Montréal, Canada.
Chuông báo thức reo vang và đồng hồ đếm ngược bắt đầu chạy. Sarah thường phải chạy đua với thời gian kể từ khoảnh khắc cô thức dậy cho tới khi cô đặt lưng xuống. Vào giây phút cô mở mắt, não bộ của cô được khởi động như khi người ta bấm nút vận hành một cái máy tính vậy.
Mỗi sáng, cô thức dậy vào lúc năm giờ. Không có thời gian để ngủ thêm nữa, từng giây từng phút đều rất đáng giá. Một ngày của cô được bấm giờ, tính toán từng li một, chuẩn mực như những tờ giấy mà cô mua vào lễ khai giảng để bọn trẻ nhà cô dùng trong giờ toán. Đã qua lâu rồi khoảng thời gian vô tư lự, trước khi có văn phòng luật, nhà trẻ, những nghĩa vụ và trách nhiệm. Chỉ cần một cuộc điện thoại là đủ để thay đổi lịch trình của cả một ngày: Và nếu tối nay chúng ta làm cái này…? Và nếu ta đi tới…? Và nếu ta sẽ…? Ngày hôm nay tất cả đều đã được lên kế hoạch, được sắp xếp, được lường trước. Không còn những việc ngẫu nhiên xảy đến, vai diễn đã được ôn tập, được diễn, được lặp đi lặp lại mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, suốt cả năm. Người mẹ của gia đình, người phụ nữ giữ vị trí cao, working-girl, it-girl, wonder woman… Ngần ấy những nhãn mác chức danh mà các tờ tạp chí phụ nữ dán lên lưng của những người đàn bà như cô là ngần ấy những gánh nặng trĩu trên vai họ.
Sarah thức dậy, tắm táp, mặc quần áo. Những cử chỉ của cô chính xác, hiệu quả, phối hợp nhịp nhàng như trong một bản giao hưởng nhà binh. Cô đi xuống bếp, sửa soạn bàn ăn sáng, luôn luôn cùng một trật tự: Sữabátnước camsocolapancakes cho Hannah và Simon, ngũ cốc cho Ethan và café đặc cho cô. Sau đó, cô sẽ đi đánh thức bọn trẻ, trước tiên là Hannah rồi đến cặp song sinh. Trang phục của chúng đã được Ron chuẩn bị từ hôm trước, chúng chỉ việc làm vệ sinh rồi tròng quần áo vô người trong khi Hannah lấp đầy những hộp đồ ăn trưa. Đó là một chuỗi công việc cứ thế diễn ra ngăn nắp. Chiếc xe hơi bốn chỗ thông dụng với phần để đồ rộng phía sau của cô chạy trên những con phố nội thành để đưa lũ trẻ tới trường, Simon và Ethan tới trường Tiểu học, còn Hannah tới trường cấp Hai. Sau những cái hôn tạm biệt, những “con không quên gì đấy chứ?”, những “giữ ấm vào nhé”, những “chúc may mắn cho bài thi toán của con”, những “đừng chọc phá ở ghế sau nữa”, những “không, con phải đến phòng tập” và cuối cùng là “theo truyền thống thì cuối tuần sau các con sẽ ở nhà bố”…, Sarah mới lái xe đến văn phòng.
Vào chính xác tám giờ hai mươi phút, cô đỗ xe trong hầm để xe, trước tấm pa-nô đề tên cô: “Sarah Cohen, Johnson & Lockwood”. Tấm bảng tên này là thứ cô chiêm ngưỡng mỗi sáng với một niềm tự hào. Nó không chỉ là nơi đỗ xe dành riêng cho cô, nó còn là một chức vị, một cấp bậc, một vị thế của cô trong thế giới này. Đó là một chiến lợi phẩm, công sức lao động của cả một đời. Là thành công của cô, là lãnh địa của cô.
Tại sảnh tiếp đón, người gác cửa cúi chào cô, rồi tới cô gái nhân viên lễ tân, luôn luôn theo cùng một nghi thức. Ở đây, tất cả đều kính trọng cô. Sarah bước vào thang máy, nhấn vào nút lên của tầng 8, rảo bước đi qua hành lang hướng về phía văn phòng riêng của cô. Chưa có nhiều người cho lắm, cô thường xuyên là người đầu tiên có mặt và là người cuối cùng ra về. Đó là cái giá phải trả để xây dựng một sự nghiệp, cái giá để trở thành Sarah Cohen, cộng sự mảng equity của văn phòng luật danh giá Johnson & Lockwood - một trong những văn phòng được đánh giá là uy tín nhất của thành phố. Trong số các cộng tác viên của văn phòng phần đông là nữ, Sarah là người đầu tiên được giữ chức vụ associée[1] trong một văn phòng luật nổi tiếng là đàn ông thường nắm nhiều quyền lực. Phần lớn những bạn gái của cô ở trường luật đều đã vấp phải ít nhiều những chướng ngại vật trên con đường sự nghiệp. Một số người trong số họ thậm chí đã bỏ cuộc, đổi nghề, uổng phí những năm học dài và khắc nghiệt. Nhưng không phải là cô. Không phải Sarah Cohen. Đống chướng ngại vật đó, cô đã đập tan chúng, làm chúng nổ tung bằng những giờ làm thêm, những cuối tuần ở lại văn phòng, những đêm thức trắng chuẩn bị hồ sơ biện hộ.
Cô còn nhớ lần đầu tiên bước vào sảnh chờ rộng lớn bằng cẩm thạch này mười năm trước. Đến tham dự buổi phỏng vấn xin việc, cô thấy mình đối mặt với tám người đàn ông. Ngày hôm đó, đích thân Johnson - cộng sự sáng lập nên văn phòng luật này, Managing Partner, vì Chúa - đã nhân dịp này ra khỏi văn phòng riêng của ông và đi xuống phòng họp. Ông đã không nói một lời nào, nhìn chằm chặp vào cô với con mắt nghiêm khắc, soi xét từng dòng trong CV của cô mà không một lời bình phẩm. Sarah cảm thấy mất bình tĩnh nhưng không hề để lộ ra. Cô là chuyên gia trong nghệ thuật đeo lên mình một chiếc mặt nạ, một ngón nghề mà cô đã rèn luyện thành thục từ lâu. Khi rời khỏi đó, cô mơ hồ cảm thấy nhụt chí. Johnson đã không tỏ ra quan tâm tới cô một chút nào, không đặt cho cô bất cứ một câu hỏi nào. Như một người chơi dạn dày kinh nghiệm trong ván bài poker, trong suốt buổi phỏng vấn ông trưng ra một bộ mặt thản nhiên, chỉ đáp một câu “Tạm biệt” lãnh đạm và để lại cho người khác dự đoán về một tương lai không nhiều hi vọng. Sarah biết rằng những ứng cử viên cho vị trí cộng tác viên ấy, họ rất đông. Cô đến từ một văn phòng luật khác, nhỏ hơn và ít danh tiếng hơn, không có gì để đảm bảo cho chiến thắng. Có những người khác với nhiều kinh nghiệm hơn, hiếu chiến hơn và thêm nữa, có thể là may mắn hơn.
Và rồi, cô được biết Johnson đã đích thân chọn cô, đã chỉ định tên cô trong số tất cả các ứng cử viên, trái với ý kiến của Gary Curst. Cô cần phải làm quen với việc Gary Curst không thích cô, hoặc là anh ta quá thích cô, có thể anh ta ghen tị, hoặc cũng có thể anh ta ham muốn cô. Lí do là gì cũng không quan trọng, anh ta luôn tỏ thái độ thù địch trong mọi tình huống có sự tham gia của cô, một cách vô cớ, không sao cứu vãn nổi. Sarah hiểu họ, những người đàn ông tham vọng và căm ghét phụ nữ đó, họ cảm thấy bị đe doạ bởi những người phụ nữ. Cô sống bên cạnh những người đàn ông ấy nhưng không màng tới họ.
Ở Johnson & Lockwood, cô đã leo lên lần lượt những bậc thang với tốc độ của một chú ngựa phi nước đại, tạo lập một danh tiếng bén vững nơi toà án. Toà án là võ đài của cô, là lãnh địa và đấu trường của cô. Khi cô bước chân vào nơi đó, cô trở thành một người lính, một chiến binh đáng gờm và không hề nhân nhượng. Khi tranh cãi trước toà, cô dùng một giọng nói có chút khác biệt với giọng thật, trầm hơn và vang vọng hơn. Cô biểu đạt bằng những câu ngắn, gay gắt, sắc sảo như những cú đấm móc. Chỉ cần một kẽ hở, một điểm yếu dù là nhỏ nhất trong lập luận của đối thủ cũng đủ để cô hạ đo ván đối thủ và nhấn chìm họ. Cô thuộc lòng các hồ sơ của mình. Cô không để họ khiến mình bối rối và không bao giờ khiến cho mình mất thể diện. Kể từ khi cô bắt đầu hành nghề trong cái văn phòng luật nhỏ trên phố Winston - nơi đã tuyển cô vào làm ngay sau khi cô thi đỗ chứng chỉ Luật sư tranh tụng - cô đã thắng ở phần lớn các vụ kiện của mình. Cô được ngưỡng mộ và bị dè chừng. Ở tuổi bốn mươi, cô là tấm gương thành công tiêu biểu cho những luật sư cùng thế hệ.
Ở văn phòng, người ta đồn rằng cô sẽ là Managing Partner kế nhiệm. Johnson đã có tuổi, cần phải có người nối tiếp vị trí của ông. Chiếc ghế này được tất cả các cộng sự thèm muốn. Họ tưởng tượng mình ngồi vào chỗ đó, trở thành vua của những vị vua. Vị trí này là một bước phong thánh, là đỉnh Everest trong giới luật gia. Sarah hội tụ mọi điều kiện để có thể được chỉ định: Một lý lịch mẫu mực, ý chí sắt đá, khả năng làm việc có thể thách thức mọi sự cạnh tranh - một dạng ám ảnh vô độ giữ cô lúc nào cũng ở trong trạng thái vận động. Cô là một vận động viên, một nhà leo núi, người mà sau mỗi đỉnh cao chinh phục được lại lập tức nhắm tới cái đích tiếp theo. Cô thấy cuộc sống của mình là như vậy, như một hành trình lên cao cứ nối dài mãi. Đôi khi cô tự hỏi, điều gì sẽ xảy ra khi cô leo đến đỉnh cao tột cùng. Cái ngày ấy, cô chờ đợi nó mà không thực sự mong rằng nó sẽ đến.
Dĩ nhiên, sự nghiệp của cô đòi hỏi những hi sinh. Cô đã phải trả giá bằng bao đêm trắng và hai cuộc hôn nhân. Nếu Sarah thường nói rằng đàn ông yêu những người phụ nữ không khiến cho họ trở thành một cái bóng, cô cũng phải thừa nhận rằng khi hai vị luật sư ở bên nhau, một người sẽ trở nên thừa thãi. Một ngày nọ, cô đã đọc được trong một tạp chí - phải, chính cô, người dường như chẳng bao giờ đọc những thứ như thế - một báo cáo thống kê đau xót về tuổi thọ tình yêu của các cặp luật sư. Cô đã cho chồng mình xem khi đó và họ còn cười đùa về nó. Đó là chuyện xảy ra một năm trước khi họ chính thức chia tay.
Bị trói buộc bởi công việc ở văn phòng, Sarah phải gạt sang một bên việc chia sẻ rất nhiều thời khắc với lũ trẻ. Bỏ qua những buổi dã ngoại của trường, những phiên chợ cuối năm học, những buổi trình diễn văn nghệ, những bữa tiệc sinh nhật, những kì nghỉ… chúng đè nặng tâm trí cô nhiều hơn những gì cô chịu thừa nhận. Cô biết là tất cả những khoảnh khắc đó đều sẽ không thể lấy lại được và ý nghĩ này khiến cô cảm thấy buồn bã vô hạn. Cô hiểu rõ điều này, cảm giác tội lỗi của những người mẹ phải gạt con sang một bên để lo lắng cho công việc. Cô đã thấy nó ập đến ngay sau khi Hannah ra đời, ngay từ cái ngày khủng khiếp đó, khi mà cô buộc phải bỏ con lại trong vòng tay của một người vú nuôi để đến giải quyết một việc cấp bách ở văn phòng nơi cô làm việc. Lúc đó, Hannah mới năm ngày tuổi. Cô đã nhanh chóng hiểu ra rằng, trong thế giới mà cô đang tiến thân, không có chỗ cho những khất lần trì hoãn của một bà mẹ sướt mướt. Mỗi buổi sáng, cô phải giấu đi những giọt nước mắt dưới lớp phấn nền dày trước khi tới văn phòng. Cô cảm thấy mình bị giằng xé, bị chẻ làm đôi, nhưng không thể tâm sự cùng ai. Cô cảm thấy ganh tị và thèm khát sự vô tư lự của chồng cô, cái kiểu vô tư đầy cuốn hút đó… Kì lạ thay, cảm giác bị giằng xé kia chẳng khi nào xuất hiện nơi người đàn ông. Họ bước chân ra khỏi cánh cửa ngôi nhà nơi họ sống với một sự dễ dãi đến ngạo nghễ. Khi ra khỏi nhà vào buổi sáng, họ chỉ cần đem theo đống tài liệu trong khi người phụ nữ đeo chằng xung quanh mình gánh nặng của cảm giác tội lỗi như một con rùa mang trên lưng cái mai nặng nề. Thời gian đầu, cô đã cố gắng thử chống chọi lại với cảm giác này, phủ nhận nó, chối bỏ nó, nhưng cô không làm được. Rốt cuộc, cô đã chấp nhận chừa cho nó một chỗ trong cuộc đời mình. Cảm giác tội lỗi đó là bạn đồng hành bao lâu nay của cô, là vị khách không mời mà đến ở khắp mọi nơi trong nhà cô. Nó là tấm biển quảng cáo trên cánh đồng, cái mụn cóc ở ngay chính giữa khuôn mặt. Xấu xí, vô dụng, nhưng nó là như thế. Nó luôn ở đó. Cần phải làm quen và chung sống với nó.
Ở bên cạnh các cộng tác viên và những người cộng sự, Sarah không để lộ ra bất cứ điều gì. Cô có một nguyên tắc: Không bao giờ nói về lũ trẻ. Cô không nhắc tới chúng, không có ảnh của chúng đặt trên bàn làm việc. Khi cô phải rời khỏi văn phòng để đưa lũ con đi khám hay có một buổi họp phụ huynh tại trường mà không thể thoái thác…, cô thích nói rằng mình có một cái hẹn ở bên ngoài hơn. Cô biết rằng, thà bị xem như tan sở sớm để đi uống vài ly còn hơn là viện đến những vấn đề liên quan tới người trông trẻ. Thà nói dối, bịa đặt, thêu dệt, tất cả mọi thứ, còn hơn là thừa nhận rằng mình phải bận bịu với lũ con. Nói một cách khác: Thừa nhận rằng mình có những sợi xích, những sợi dây ràng buộc, những trở ngại. Lũ trẻ là ngần đó những sự kìm hãm nhiệt tình, kìm hãm việc phát triển sự nghiệp của cô.
Sarah vẫn còn nhớ người phụ nữ đó, trong văn phòng cũ mà cô từng làm việc, người khi đó chỉ vừa mới được thăng lên chức cộng sự và cũng là cô ấy, sau khi thông báo về việc mình mang bầu, đã thấy mình bị giáng chức và quay lại với vị trí cộng tác viên. Đó là một thứ bạo lực câm lặng, vô hình, thứ bạo lực quen thuộc mà không một ai lên tiếng tố cáo. Sarah đã rút ra bài học cho mình từ đó. Trong hai quãng thời gian mang bầu, cô đã không hề nói điều gì với cấp trên. Ngạc nhiên thay, bụng cô vẫn phẳng lì trong suốt một thời gian dài. Cho tới khoảng bảy tháng, thai kì của cô hầu như không thể bị phát hiện, ngay cả khi cô mang bầu cặp song sinh. Như thể từ sâu thẳm bên trong chúng, lũ trẻ cũng đã cảm thấy tốt nhất là nên tỏ ra kín đáo thì hơn. Đó là một bí mật nhỏ của họ, một cuộc giao kèo ngầm giữa họ. Sarah đã rút gọn kì nghỉ cho sản phụ xuống ngắn nhất có thể. Cô quay trở lại văn phòng chỉ hai tuần sau sinh, những đường cong không thể chê vào đâu được, nước da có phần mệt mỏi nhưng được trang điểm kĩ càng kèm theo một nụ cười hoàn hảo. Buổi sáng, trước khi đỗ xe ở dưới văn phòng, cô dừng lại ở bãi đỗ xe của siêu thị cạnh đó, cô tháo ghế ngồi dành cho em bé ra khỏi băng ghế phía sau và đặt chúng vào trong cốp xe để biến chúng thành vô hình. Dĩ nhiên, đồng nghiệp của cô biết rằng cô có con nhưng cô cẩn trọng để không bao giờ nhắc họ nhớ tới điều đó. Một cô thư kí ở văn phòng luật có quyền nói về những hộp đồ ăn dinh dưỡng làm sẵn và những cái răng mới nhú nhưng một người ở vị trí cộng sự thì không được làm như thế.
Cứ như vậy, Sarah đã dựng nên một bức tường kín kẽ nhưng đầy hoàn hảo giữa công việc và cuộc sống gia đình cô, mỗi bên đi theo một lối riêng như hai đường thẳng song song không bao giờ gặp nhau. Đó là một bức tường mong manh, bấp bênh, thi thoảng có những vết rạn nứt và có thể, một ngày nào đó, nó sẽ sụp đổ. Cũng chẳng quan trọng lắm. Cô hài lòng khi nghĩ rằng lũ trẻ sẽ tự hào về những gì cô đã tạo dựng, về con người mà cô đã-từng-là. Cô buộc mình cố gắng để bù đắp lại việc không thường xuyên ở bên chúng bằng những gì giá trị nhất. Khi tiếp xúc gần gũi, Sarah là một người mẹ dịu dàng và ân cần. Còn tất cả những việc khác, đã có Ron, “Magic Ron”, như cách mà chính lũ trẻ đặt tên cho anh ấy. Anh cười vì cách gọi này, cách gọi gần như đã trở thành một danh hiệu.
Sarah tuyển được Ron vài tháng sau khi cặp song sinh ra đời. Cô gặp phải vài chuyện xích mích với Linda, người trông trẻ cũ của cô. Chưa kể đến thói chậm trễ không ngừng tiếp diễn và những bất cẩn của cô ta trong khi làm việc, Linda đã phạm phải một lỗi lầm nghiêm trọng khiến Sarah ngay lập tức phải buộc cô ta thôi việc: Trong một lần đột ngột quay về nhà không báo trước để lấy một tập hồ sơ bỏ quên, Sarah thấy Ethan, khi đó mới chín tháng tuổi, một mình nằm trên giường, trong ngôi nhà không bóng người. Linda quay trở về từ siêu thị một tiếng sau đó, như thể chẳng có chuyện gì xảy ra, cùng Simon. Bị bắt gặp phạm lỗi, cô ta biện minh bằng cách giải thích rằng cô ta đưa cặp song sinh ra ngoài đi dạo theo lịch xen kẽ, mỗi ngày một đứa, vì quá khó khăn để đưa cả hai đứa ra ngoài cùng một lúc. Sarah đã sa thải cô ta ngay ngày hôm đó. Viện cớ gặp phải chứng đau dây thần kinh hông khiến cô không thể di chuyển để xin nghỉ phép ở văn phòng, những ngày sau đó, Sarah đã phỏng vấn hàng loạt những người giúp việc, trong số đó có Ron. Ngạc nhiên trước việc một người đàn ông lại yêu thích công việc trông trẻ này, ban đầu cô đã bỏ hồ sơ của anh sang một bên. Chẳng phải báo chí vẫn đăng tải đầy rẫy những câu chuyện đáng sợ hay sao? Vả lại, việc hai người chồng trước của cô chẳng mấy mặn mà với nghệ thuật thay một cái bỉm hay pha một bình sữa đã khiến cô nghi ngờ về khả năng khéo léo của một người đàn ông trong những nhiệm vụ này. Rồi cô nhớ lại cuộc phỏng vấn tuyển dụng của mình ở Johnson & Lockwood, những gì mà cô đã đạt được, những gì mà cô đã hi sinh - ở vị trí một người phụ nữ - để có được chỗ đứng trong giới luật sư như ngày hôm nay. Rốt cuộc, cô đã xem xét lại. Ron có quyền được trao cho một cơ hội công bằng như những người khác. Chính anh cũng là bố của hai đưa trẻ. Anh sống trong khu nhà kế bên. Hiển nhiên là ở anh hội tụ đầy đủ những phẩm chất mà công việc này yêu cầu. Sarah đã cho anh thử việc trong vòng hai tuần. Trong suốt thời gian đó, Ron đã chứng tỏ mình là một người phù hợp: Anh dành hàng giờ liền để chơi với lũ trẻ, nấu những món ăn ngon một cách xuất sắc, đi chợ, dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ, giúp cô thoát khỏi mọi phần việc nhà gò bó thường nhật. Lũ trẻ đã quen và chấp nhận anh, cặp song sinh cũng như Hannah khi đó mới năm tuổi. Sarah vừa mới chia tay người chồng thứ hai - bố của hai cậu con trai - và cô nghĩ rằng sự xuất hiện của một người đàn ông trong nhà sẽ tốt hơn cho một gia đình của người mẹ đơn thân như cô. Có thể là bằng một cách vô thức, bằng cách thuê một người đàn ông, cô cũng muốn đảm bảo rằng không ai có thể chiếm lấy vị trí làm mẹ của cô. Vậy là, Ron trở thành “Magic Ron”, người không thể thiếu trong cuộc sống của cô và lũ trẻ.
Khi nhìn vào mình trong gương, Sarah thấy một người phụ nữ bốn mươi tuổi đã thành công trong mọi lĩnh vực: Ba đứa trẻ xinh đẹp, một ngôi nhà được chăm sóc sửa sang kĩ lưỡng trong một khu dân cư giàu có, một sự nghiệp nhiều người thèm muốn… Cô là hình ảnh của những người phụ nữ mà người ta thường bắt gặp trên các cuốn tạp chí, người đang nở nụ cười tươi tắn và viên mãn. Vết thương của cô không bao giờ lộ ra, nó vô hình, gần như không thể phát hiện được dưới lớp trang điểm hoàn hảo và những bộ vest được cắt may bởi những bàn tay lành nghề nhất.
Thế nhưng, nó vẫn ở đó.
Như hàng triệu phụ nữ suốt dọc đất nước này, Sarah Cohen như bị xẻ làm đôi. Cô là một trái bom chỉ chực chờ phát nổ.
❀ ❀ ❀
[1] Từ gốc “associée” chỉ những người giữ vị trí cao nhất trong văn phòng luật, không chỉ đơn thuần theo nghĩa đồng nghiệp.