Trực giác cho chúng ta những thông tin tắp lự và chưa chắc là kém chính xác hơn lý trí. Vì trực giác còn là kinh nghiệm sống hoà tan trong cảm nhận. Trực giác lại vô tư nữa.
Một sinh vật ở đẳng cấp thấp hơn con người như Bi, có trực giác không, hay chỉ thuần là bản năng tự vệ và tuỳ hứng khi nó đối xử với mỗi con người? Tôi không hiểu lắm, nhưng rõ ràng là Bi chẳng thể nào quen thân được với ông Mệnh. Nó hằn học với ông có nhẽ đến suốt đời, mặc dầu ông còn đến nhà tôi vài lần nữa. Ông tiêm phòng dại ngay, chỉ một mũi thôi, nhưng giá một chỉ vàng. Ông đến với vẻ mặt buồn rầu và ân hận. Ông xin lỗi mẹ tôi và tỏ ra hết sức nhún nhường với Bi, ông đem cả một gói đầu cá rán cho nó. Tình thế vẫn chẳng vì thế mà đảo ngược, buồn thay cho ông!
Vậy mà tại sao lại có những người thoạt đầu gặp Bi đã tỏ ra là có thiện cảm đặc biệt?
Chú Đạt phóng viên báo Người Lao Động là một ví dụ.
Chú Đạt đến nhà tôi lần thứ hai, Bi nhảy ra cửa, ngoáy tít đuôi mừng. Còn khi chú ngồi hỏi chuyện mẹ tôi thì nó lại lân la đến, ngửi hít liếm chân chú.
Sinh vật nào cũng có ưu thế riêng của nó. Con mèo thì có cái tài trèo leo, cái nhìn xuyên thấu màn đêm, bộ râu ăngten, tài ém mình và bước nhảy vồ tuyệt diệu. Con khỉ là đấu thủ số một về môn đu, nhảy trên cây, cùng là tài bắt chước người. Chuột theo cụ Đồ Chiểu, có đến bảy cái tài: leo trèo, nhảy tường, vượt rào, đào đất, bơi lội.
Còn Bi? Bi có mẫn cảm bẩm sinh trong việc đánh giá đối tượng. Và đó là di truyền, là năng lực phán đoán chính xác đã được in dấu vào từng phân tử tế bào truyền di từ thế hệ này sang thế hệ khác, trở thành một tập quán, một sức mạnh tự nhiên của nó.
Chú Đạt chỉ vào lưỡi Bi, nói: Đốm chàm từ đầu lưỡi đến cuống lưỡi thế kia, là nòi chó khôn lắm đấy! Chú bế nó lên, cho nó soi gương. Thấy nó không sủa con chó trong gương, chú hỏi tôi vì sao? Tôi đáp: vì nó nhận ra nó. Chú lắc đầu: Không phải! Mắt nó có thể lừa nó, rằng đó là con chó lạ. Nhưng mũi nó thì xác định rằng: Không! Thêm nữa, chú nói, trường sinh học bây giờ mới công nhận rằng mỗi con người đều phát ra một luồng điện sinh học. Nhưng theo chú, các cụ ta xưa đã nói tới luồng điện sinh học này rồi. Nó là cái vía, theo từ các cụ dùng. Bi có thể là nhận ra vía từng người lắm chứ. Chú kể: Có con chó từ Châu Âu bị bán sang Châu Mỹ. Mười năm sau, người chủ cũ của nó sang Châu Mỹ chơi, gặp nó, nó còn mừng rối rít như con cái nhận được mẹ cha. Chú đứng cách Bi hơn mười bước chân, giơ cái đồng hồ lên, thấy nó vểnh tai lắng nghe. Chú bảo, nó thính tai lắm, nghe được tiếng tích tắc ở khoảng cách xa vậy đấy.
Còn một người nữa, cũng như ông Mệnh, rất khó thân thiện với Bi. Người đó, tiếc thay lại là anh Cần, anh cả của tôi, mới mãn hạn tù trở về.
Anh Cần tôi, cách đây bốn năm, khi đang là sinh viên khoa vật lý Trường đại học tổng hợp, đã lĩnh án tù bốn năm. Câu chuyện thật buồn, nhưng không thể không kể.
Do rất nhiều lý do, trong đó có cả những điều chưa minh bạch, một chiều đông rét mướt nọ, người ta đã cho một trung đội cảnh sát cơ động tỉnh đến bắt bố tôi, đương kim giám đốc xí nghiệp đóng tàu của tỉnh. Khi người đội trưởng đọc lệnh bắt bố tôi xong, mẹ tôi kinh hãi đến dại đờ thì bố tôi lại tỏ ra hết sức bình tĩnh. Ông vừa ở xí nghiệp về, còn đang cầm cái đòn gánh sửa soạn đi gánh nước. Một người công an trẻ giật cái đòn gánh từ tay bố tôi, thọc vào gầm phản, chắc là sợ bố tôi hành hung. Thấy vậy, bố tôi chỉ cười nhạt. Theo tờ lệnh, một người công an bắt đầu lục soát cái giá sách lớn năm tầng áp bờ tường. Ở tầng trệt, anh ta nhặt đựoc một cuốn sổ tay, mở ra thấy một xấp thư, định giở xem thì mẹ tôi quay phắt lại, kêu hoảng hốt: Xin đừng động đến thư từ riêng của tôi. Người công an nọ cười khẩy, cặp cuốn sổ vào nách và tiếp tục bới các tầng sách. Lúc ấy, anh Cần tôi đang say mê giải bài toán vật lý. Ông Phạm Ngũ Lão ngồi ở bên đường vừa đan sọt, vừa nghĩ kế đánh giặc, mải mê đến nỗi lính vua Trần dẹp đường, chọc mũi giáo vào đùi chảy máu vẫn không hay. Ông ácsimét giải bài toán hình vẽ trên bãi cát, đến khi quân giặc kéo tới, vẫn trong cơn đam mê, gạt mũi giáo giặc mà thét: Chớ có động vào các hình vẽ của ta. Anh Cần tôi mê toán, lý cũng một tinh thần siêu thoát như vậy. Anh chỉ trở về với cõi thế tục lúc hai người công an áp sát bố tôi, yêu cầu bố tôi đưa tay để họ khoá lại và bố tôi từ tốn đề nghị họ không cần thiết phải như vậy.
Trở về với thực tại, trước sự thật quá phũ phàng, anh tôi liền đứng dậy, chồm lên, giật hai đoản côn mắc trên tường, nhảy tới, trấn trước mặt mấy người công an, gồng người, dõng dạc hét: Anh nào động vào bố tôi thì hãy liệu hồn!
Khác hẳn tôi, anh Cần tôi rất giống bố tôi về mặt thể lực. Mười tám tuổi, anh đã cao một mét bảy mươi tư, nở nang như một lực sĩ thuần thục. Anh ham tập võ từ nhỏ. Karate, Vôvinam, Thiếu Lâm tự. anh đều có tập. Riêng quyền Anh, anh là gà của lò một võ sư nổi tiếng từ hồi mười ba tuổi, đã từng lên võ đài so găng với các võ sĩ tỉnh bạn. Anh là một thiên tư đặc sắc các khoa học chính xác. Hồi học lớp 12, mai thi tốt nghiệp, hôm nay anh phải đi mổ ruột thừa. Thế mà hôm sau, anh ngồi xích lô đến phòng thi, nghiến rắng chịu đau, làm đủ hết các bài thi và đỗ với số điểm cao nhất trong hơn một nghìn thí sinh toàn tỉnh. Anh đỗ vào ba trường đại học cùng một năm thi. Anh ghi nhật ký Tôi nghe thấy ở trong tôi một chút mầm non của Anhxtanh. Tôi sẽ là Anhxtanh, dành trọn đời cho khoa học, phục vụ dân tộc tôi. Vào học đại học các giáo sư phát hiện ra năng khiếu toán lý đặc sắc của anh, có ý định sau khi anh tốt nghiệp sẽ gửi anh đi Đại học Lômônôxôp. Anh chơi ghi ta hay lắm. Nhiều đêm trăng, bản Vũ khúc Tây Ban Nha của anh réo rắt khiến bao người trong phố phải mê hồn. Có nhẽ rồi sẽ có một Hải Thoại, một Văn Vượng hay là một Tạ Tấn nữa ra đời! Anh thông minh, chịu khó và đứng đắn. Một thiên tài không nhất thiết phải bợm bãi, lăng nhăng. Anh nói vậy. Thuốc không hút, rượu không, chè đặc không. Chơi bời lêu lổng, không. Có lẽ anh chỉ đôi ba lần có quan hệ công việc và trò chuyện với Xuân Chương, ở cạnh nhà. Hai người cùng tham gia Thanh niên Cờ đỏ ở phường. Sau vài lần cãi cọ, xích mích vặt lại bỏ qua, nhưng sau khi biết y chẳng phải là người đứng đắn, anh tôi cắt đứt hẳn quan hệ với y. Ta là một tính cách khác. Anh ghi nhật ký vậy.
Anh coi bố như một siêu nhân, một mẫu hình lý tưởng. Lời ông nói, điều ông tâm niệm, lý thuyết ông chủ trương, với anh là thánh kinh. Hình ảnh ông qua những trang tiểu sử của ông, khi trong vai người chiến sỹ ở giây phút tính mệnh treo trên sợi tóc, lúc là giám đốc đứng mũi chịu sào chống chọi với mọi gian khó, là tượng đài để anh chiêm ngưỡng, tôn vinh.
Kẻ nào động đến bố tức là kẻ đó rắp tâm đạp đổ thần tượng thờ phụng của anh. Thành ra, vốn là người trấn tĩnh, hơi mơ màng mà lúc này với hai đoản côn trong tay, trông anh quắc thước, lẫm liệt không khác một tráng sỹ xung trận.
Hành vi mang màu sắc nghĩa hiệp của anh khiến mấy người công an nghi ngại. Họ lui cả lại một bước. Và đám người hàng xóm có thuộc tính cố hữu gió chiều nào che chiều ấy, trong đó có ông Viển cụt, đóng vai đại diện chính quyền địa phương, từ nãy đứng xem màn hoạt cảnh bi đát ở gia đình tôi, lòng như mở cờ, giờ thấy vậy, vội xô nhau, tháo chạy ra cổng. Tôi nghe rõ tiếng ông Viển quát: Làm cái gì mà như thấy cọp thế!
Bố tôi dịch lên một bước ngắn, vỗ vai anh Cần tôi:
Cần, nghe bố, vào nhà đi, con. Bình tĩnh, thẳng đầu tiến bước trên con đường lớn, không có gì phải sợ, con ạ. Ở nhà chăm sóc mẹ và em giúp bố.
Anh Cần tôi đứng như hoá đá trên đôi chân giang rộng. Người đội trưởng công an chống tay lên bao súng, nhổ một bãi nước bọt:
Tiên sư đồ nhãi ranh! Bọ chó múa bấc! Liệu được mấy hơi!
Tiếc thay! Câu nói lỗ mãng đó gây kích động tức thời. Thế là anh tôi vung hai khúc côn ngắn lên cao. May, với sức bật của một cơ thể tráng cường tuổi bốn lăm, bố tôi nhanh như cắt, đã choàng hai cánh tay lớn, bó chặt hai vai anh tôi.
Con! Không được manh động!
Đoản côn chỉ vụt vào không khí. Người đội trưởng bật lùi vào tường, giật khẩu súng ngắn khỏi bao, lăm lăm.
Mẹ tôi thoắt trở lại thiên chức người mẹ quả cảm lao tới, xoay người, giang hai tay và căng bầu ngực đầy, che đỡ cho cả anh tôi và bố tôi:
Tôi xin ông! Tôi xin các ông! Cháu nó còn non dại!
Hai tay bố tôi buột lỏng. Cả khối vật chất đang trương căng trong vòng tay kìm giữ của ông, là anh Cần tôi, bỗng như bị rút ruột, xẹp hơi, bẹp dí. Con, lúc này phải chấp hành luật pháp! Bố tôi ghé tai anh tôi. Anh tôi như cái thân cây ải mục, bủn rủn, khuỵu gối ngã xuống với tiếng kêu hắt ra não lòng: Bố ơi!
Người đội trưởng móc từ thắt lưng cái còng sắt bước tới Bố tôi nhắc lại:
Các anh không phải khoá tôi đâu.
Người đội trưởng lắc đầu, lạnh tanh:
Phép nước quy định vậy. Không được chống lệnh!
Rồi nhổ bọt:
Đường lớn với chả đường nhỏ! Đường vào nhà tù, hiểu chưa?
Câu nói đó răn đe cả bố tôi và anh tôi.
Còng sắt bập lại. Hai tay bố tôi bị ghì chặt vào nhau và hơi hất ra phía trước, trong tư thế vừa phi lý vừa hèn hạ. Ai nghĩ ra cách khoá tay phạm nhân mà tài thế! Bố tôi gầm ngay mặt xuống. Khốn nạn! Mặc cảm tội lỗi ập đến ngay. Ngoài cổng, giữa lao xao tiếng người chen đẩy, là tiếng ông Viển: Lui ra, cho các anh công an thi hành công vụ! Muốn chết, hả!
Mới hôm nào bìu ríu, vui vẻ là thế. Mới hôm nào tin cậy, thân thiết là vậy. Thế mà bây giờ, chăm chắm nhìn bố tôi đi qua chỉ là những ánh mắt ghẻ lạnh, thậm chí giễu cợt, khinh bỉ và căm thù. Mọi người đều muốn bày tỏ công khai thái độ của mình: Ta, chí ít cũng là kẻ không có cảm tình gì với tên tội phạm này.
Ghê gớm quá thế thái nhân tình! Buồn thay cuộc đời! Chẳng lẽ một con người khởi nghiệp và hành trình thì hùng tráng đẹp đẽ mà kết cục lại nhục nhã, thê thảm đến thế này!
Một tuần lễ sau ngày bố tôi bị bắt thì xảy ra trận ẩu đả giữa anh tôi và Xuân Chương.
Xuân Chương, tướng khỉ, vô nghề, thực chất chỉ là một gã trai đàng điếm. Y bỏ quê tít tận miền Trung ra đây, thoạt tiên làm phu hồ ở công trường xây dựng nhà ở của phường.
Nhờ có tí tài kẻ, vẽ nên có lần Uỷ ban phường nhờ y trang trí hội nghị tổng kết công tác kinh doanh ở cửa hàng bà Lên. Bà Lên, tính khí hoa nguyệt đến mức gây rối cả hàng ngũ các chức sắc ở xã, nên phải tha hương lên đây. Béo tốt, mũm mĩm, bà Lên cũng có sức truyền cảm lắm. Xuân Chương quen hơi bén tiếng bà Lên từ lần làm công việc khánh tiết nọ. ít lâu sau, y chuyển từ công trường về làm nhân viên bảo vệ cửa hàng. Vài tuần sau, thấy bà Lên giới thiệu là cháu gọi bằng cô, ở quê ra. Xuân Chương về ở cùng nhà với bà Lên từ đó.
Chương rất thích chơi với anh tôi. Sánh vai với người tài, mình cũng thơm lây, hẳn y nghĩ vậy. Nhưng, Chương chơi với ai cũng không bền. Y vốn hiếu thắng, hay lật mặt, phản trắc. Y lại dốt nát, hay đại ngôn và bắng nhắng.
Chẳng hạn, y cứ khăng khăng rằng, nhà văn Alêchxi Tônxtôi là con nhà văn Líep Tônxtôi; vì Mỹ cho phụ nữ đi làm cảnh sát nên mới gọi là sen đầm quốc tế! Chơi cờ tướng, chẳng bao giờ y được của anh tôi lấy một ván. Cay cú, có hôm y vác bàn cờ đến tận cổng nhà tôi, gọi anh tôi ra đọ sức: Nào cho em học vài nước chứ, anh giai! Thoạt đầu ngọt nhạt thế, sau thì giở giọng du côn: Đ. mẹ, ăn non, không cho bố mày gỡ một ván là hèn đớn đấy, con ạ. Cám cảnh quá, mẹ tôi có lần bảo anh tôi, rằng: Thí cho nó được vài ván cho nó hởi lòng hởi dạ, đỡ nhiễu sự đi. Chuyện tưởng đơn giản lại hoá ra không dễ dàn xếp. Khi bộc lộ tài sức thì không thể khiêm tốn, nhường nhịn được mẹ ạ. Như bố con ở xí nghiệp ấy. Không thể khiêm nhường khi làm việc được!. Anh tôi đáp vậy.
Một lần, anh tôi gác đêm ở phường, bắt được quả tang Chương đang ôm bao ximăng ở cửa hàng y giữ chân bảo vệ bán cho kẻ gian phi. Y dụ anh tôi, sẽ cưa đôi số tiền bán đồ gian, nếu anh tôi lờ đi, không tố cáo tội ăn trộm và hối lộ của y, nhưng anh tôi đã cắt đứt hẳn quan hệ với y.
Bố tôi bị bắt. Xuân Chương vớ được cơ hội trả thua anh tôi. Ở các điểm tụ hội, Chương tha hồ khua môi múa mép nói xấu bố mẹ và anh em tôi. Thôi thì còn thiếu gì tội mà y không gắn cho bố tôi. Tham ô, ăn hối lộ chỉ là tội trẻ con, chả bõ bèn gì. Muốn hạ nhau, phải giở ngón độc thủ, tức là quy cho nhau tội phản động, gián điệp kia. Thời nay đã chính trị hoá toàn bộ đời sống rồi còn gì. Ờ, cái hồi bị địch bắt đấy. Có bị nó mua chuộc hay không? Có nhận làm điệp ngầm cho nó không? Nào ai biết ma ăn cỗ mà lần? Nhưng cứ xét tội chống đối chính sách từ khi lão làm giám đốc thì cũng có thể đoán được chứ. Cái gì nó cũng có cơ sở và hệ thống của nó đấy, các bạn ạ! Y cứ xoen xoét cái mồm như vậy.
Người chú ý đến cái tài biến hoá, ăn không nói có của Chương là Viển. Ông Viển chủ tịch phường, chi uỷ viên, nói trong cuộc sinh hoạt Uỷ ban phường: Đồng chí Chương có thể được đào tạo để thành lực lượng kế cận của chúng ta!
Một hôm đi qua trước cổng nhà tôi, Xuân Chương đánh một phá trung tiện, rồi cất tiếng cười khè khè:
Đ. mẹ, mùi quân phản động hay mùi gì mà khắm thế nhỉ!
Anh Cần tôi mở cửa bước ra, hất hàm gọi Chương lại:
Này, mày nói gì thế Chương?
Chương đứng lại, nhe hàm răng vẩu, gùn ghè:
Mày muốn thành bã như bố mày thì ra bãi cỏ ngoài hồ!
Trận đấu đã xảy ra. Ở đúng nơi sau này con Bi nhà tôi và con Xồm ác cẩu nhà ông Viển đã chọi nhau một trận chí tử và cũng không kém phần quyết liệt.
Là một bản tính du đãng, quen nghề đấm đá, lắm mẹo vặt anh chị, nhưng Xuân Chương thua kém anh Cần tôi về sức vóc và bài bản võ thuật, quyền cước. Chưa đầy ba phút, Xuân Chương đã ăn liên tiếp gần chục cú đấm xoáy, bổ, tạt, vả vào mặt, đầu, ngực. Uất quá, y liền giở trò đểu là rút dao nhọn giấu sẵn ở trong túi quần. Anh tôi bị y đâm hai nhát sượt sườn và mạng mỡ. Nhưng, dùng miếng kim kê, ngay sau đó, anh tôi đã đá bật con dao trong tay y bay xuống hồ nước. Thế là y xán tới anh Cần tôi, tưởng có thể dùng món vật kết hợp trò cắn, cấu, móc chỗ hiểm để hạ anh tôi. Nào ngờ anh tôi lừa miếng, quật y ngã sõng soài. Rồi thượng lên lưng y, anh tôi một tay túm tóc, một tay kéo hai chân y gập lại. Miếng đòn ác hiểm quá! Xương sống Xuân Chương kêu lục cục, mắt y trợn ngược, toé đom đóm. Chơi đòn này, anh Cần tôi thực tình cũng chỉ có ý định là cho Chương một miếng đau để y nhớ đời thôi.
Lúc đó bà Lên đi chợ về qua. Thấy vậy bà liền vứt cả quang gánh, tức tốc về gọi ông Viển. Ông Viển lục ục đôi ủng cùng hai tiếng Thế nào! Thế nào dính ở miệng chạy ra. Nhưng, không hiểu ông này có ý tứ gì, nên đến tận lúc Xuân Chương kêu ặc ặc như bị cắt tiết, mới hô hoán, gọi công an phường tới can thiệp. Xuân Chương nằm úp mặt bất động như cái xác chết. Ông Viển và bà Lên đồng thanh dồn mọi tội cho anh Cần tôi. Thật là rất đàng hoàng và rất gai góc.
Anh tôi bị điệu về đồn. Ở đồn, anh lì lợm, không trả lời một câu hỏi nào của công an. Đã vậy lại chửi người ta là ngu, là đồng loã với bọn trộm cướp, lưu manh. Thế là anh Cần tôi bị kết án hai năm tù vì tội chống đối người thi hành công vụ một cách có ý thức. Ở tù anh lại mắc thêm tội nữa, nên án tù từ hai kéo dài thêm hai năm nữa là bốn.
Hết hạn tù bốn năm, đúng ngày đúng tháng, chẳng có sự bảo lĩnh nào của ông Mệnh cả, anh Cần tôi mới được trở về với gia đình.
Một thanh niên sinh viên tài năng, đầy triển vọng, vạm vỡ, tươi sáng khi ấy, giờ đây đã biến thành một nhân dạng đàn ông hom hem, mệt mỏi và lạnh lùng. Lưng cong cong, đầu cúi gập. Tóc xoà vai, ria mép đen xì. Mặt tóp như mặt chim. Hai con mắt lún sâu, lờ ngờ bí ẩn. Cái hình nhân xa lạ ấy đeo cái bị cói, mặc bộ quần áo bà ba nhuộm vỏ đa, một ngày nọ lặng lẽ đẩy cổng bước vào nhà tôi. Bi lập tức xồ ra, nhưng nó bị ngay một cú đá nhà nghề vào mạng mỡ, bắn vào nhà. Tiếp đó, nó từ gầm phản bắn ra những tràng sủa tức tối và đầy căm hận.
Vứt cái bị xuống đất đánh cái bịch, cái thân xác nọ chống tay ngồi vào ghế, đoạn giạng chân, ngả đầu lên thành ghế hất cái mặt chim lên trần nhà, nhắm mắt lại.
Cần! Con đã về! Mẹ tôi vỡ ra mấy tiếng kêu, sau đó tắc nghẹn, mặc nước mắt lặng lẽ ào qua mi mắt.
Tôi đi đến bên anh, nhấc bàn tay anh lên, như để xác minh bằng da thịt xem có phải là anh Cần tôi thật không. Anh giật tay lại, mở mắt trừng trừng nhìn tôi cái nhìn xa lạ và canh chừng. Lát sau, như nhận thức được hoàn cảnh, anh đứng dậy, đi đến bên mẹ, hơi cúi xuống, bắn qua vành môi trễ hai tiếng khô như hai viên sỏi.
Thôi mẹ!
Đó là câu nói duy nhất hôm đó của anh.
Hôm sau, tưởng tình hình sẽ khá hơn. Nào ngờ, hôm sau, hôm sau nữa. anh chẳng mở miệng thêm một câu. Ngày ba lần ngồi vào mâm, đối mặt nhau, cũng chẳng hơn. Nhấc bát lên là và. Hết cơm, lẳng lặng đưa cái bát không cho mẹ tôi, chẳng lọt ra được khỏi vành môi một lời gọi là. Ăn xong là ngồi ở cái ghế gỗ tạp đóng kiểu ghế bành. Nếu không ngửa đầu, nhắm mắt, thì ngồi im lìm hút thuốc. Trời, anh hút thuốc lá mới ghê! Điếu nọ nối điếu kia. Hút lấy hút để. Hút lấy được. Hút rồi rũ xuống ho. Ho hàng thôi hàng hồi rồi khạc nhổ. Cổ họng anh chỉ phát ra tiếng ho thôi. Anh quên cả tiếng nói rồi.
Anh quên tiếng nói, quên ngôn ngữ, quên hết. Đoạn đời trước, hồi anh còn ở nhà như là của ai khác vậy. Anh quên cả môn vật lý và ông Anhxtanh, không nhớ cả cây lục huyền cầm và bản Vũ khúc Tây Ban Nha, quên cả các mối quan hệ trong gia đình và các phép ứng xử thông thường như đi phải báo, về phải chào hỏi người nhà.
Nhưng, cũng không chỉ có vậy. Cái hình xác kia chứa chất cái gì ở trong đó, nào ai có thể đoán được? Một khối thuốc nổ ư? Có thể lắm chứ!
Nhìn anh tôi như một bóng cô hồn vất vưởng có thể bất chợt gây ra một tai hoạ không sao biết trước được, mẹ tôi buồn lo đến rộc rạc cả người. Những ngày xưa đẹp đẽ huy hoàng hoá ra chỉ còn là mộng ảo! Giờ đây, ước ao cao nhất của mẹ tôi chỉ là một đời sống được đảm bảo an toàn! Phải, an toàn nghĩa là anh Cần tôi sẽ không phạm phải một tội lỗi nào nữa. Anh Cần tôi được trở thành một công dân lương thiện như hàng chục triệu con người bình thường quanh chúng tôi đây.
Nhìn anh tôi gà gật trên cái ghế xọp xẹp ngày này qua ngày khác, mẹ tôi nồng nẫu cả gan ruột. Đời người thật chẳng biết thế nào mà lần là vậy. Nhưng, chẳng lẽ những kẻ thông minh lại là những con người dễ hư hỏng? Chẳng lẽ những tài năng hình sắc đã một thời rạng rỡ và những tình cảm cao quý lại có thể tan biến nhanh vậy mà chẳng còn lại chút hồi quang, dư âm, dư ảnh? Chẳng lẽ con người đã phát triển nhân cách tới mức biết được giá trị của mình, dám tự khẳng định mình qua tâm sự ghi trong Nhật ký, lại có thể dễ dàng để ngoại cảnh chi phối mình vậy?
Phấp phỏng lo sợ, mẹ tôi vội vàng báo cáo Uỷ ban và đồn công an phường để nhờ họ giúp đỡ. Bạo lực là cần thiết và đắc dụng trong việc răn đe để không xảy ra những hành vi bột phát manh động. Đặc biệt mẹ tôi còn sang nhà bà Lên, báo cho bà ta biết để liệu mà ngăn giữ Xuân Chương, vì sợ rằng hai người chưa quên hiềm khích cũ, nhất là giờ đây anh tôi đang gặp hồi phẫn chí, trong khi Xuân Chương lại là kẻ gặp thời, đang lên như diều gặp gió; bên tức khí, bên ỷ thế, dễ phát sinh xô xát. Chẳng hiểu bằng con đường nào mà gã trai đàng điếm này lại được đề bạt làm trưởng ban văn hoá văn nghệ phường? Xuân Chương làm sao mà đủ tư cách đảm nhận trọng trách này. Ở vị trí này, những nhược điểm về kiến thức và tính nết của Chương mới lộ tẩy hết. Y nói năng, nhận xét thật là vung tứ linh, thật là văng mạng, buồn thay!
Một hôm, tôi buột miệng hỏi anh tôi:
Anh Cần, anh còn nhớ Xuân Chương không?
Xuân Chương là thằng nào vậy?
Biết mình lỡ lời, tôi vội lảng:
À anh này bây giờ lãnh đạo công tác văn hoá văn nghệ ở phường. Nghe anh ta nói chuyện, buồn cười lắm, anh ạ.
Buồn cười thế nào?
Hôm nọ anh ấy phê phán nhà mình đặt tên con chó là Bi có ý bôi xấu xã hội. Bi là bi đát, bi quan, bi thảm, sầu bi, trong khi chế độ ta về căn bản là lạc quan, tốt đẹp! Mỗi tháng anh ấy tổ chức bình báo tường ở phường một lần. Anh ấy khen bài ca dao này có Tầm nhìn trung ương, chê bài thơ kia là ăn phải đũa xét lại. Lại có hôm anh ấy nói chuyện về tình hình văn học gần đây. Anh ấy khen nức nở tác phẩm Cô Vân của nhà văn Hữu Mai là tuyệt vời đệ nhất văn chương. Mọi người ngớ ra. Một người hỏi: Thưa đồng chí diễn giả, đồng chí đã đọc cuốn sách đó chưa? Anh ấy liền lắc đầu: Tôi bận lắm, giờ đâu mà đọc. Người nọ liền tiếp: hèn nào đồng chí nói sai hết từ nội dung đến tên sách. Nó là cuốn Ông Cố Vấn chứ không phải cuốn Cô Vân!
Tôi tưởng anh tôi cười. Nhưng anh tôi chỉ cau mặt:
Loại chó nhảy bàn độc như nó thì lấy đấu mà đong, lấy xe mà chở cả năm cũng chẳng hết.
A! Ra vậy, con người này biết quên cái đáng quên và còn sáng suốt lắm!