Dải Sam

Lượt đọc: 75 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Smita

❊ ❊ ❊

Làng Badlapur, Uttar Pradesh, Ấn Độ

Smita thức giấc với một cảm giác kì lạ. Cô cảm thấy một sự bồn chồn êm dịu tựa như một chú bướm lạ đang cồn cào vẫy cánh trong khoang bụng. Hôm nay là ngày mà suốt cuộc đời cô sẽ không bao giờ quên được. Bởi lẽ, ngày hôm nay, con gái của cô được đi học.

Trường học là nơi mà Smita chưa bao giờ có cơ hội được đặt chân đến. Ở Badlapur này, những người như cô không được đi học. Smita là một người Dalit. Những kẻ bị khinh miệt nhất xã hội và không một ai muốn dây dưa tới[1].

Những người như cô được Gandhi gán cho cái tên “Những đứa con của Chúa Trời”. Xếp ngoài những thứ bậc địa vị, ngoài vòng pháp luật, ngoài tất cả mọi thứ. Một giống loài riêng biệt, bị xem như thứ quá mức ô uế để có thể trà trộn với những giống loài khác, thứ đồ bỏ đi không có phẩm cách khiến người ta dè bỉu xa lánh như khi họ phân loại những hạt mầm tốt và những hạt cỏ lùng vậy. Những người như Smita, họ là hàng triệu con người sống bên rìa những làng mạc, bên rìa xã hội, trên đường ngoại vi của nhân loại.

Tất cả các buổi sáng đều diễn ra với cùng một nghi thức. Như cách một chiếc đĩa nhạc đã xước cứ chơi đi chơi lại mãi không dừng một bản hoà tấu và làm người nghe thấy hết sức khó chịu. Smita thức dậy trong túp lều nát mà cô gọi là nhà, nó nằm bên cạnh những cánh đồng được trồng bởi người Jatts. Cô rửa mặt và chân mình bằng nước được gánh về từ giếng nguồn, nơi dành riêng cho người như cô. Đừng hòng nghĩ đến việc chạm tới nguồn nước khác, nguồn nước của những người thuộc tầng lớp trên, dù chúng có tiện lợi và gần với nơi ở của cô đến thế nào chăng nữa. Có những người đã mất mạng vì lí do còn nhỏ nhặt hơn là việc dùng nước từ một nguồn không dành cho họ.

Cô sửa soạn, chải tóc cho Lalita và ôm hôn Nagarajan. Rồi cô lấy cái giỏ mây đan của mình, cái giỏ mà trước khi tới tay cô, mẹ cô đã mang theo trong cả cuộc đời của bà và chỉ nhìn thấy nó thôi cũng đủ để khiến dạ dày cô quặn lại buồn nôn. Cái giỏ với thứ mùi khủng khiếp bám riết dai dẳng, xộc thẳng lên mũi và không bao giờ có thể gột rửa hết. Cái giỏ mà cô phải mang theo suốt cả ngày như người ta mang theo một dấu thập, một gánh nặng đáng hổ thẹn. Cái giỏ này là cây thánh giá khổ đau của cô. Một lời nguyền. Một hình phạt. Hẳn là ở kiếp trước cô đã gây ra chuyện gì kinh khủng lắm nên mới phải trả giá, đền tội ở kiếp này. Nhưng sau tất cả, kiếp sống này cũng chẳng có gì quan trọng hơn những kiếp trước, hay thậm chí cả những kiếp sau nữa, nó cũng chỉ là một kiếp sống giữa muôn ngàn kiếp khổ đau khác, mẹ cô từng nói như thế. Vậy đấy, đây là kiếp sống của cô.

Đây là công việc, là nghĩa vụ, là chỗ của cô trong thế giới này. Cái nghề sẽ được truyền từ mẹ sang con, xuyên suốt qua nhiều thế hệ. Scavenger - trong tiếng Anh, từ này có nghĩa là “kẻ đi nhặt nhạnh”. Một từ ngữ tế nhị để ám chỉ một thực tế không hề tế nhị chút nào. Công việc của Smita đang làm, quả thật, không một từ ngữ nào có thể dùng để miêu tả được nó. Việc của cô là đi nhặt phân của những người khác với đôi tay trần từ sáng tới tối. Khi cô lên sáu, bằng tuổi Lalita bây giờ, mẹ cô đã dẫn cô đi làm lần đầu tiên. “Nhìn đi, rồi sau đó con sẽ làm!” - Smita nhớ rõ cái mùi kinh khủng đó đã xộc tới, thô bạo như một đàn ong vò vẽ, một thứ mùi không thể chịu đựng nổi. Một sự vô nhân tính. Cô đã nôn thốc nôn tháo ở vệ đường. “Con sẽ dần quen thôi.” - Mẹ cô đã nói vậy. Nhưng đó chỉ là lời nói dối. Người ta không thể nào quen với thứ này được. Smita đã học cách nín thở. Giá mà cô có thể sống mà không cần thở, nhưng rõ ràng là cô cần phải thở, bác sĩ của làng đã nói vậy. Hãy nhìn xem cô đã ho đến mức nào. Cô cùng cần phải ăn nữa chứ. Đã từ lâu Smita mất đi cảm giác ngon miệng khi ăn. Đói ư? Cô đã không còn nhớ được cảm giác đói là như thế nào nữa rồi. Cô ăn rất ít, chỉ ở mức tối thiểu, thường chỉ là một nắm cơm trộn với nước mà mỗi ngày cô tự nhồi nhét vào cơ thể lúc nào cũng cố gắng phản kháng của mình.

Chính phủ rõ ràng đã hứa hẹn về những nhà vệ sinh trên cả nước cho dân chúng, nhưng lời hứa ấy không tới được nơi đây. Ở Badlapur và nhiều nơi khác, người ta đái ỉa lộ thiên. Mặt đất, những dòng sông, những con suối, những cánh đồng… khắp nơi đều ô uế, ô nhiễm bởi hàng tấn chất thải từ con người. Bệnh tật lan rộng như lửa bùng lên từ đám rơm rạ. Những chính trị gia cần phải hiểu rằng: Thứ mà người dân đòi hỏi, trước cả những cải cách, trước cả bình đẳng xã hội và vấn đề việc làm, là những nhà vệ sinh. Chính xác thì, đó là quyền được đái ỉa một cách có phẩm cách. Trong những ngôi làng, phụ nữ buộc phải chờ tới khi màn đêm buông xuống để đi vệ sinh trên những cánh đồng, nơi họ phải phơi mình ra trước biết bao nguy cơ bị tấn công. Những người may mắn hơn đã thu xếp được một góc trong sân hay phía tận cùng ngôi nhà một cái lỗ đơn giản trên nền đất mà người ta kín đáo gọi là “nhà vệ sinh khô”. Đó cũng chính là những cái nhà cầu mà những phụ nữ Dalit phải đến dọn sạch mỗi ngày bằng tay trần. Những người phụ nữ như Smita ấy!

Một ngày làm việc của Smita bắt đầu vào khoảng bảy giờ sáng. Cô cầm theo chiếc giỏ của mình và một cái chổi mây. Cô biết mình phải dọn sạch cho hai mươi ngôi nhà mỗi ngày, vậy nên không có thời gian để mà phí hoài. Cô đi bộ ven đường, mắt cụp xuống, khuôn mặt giấu sau một lớp khăn. Trong một số ngôi làng, những người Dalit phải thông báo về sự xuất hiện của họ bằng cách mang theo một cái lông quạ. Ở những nơi khác, họ bị buộc phải bước đi bằng chân trần. Tất cả mọi người đều biết chuyện về một kẻ tiện dân dám đi dép có quai và bị người ta ném đá cho tới chết. Smita bước vào những ngôi nhà bằng cửa sau dành riêng cho cô. Cô không được phép chạm mặt những người dân làng, lại càng không được phép trò chuyện cùng họ. Cô không chỉ là kẻ bần cùng không ai đếm xỉa đến, cô còn phải vô hình. Cô được nhận đồ ăn thừa còn sót lại coi như thù lao. Thi thoảng, nếu có những bộ quần áo cũ, họ ném xuống đất hoặc ném về phía cô.

Người ta không chạm vào cô và cũng không nhìn cô.

Có đôi khi, cô chẳng nhận được thứ gì cả. Một gia đình người Jatts đã hàng tháng nay không cho cô bất cứ cái gì. Smita đã định không tới nhà đó nữa. Một tối nọ, cô nói điều này với Nagarajan, rằng cô sẽ không quay lại đó nữa, những người đó hãy đi mà tự dọn dẹp đống cứt của mình. Nhưng Nagarajan sợ hãi và nói rằng: Nếu Smita không đi, gia đình họ sẽ bị xua đuổi, họ không có đất đai nhà cửa gì của riêng mình cả. Những người Jatts sẽ tới phóng hoả thiêu rụi căn lều nát của họ. “Chúng ta đều biết là họ có thể làm những gì. Người ta sẽ cắt cụt hai chân của mình mất!” - Họ đã nói với nhau như thế. Và thực tế là đã có một người đàn ông bị cắt cụt tứ chi và thiêu sống bằng axit ở cánh đồng cạnh đó.

Đúng thế, Smita biết những người Jatts đó có thể làm những gì.

Vậy nên, cô vẫn quay lại căn nhà đó vào ngày hôm sau.

Nhưng buổi sáng hôm đó không giống như những buổi sáng khác. Smita đã có một quyết định liều lĩnh, nó đến với cô như một điều hiển nhiên: Con gái cô sẽ được đến trường. Cô đã rất khó khăn để thuyết phục Nagarajan. “Để làm gì cơ chứ?” - Anh hỏi. Ừ thì con bé có thể sẽ biết đọc và biết viết, nhưng sẽ chẳng có ai ở đây chịu cho nó một công việc đâu. Chúng ta được sinh ra là những người dọn nhà xí và chúng ta sẽ vĩnh viễn là như thế cho đến chết. Đó là một công việc cha truyền con nối, một vòng tròn mà không ai có thể thoát ra. Một cái nghiệp nặng nề.

Nhưng Smita không chịu bỏ cuộc. Cô lặp lại chuyện đó ngày hôm sau, ngày hôm sau nữa và cả những ngày tiếp theo. Cô từ chối đem theo Lalita khi làm việc. Cô sẽ không chỉ cho con mình những động tác của kẻ dọn nhà xí, cô sẽ không phải thấy cảnh con gái mình nôn ọe như mẹ cô đã từng thấy cô ngày xưa. Không! Smita khước từ điều đó. Lalita phải được đến trường. Trước sự cương quyết của cô, Nagarajan cuối cùng cũng nhượng bộ. Anh hiểu vợ mình, ý chí của cô rất mạnh mẽ. Cô nhóc Dalit có làn da nâu mà anh đã cưới từ mười năm trước còn can đảm hơn cả anh, anh biết điều đó. Thế nên cuối cùng, anh cũng chịu nhượng bộ. Cứ vậy đi. Anh sẽ đến trường làng và nói chuyện với Brahmane.

Smita thầm mỉm cười cho chiến thắng của mình. Cô ước gì mẹ cô cũng đã từng tranh đấu cho con gái bà như thế, ước gì mình cũng đã được bước qua cánh cổng trường, ngồi giữa những đứa trẻ khác, học đọc và học đếm. Nhưng điều đó đã không thể xảy ra, cha của Smita không phải là người đàn ông tốt như Nagarajan, ông nóng nảy và bạo lực. Ông đánh vợ như cơm bữa như tất cả mọi người đàn ông ở đây vẫn thường làm. Ông thường nhắc đi nhắc lại: Một người vợ không được đứng ngang hàng với chồng, cô ta thuộc sở hữu của chồng. Người vợ là tài sản của chồng, là nô lệ của anh ta. Người vợ phải phục tùng theo ý muốn của chồng. Nếu có chuyện gì xảy ra, điều chắc chắn là cha của cô thà cứu lấy con bò ông nuôi còn hơn là vợ ông.

Còn Smita, cô may mắn hơn. Nagarajan chưa từng đánh cô, chưa từng lăng mạ cô. Khi Lalita ra đời, anh thậm chí còn đồng ý giữ con bé lại nuôi. Ở vài nơi không xa đây lắm, người ta giết chết những bé gái ngay khi chúng vừa chào đời. Trong những ngôi làng Rajasthan, họ chôn sống những bé gái sơ sinh trong những chiếc hộp và chôn dưới lớp cát dày ngay khi chúng vừa cất tiếng khóc chào đời. Những bé gái ấy có khi mất tới một đêm để chết.

Nhưng điều đó không xảy ra với Smita. Cô ngắm nhìn Lalita, con bé đang ngồi xổm trên sàn đất nện của căn lều và chải tóc cho con búp bê duy nhất của nó. Con gái của cô, con bé thật đẹp. Nó có những đường nét thanh tú, mái tóc dài tới ngang eo, mái tóc mà Smita thường phải gỡ rối và tết lại thành bím mỗi buổi sáng.

“Con gái của tôi sẽ biết đọc và biết viết” - Cô tự nhủ. Ý nghĩ đó khiến cô vui sướng vô cùng.

Đúng thế, ngày hôm nay là một ngày mà cô sẽ ghi nhớ suốt đời.

❀ ❀ ❀

[1] Intouchable: trong nguyên bản, từ này nghĩa là không thể chạm tới, chỉ những người nghèo khổ bần cùng trong xã hội.

Nguyễn Mai Chi dịch
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.