắt chỉ là dành một chỗ trốn mưa. Gần một trăm con người từ nãy nằm ngồi ngả ngốn trên boong tàu, mũi tàu, hí hửng tưởng rằng mình khôn ngoan, giờ mới bật cả dậy, cuống quýt chen đẩy nhau, len xuống khoang hầm, tranh giành nhau, riếc lác và gây gổ với nhau. Cả con tàu ầm ầm náo loạn, chòng chành đến nỗi ai đó thình lình bật lên một tiếng thét: Các ông các bà có muốn chìm tàu, làm mồi cho cá không?, lúc đó mấy trăm cái nhân dạng đang hùng hổ mới bặt tiếng, lặng ngắt.
Trong tiếng sóng bể hung cuồng đập vào vỏ tàu, giữa tiếng mưa đổ ào ào man rợ, tiếng động cơ con tàu nổi chìm xa lắc. Vẳng lại từ đâu đó tiếng sủa gay gắt của con Bi và tiếng kêu cứu thất kinh của một người đàn ông. Ông Thuần cảm thấy đang ở giữa những ám ảnh ghê sợ.
Những ám ảnh ghê sợ đang vây bủa ông. Rằng giận thì giận mà thương thì thương. Anh không lên giường thì em không ngủ được. Trong ánh đèn dầu như ánh đèn dầu đang lung liêng trong khoang tàu kia, tưởng như gã phó giám đốc mắt lé, nghiêng đầu, hát nhại và đánh mắt nhìn ông, giọng nghê nga giả tỉnh giả say:
Không hát bậy đâu, anh Thuần. Anh vẫn nói đó: Một chữ tình duy trì thế giới, một chữ tài tô đẹp càn khôn. Anh có những tư tưởng trứ danh. Anh có thể được phong anh hùng, nhưng cũng có thể bị bỏ tù đấy, anh Thuần ạ.
Cả cái buổi liên hoan cuối năm ấy cùng cười tóa lên theo gã nọ. Lúc ấy ông vẫn chưa hiểu màn kịch đã được đạo diễn xong. Đêm ấy, người ta hô hoán rằng con tàu Hải Âu bị mất tích. Và tuần lễ sau, dấu chấm than được đánh, chấm hết một đoạn đời của ông, ông bị bắt. Ở trong tù hệ thống hóa toàn bộ cảm giác, ông nhận ra từ lâu rồi quanh ông đã hình thành một lực lượng gian tham âm mưu lật đổ ông.
Tội trạng của ông đã được bọn người này sưu tập và trình báo thật chi tiết với ngành công an tỉnh. Ngành chấp pháp này căn vặn ông là điều họ làm hợp pháp. Tiếc thay, trong khi cật vấn ông điều này điều nọ, họ đã không hiểu nổi cái cao cả trong những suy nghĩ và việc làm của ông. Một phẩm chất kém cỏi thì suy nghĩ cũng kém cỏi. Là những người hiện đại mà họ giữ nguyên tệ sùng tín trung cổ: Không cho phép ai nghĩ khác mình. Họ không công nhận các giá trị cá nhân. Họ dùng bạo lực chống lại khuynh hướng tất yếu của tự nhiên mà ông là một đại diện, ông đang ở giai đoạn phát triển hài hòa, đang đi tới cái quan niệm coi cuộc sống như một đấu trường, tất cả các võ sĩ đã có giấy phép hành nghề, đều được quyền tự do thi đấu!
Làm sao trấn áp lại có thể khuất phục được kẻ ý thức được bản sắc mình. Ông không ra khỏi con đường lớn của mình, nhưng im lặng cay đắng, khi người ta đập bàn quát hỏi:
Vậy thì anh hãy giải thích: ai đã từ Sài Gòn điện báo cho anh? Ở nhà anh, đã có những cuộc bàn bạc mưu toan gì? Còn lý do mất con tàu Hải Âu? Chỉ là vô trách nhiệm, hay còn dính líu vào tội lỗi? Nên nhớ con tàu Hải Âu có thể dùng để vượt biên!
Nhưng mà con tàu Hải Âu đã không mất. Trò vu khống đê tiện đã lộ toẹt chân tướng. Tàu Hải Âu chỉ bị đánh tráo và lúc này đúng là nó đang ở trong trò chơi tung hứng tùy tiện của các thế lực thiên nhiên.
Thốt nhiên ông Thuần run lên vì một linh cảm sợ hãi. Đã có một quyền năng thiên định can thiệp vào số phận ông. Chó Bi đó, cuộc đi này, con chó đang truy đuổi ai đó ở trên con tàu Hải Âu này vậy? Và con tàu đang chao đảo trong giông bão? Có thể chỉ là một biến động có tính chất vi khí hậu, nhưng rõ ràng là biển đang nổi sóng trong khi mưa thốc tháo mỗi lúc một lớn, và nhiễm vẻ ma quái thế nào.
Người đã lần lần thức dậy hết. Đúng lúc ấy, ngọn đèn bão văng mạnh, rơi đánh phịch, tắt ngấm! Mọi người cùng rên lên một tiếng vì sự kiện có tính ẩn dụ về một nỗi rủi ro.
Hôm nay ngày khỉ vàng, độc giời lắm!
Ngày 14 ta, hả! Thế thì toi rồi!
Thằng nào cầm nhầm của tao cái đèn pin rồi.
Đói quá! Chết bây giờ thì là chết đói đây.
Phỉ phui cái mồm mày!
Giêsuma! Sao con sợ hãi thế này?
Trong tàu, sau giây lát im lặng lại bắt đầu ồn ào và loé sáng đây đó các vệt đèn pin. Mặt người trong ánh đèn lướt qua càng lúc càng xanh xám ngờ nghệch. Rồi thốt nhiên, cả trăm người cùng như dậm chân đứng dậy. Phía đuôi tàu ai đó vừa thét: Gãy mẹ nó chân vịt rồi, bà con ơi! Cả khoang tàu lặng phắc, rụng rời, và liền ngay đó, cả trăm người cùng thét gào như điên dại. Cũng lúc từ đâu đó, tiếng con Bi sủa lại rộ lên như khùng nộ.
Chẳng làm thế nào giữ được trật tự nữa. Đám đông truyền lan thói hèn nhát thật nhanh. Cuống cuồng, chẳng còn biết làm gì hơn, người ta nhốn nháo, chen đẩy, chuyển dịch từ chỗ này sang chỗ khác. Con tàu lắc bên này, chao bên kia mỗi lúc một mạnh.
Gồng người để khỏi bị đè bẹp, ông Thuần vội len, lấn trong đêm tối nhộn nhạo để đi tìm Bi. Nhưng ông không sao có thể nhích đi được. Lủng củng quanh ông là người, hàng và chật cứng cả rồi. Ông bị đổ về bên này rồi lại ngả về bên kia, bị đè rạp xuống, rồi lại chồm dậy, đè lên người khác.
Tình trạng nguy hiểm đã tăng lên rõ rệt. Con tàu đã lịm máy. Nó bạt theo chiều sóng và gió. Đôi lúc, một con sóng lớn từ xa trườn tới, dâng lên, rồi đổ ập xuống, nó lại giật nẩy mình, tung lên.
Giữa những tiếng kêu khóc thất đảm, bỗng có ai đó thét lên như ngộ dại: Chết rồi, làng nước ơi! Ông Thuần dựng tóc gáy; cố định thần, ông đã thấy, qua ánh chớp loé, nước biển đang ồng ộc đổ vào lòng tàu, qua một lỗ rách to bằng cái mũ ở sườn tàu đối diện ông.
Hỗn loạn giờ mới là cực điểm. Người dẫm đạp nhau, níu lấy nhau, vùng vẫy, rẫy rụa, đấm đạp, cắn xé nhau để len ra cửa khoang tàu, nơi lúc này đã là cái cổ chai tắc nghẹt.
Ông Thuần nhảy tới sườn tàu nọ, cởi áo vo tròn và ấn vào lỗ rách. Vô nghĩa! Sức nước mạnh quá và lỗ rách mỗi lúc một rộng. Nước đã tới mắt cá chân. Nước dâng tới đầu gối. Người phát rồ, phát dại đâm ra các ô cửa sổ gào rú và lay lắc. Vô ích, các thanh chấn song, đan sít nhau và to quá, dễ búa đập cũng chẳng hề gì.
Cái chết đã ở nhãn tiền! Cái chết đã cầm chắc!
Tử giả tận giã. Người chết, thế là hết đấy! Với ông Thuần thì lần này đúng chết là hết! Chẳng còn tình yêu, niềm thương, nỗi nhớ nào cho linh hồn ông trú ngụ như lần ông cầm mười hai kíp mìn đi tới cái chết với quân thù. Lúc đó bọn chúng sợ chết nên vội vàng cho trực thăng bốc bay hết. Sau này nhắc lại sự kiện có người hỏi ông: Hỏi cung ông, tên trung tá ngụy nói: Sao lúc ấy ông liều thế? Ông đáp: Số tôi chưa đến lúc tận. Ông nhạc tôi đúng ngọ xem thọ tinh của tôi, bảo: Còn sống tới ngoài 80 tuổi! Nghĩa là giờ đây ông cũng vậy, ông chỉ còn bám víu vào niềm tin về sự bất khả tử của mình. Niềm tin số mệnh.
Nhưng, phải chăng là số mệnh và niềm tin của ông là mầu nhiệm thật. Đúng lúc nước dâng tới ngực ông, ông bíu vào nóc khoang đu lên thì ông nghe thấy tiếng Bi sủa. Bi đã ở trên boong tàu. Nó đang đi tìm ông. Hình như gió mưa đã ngớt nên tiếng Bi dội xuống lòng tàu nghe rất rõ. Nghe thấy cả tiếng móng nó cào. Ngay ở phía đầu ông. Móng nó riết xiết vào mặt gỗ nóc khoang và một tia sáng thiên thần đã lọt qua một kẽ ván nhỏ, rọi xuống mặt ông. Sực nhớ, ông Thuần rút con dao nhọn lách qua kẽ hở. Lát sau, nhờ cái báng súng thúc, một mảng ván nóc khoang đã bật lên. Trên boong, một người xách cái xà beng chạy tới A, con chó! Chính con này lúc nãy nó cắn lão già có ngón tay cụt đấy! Ai đó nói.
Con chó không lắm! Người nọ thúc xà beng vào cạnh tấm ván nóc, bẩy mạnh.
Cửa lên thiên đường đã mở!
Leo lên tầng trên, ông Thuần vội vã bắt tay vào cứu những người còn bị kẹt dưới lòng tàu. Nhưng ông nhận ra con tàu không thể thoát khỏi cơn nguy biến. Và tính mệnh của hàng trăm con người đang ở đầu sợi tóc. Sóng vẫn dồn mạnh trùm lợp lên con tàu lúc này chỉ là cái vỏ sắt lấp lửng nổi chìm trên mặt biển đen ngòm. Thiên nhiên luôn giữ quyền trừng phạt những gì đi quá giới hạn. Và thế là giờ đây đã có thể lý giải những điều còn mập mờ trong bóng tối. Đưa được ông Thuần vào tù, bọn tiếm quyền đã mặc sức tung hoành, tìm mọi cách vơ đầy túi tham. Chiếc tàu Hải Âu cũ nát được chúng sơn phết, sửa chữa qua loa rồi đem bán lấy tiền chia nhau. Kỷ cương xã hội lỏng lẻo là trạng thái phổ biến đã nuôi dưỡng chúng và gây mầm cho các tai họa tày trời. Con tàu sẽ chìm, nhất định chìm rồi. Ngửa mặt lên trời, mặt đầm đìa nước, chắc chắn là ông Thuần đã khóc: Cơ hội để rửa hận đã tưởng nắm trong tay rồi, sao ông luôn gặp sự đời oái oăm thế!