Uttar Pradesh, Ấn Độ.
Smita chạy mải miết. Cô nắm chặt bàn tay bé nhỏ của Lalita băng qua làng quê đang say ngủ. Cô không có thì giờ để nói chuyện, để giải thích cho con gái hiểu. Thời khắc này, cô sẽ nhớ về nó suốt cuộc đời như khi cô đã lựa chọn bẻ ngoặt số phận của họ sang một hướng khác. Họ chạy nhưng cố gắng không gây tiếng động để không bị người Jatts bắt gặp hay nghe thấy. Khi người ta tỉnh dậy, họ đã ở thật xa, Smita cầu mong vậy. Không được lãng phí một giây nào.
- Nhanh lên con!
Họ phải quay lại đường cái. Smita đã giấu chiếc xe đạp của cô trong một bụi cây gần con mương cùng với một gói nhỏ đựng đồ ăn. Cô cầu mong đừng ai lấy mất những thứ này. Họ có tới hàng cây số cần phải băng qua trước khi đến được với đường quốc lộ số 56 - nơi họ sẽ bắt một chuyến xe bus đi đến Varanasi. Đó là một trong số những chiếc xe màu xanh trắng quen thuộc của Chính phủ, là nơi người ta có thể leo lên với vài đồng ru-pi. Tiện nghi trên xe vô cùng sơ sài, an ninh cũng không được đảm bảo. Ban đêm, lái xe nốc rất nhiều bhang[1]. Tuy nhiên, nhờ giá vé cạnh tranh nên loại xe này vẫn thông dụng. Chưa đầy một trăm cây số ngăn cách giữa họ và thành phố của thánh thần. Tư đó, họ phải tìm ra nhà ga và bắt một chuyến tàu tới Chennai.
Bình minh đã chiếu rọi những tia nắng đầu tiên. Trên đường cái, những chiếc xe tải đã hối hả lao đi trong tiếng ôn ào đáng sợ. Lalita run rẩy như một chiếc lá. Smita cảm nhận được nỗi sợ hãi của con gái, con bé chưa bao giờ có chuyến phiêu lưu nào xa làng đến thế. Vượt ra ngoài con đường này, họ sẽ tới nơi mình chưa từng biết tới. Đó là một thế giới đầy rẫy hiểm nguy.
Smita dẹp những cành cây nơi cô giấu chiếc xe đạp. Chiếc xe vẫn ở đây nhưng gói thức ăn cô đã cất công chuẩn bị lại nằm lăn lóc trong con mương. Có lẽ một con chó hay lũ chuột đói đã xâu xé chỗ thức ăn. Chẳng còn gì cả hoặc chỉ còn rất ít… Không còn lựa chọn nào khác, cần phải tiếp tục đi với cái bụng rỗng. Smita không có thời gian để tìm thứ gì bỏ bụng bây giờ. Chỉ một lát nữa thôi, vợ của tên Brahmane sẽ nhấc cái chum gạo lên trước khi đi chợ. Liệu bà ta có nghi ngờ cô ngay khi phát hiện ra? Bà ta có báo cho chổng mình? Họ có bắt đầu truy lùng cô không? Nagarajan chắc đã kịp nhận ra sự vắng mặt của họ. Không! Họ không có thời gian để tìm thứ gì đó ân, phải tiếp tục tiến về phía trước. May mắn là hai chai nước vẫn còn nguyên. ít nhất họ còn có nó thay cho bữa sáng.
Smita đặt Lalita ngồi lên yên sau còn cô ngồi trên yên trước. Con bé vòng tay quanh hông cô, bám vào cô như con tắc kè sợ sệt - loài bò sát xanh có mặt ở khắp nơi và chỉ có lũ trẻ mới tỏ ra thích thú. Smita không muốn cho con bé thấy rằng mình cũng đang run rẩy. Những chiếc Tata Trucks[2] chật kín trên con đường hẹp, vượt trước họ trong một hồi còi âm ĩ đinh tai. Ở đây, không có luật lệ nào tồn tại, xe to hơn luôn được ưu tiên. Smita run lẩy bẩy, bám chặt lấy ghi-đông để không bị ngã. Một cú ngã lúc này đảm bảo sẽ rất khủng khiếp. Thêm một vài cố gắng nữa và cuối cùng họ ra được con đường số NH56 nối liền Lucknow và Varanasi.
Giờ đây, họ đang ngồi bên vệ đường. Smita lấy một chiếc khăn lau qua mặt cô và mặt con. Cả người họ đều bám đầy bụi bẩn. Đã hai giờ trôi qua kể từ khi hai mẹ con chờ xe. Liệu nó có đi qua đây hôm nay không? Ở đây, giờ tàu xe biến động liên tục, tất cả chỉ là dự đoán mà thôi. Khi chiếc xe xuất hiện, một đám đông vội vã ào về phía cửa. Chiếc xe bus nhanh chóng chật kín người. Phải rất khó khăn để có thể trèo lên xe.
Nhiều người chọn cách leo lên nóc xe và ngồi ở ngoài trời suốt cả chuyến đi, tay bám chặt vào thanh chắn ở rìa nóc xe. Smita níu chặt bàn tay Lalita và khó nhọc kéo con bé lên khoang lái. Cô tìm được một nửa chỗ ngồi cho hai mẹ con ở tít dưới cùng trên băng ghế phía sau, như vậy là đủ rồi. Sau đó, cô cố sức mở một lối đi theo chiều ngược lại để vác theo chiếc xe đạp cô đã bỏ lại bên ngoài. Đám đông đầy vẻ đe doạ. Hàng chục hành khách đang xô đẩy nhau trên lối đi. Nhiều người không có chỗ để ngồi, vài kẻ buông lời chửi rủa một cách độc ác. Một người phụ nữ còn mang theo gà khiến cho những người ngồi cạnh nổi nóng.
Lalita vừa chỉ tay về phía chiếc xe qua cửa kính vừa hét lên. Một gã đàn ông đã leo lên chiếc xe và nhấn bàn đạp rời xa bến xe. Mặt Smita tái xanh. Nếu cô đuổi theo gã trộm, đồng nghĩa với việc có thể chiếc xe sẽ khởi hành mà không có cô. Người tài xe vừa xoay chìa khoá, động cơ xe đã phát ra những tiếng vù vù. Cuối cùng, cô đành quay lại chỗ ngồi còn trong lòng chết lặng nhìn theo cỗ máy sắt cũ nát cô đã bỏ tiền mua biến mất khỏi tầm mắt, thứ mà cô đã tính bán đi để lấy tiền ăn.
Chiếc xe bắt đầu rung lắc. Lalita dí sát mặt vào tấm kính phía sau để không bỏ lỡ điều gì ở chuyến đi này. Cô bé bỗng thấy rộn rã trong lòng.
- Bố! Bố kìa!
Smita giật mình quay người lại. Nagarajan đang dừng trên đường. Anh chạy theo chiếc xe chỉ vừa mới khởi hành. Smita thấy sức lực như cạn kiệt. Chồng cô đang đuổi theo bọn họ, gương mặt anh in hằn những biểu cảm lẫn lộn: Sợ hãi, rối bời, dịu dàng, giận dữ. Anh nhanh chóng bị chiếc xe bus bỏ lại phía sau. Lalita bắt đầu khóc, tay đập liên hồi vào cửa kính, nó quay người lại phía mẹ cầu xin sự trợ giúp.
- Mẹ ơi, hãy nói họ dừng lại!
Smita hiểu rõ, dừng xe lại là điều không thể. Cô không thể rẽ một lối tới tận chỗ người tài xế. Và ngay cả khi cô đến được đó, ông ta sẽ từ chối chạy chậm lại và dừng xe hoặc sẽ yêu cầu họ bước xuống khỏi xe. Chính vì thế, cô không thể chấp nhận rủi ro. Hình bóng của Nagarajan dần nhỏ lại và chẳng mấy chốc anh sẽ chỉ còn là một cái chấm vô nghĩa phía sau họ, thế nhưng anh vẫn mải miết tiếp tục cuộc chạy đua vô ích. Lalita khóc nức nở. Bố nó cuối cùng cũng biến mất khỏi tầm nhìn của họ. Có thể là mãi mãi. Đứa trẻ vùi mặt vào cổ mẹ.
- Đừng khóc. Bố sẽ gặp lại mẹ con mình ở đó.
Giọng nói của Smita như muốn tự an ủi chính mình như thể cô đang tự thuyết phục bản thân tin vào giả thuyết đó. Dẫu vậy, chẳng có gì là chắn chắn cả. Cô tự hỏi họ còn phải hi sinh điều gì nữa trước khi đến được tận cùng chuyến hành trình. Vừa dỗ dành con gái đang ngập trong nước mắt, cô vừa chạm vào bức tranh thần Vishnou dưới lớp áo sari. Cô tự nhủ mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi. Con đường họ đi đầy rẫy những thử thách nhưng thần Vishnou sẽ luôn ở ngay bên cạnh họ.
Cuối cùng, Lalita cũng ngủ thiếp đi. Những giọt nước mắt đã khô trên khuôn mặt con bé để lại những vệt dài sáng màu. Smita nhìn ngắm cảnh vật lần lượt hiện ra qua lớp kính bẩn. Dọc hai bên đường, những túp lều tạm bợ, những cánh đồng, những trạm xăng, trường học, khung xe tải, những chiếc ghế đặt dưới tán cây trăm tuổi, chợ họp tạm, những người bán hàng ngồi la liệt trên đất, người cho thuê xe máy đời mới nhất, một cái hồ, những kho hàng, một ngôi đền đổ nát, những tấm pa-nô quảng cáo, những phụ nừ mặc sari đội giỏ trên đầu, một cái xe kéo… Cô tự nhủ: Cả Ấn Độ đang ở đây - trên con đường này - trong cái hỗn mang không tên, nơi không thể phân biệt sự cổ xưa và hiện đại, thuần khiết và nhơ bẩn, phàm tục và thần thánh.
Xe đến ga đường bộ ở Varanasi trễ mất ba tiếng đồng hồ do một chiếc xe tải bị sa lầy đã làm tắc nghẽn giao thông. Từ thùng chứa của chiếc xe tuôn ra nào đàn ông, đàn bà, trẻ nhỏ, hành lí, gà qué và tất cả những gì mà hành khách của nó đã lèn chật ních trên nóc xe, dưới gầm xe và xung quanh họ. Người ta thậm chí còn nhìn thấy cả một con dê đang được một người đàn ông đỡ xuống từ trên nóc xe. Lalita nhìn nó với ánh mắt sửng sốt và tự hỏi làm cách nào mà chú dê con có thể đến được đó.
Chỉ vừa mới xuống khỏi xe, Smita và con gái cô đã hít căng lồng ngực năng lượng của thành phố. Khắp mọi nơi đều là xe bus, xe hơi, xe kéo, xe tải chất đầy người hành hương đang vội vã đi về hướng Gange và đền Vàng. Varanasi là một trong những thành phố cổ kính nhất trên thế giới. Người ta tới đây để được tẩy uế, được nhập đạo, để cưới xin nhưng cũng là để hoả táng người thân và đôi khi là để được an nghỉ. Trên những bậc thang trải dài cho tới Ganga Mama, cái chết và sự sống song hành như ngày và đêm trong một vở ballet không hồi kết.
Lalita chưa từng nhìn thấy cảnh tượng này trước đây. Smita vẫn thường kể cho cô bé nghe về thành phố này. Nó như một thánh địa để hành hương mà bố mẹ đã từng dẫn Smita tới khi cô còn nhỏ. Họ đã cùng nhau hoàn thành Panchatirthi Yatra - nghi lễ hành hương với việc tắm trên năm địa điểm của con sông thiêng liêng theo một trình tự nhất định. Họ kết thúc chuyến đi của mình bằng lễ ban phúc lành ở đền Vàng đúng như phong tục. Khi đó, Smita đi theo bố mẹ và anh em trai. Cô giữ lại sau chuyến đi một ấn tượng mạnh, một kỉ niệm khó quên. Những bậc thang bên sông của Manikarnika - một trong những bậc thang dành riêng cho việc hoả táng người chết - là nơi cô đặc biệt nhớ đến. Cô vẫn còn nhớ ngọn lửa lớn được đốt lên từ đống củi nơi người ta vẫn còn nhìn thấy xác một bà lão. Theo truyền thống, bà đã được tắm rửa sạch sẽ bằng nước sông Gange rồi được lau khô trước khi được đem đi hỏa táng. Smita sợ hãi nhìn những ngọn lửa đầu tiên liếm lấy thân thể bà ấy rồi ngấu nghiến nuốt trọn khi lửa bùng lên dữ dội. Kì lạ thay, những người thân của người chết không có vẻ gì buồn đau, họ gần như vui sướng trước moksha[3] của tổ tiên mình. Họ coi đó là sự giải thoát cho người đã chết. Một số người trò chuyện, số khác thì chơi bài, có những người thậm chí còn cười đùa. Những người Dalit mặc đồ trắng làm việc ở đó cả ngày không ngừng nghỉ. Nếu nghi lễ hoả táng bị coi như một việc nhơ bẩn thì nó nghiễm nhiên được dành cho họ. Họ cũng phải cung cấp đủ hàng tấn gỗ cần thiết cho việc đốt lửa, số gỗ mà họ phải vận chuyển bằng thuyền tới tận chân bậc thang. Smita vẫn còn nhớ hình ảnh của hàng núi gỗ khổng lồ nằm chờ tới lượt trên mạn sông. Cách đó vài mét, những con bò dừng uống nước, dửng dưng trước cảnh tượng đang diễn ra trên bờ. Xa hơn một chút, những người đàn ông, đàn bà và lũ trẻ đang tham gia vào nghi lễ gột rửa. Theo truyền thống, người ta ngụp lặn mình từ đầu tới chân trong dòng Gange để tẩy uế. Những người khác thì đang ăn mừng hôn lễ. Trong không khí hân hoan và tràn ngập sắc màu, họ cất tiếng hát hết những bài kinh rồi lại tới những bài ca ngoại đạo. Người thì rửa bát đũa, thậm chí giặt giũ. Có những chỗ nước sông đen ngòm, người ta tìm thấy trôi nổi trên mặt nước nào những hoa, những cây đèn dầu, những lễ vật của người hành hương, những bộ xương thú vật đã bị chặt rời, hay thậm chí cả xương người. Sau khi hoả táng, theo đúng nghi lễ, tro sẽ được rải khắp trên sông nhưng nhiều gia đình không có đủ điều kiện để tổ chức một lễ hoả táng trọn vẹn, họ ném xuống sông xương người chết mới chỉ tiêu huỷ một nửa thậm chí là nguyên bộ xương.
Hôm nay, không có ai dẫn đường cho Smita, không có bàn tay vững chãi nào cho cô bấu víu mà chỉ có bàn tay nhỏ của con gái cô - người sẽ đồng hành với cô trong hành trình này. Họ đơn độc giữa đám đông hành hương cũng đang đi tìm con đường của mình. Nhà ga đường sắt nằm ở giữa trung tâm thành phố cách rất xa nơi mà chiếc xe bus đã thả họ xuống.
Trên phố, Lalita ngắm nhìn với vẻ kinh ngạc mặt trước của những cửa hiệu bày bán đủ loại mặt hàng phong phú. Ở đây là một chiếc máy hút bụi, kia là một cái máy ép cam, kia nữa là một phòng tắm, bồn rửa mặt, một mẫu toilet mới… Lalita chưa từng nhìn thấy chúng bao giờ. Smita thở dài, cô muốn đi nhanh hơn nữa nhưng trí tò mò của đứa trẻ khiến họ bị chậm lại. Họ bắt gặp một đám học sinh tiểu học trong đồng phục màu nâu đang nắm tay nhau đi trên đường. Smita ngạc nhiên trước cái nhìn của con gái, cái nhìn đầy ghen tị cứ bám theo đám trẻ.
Cuối cùng, nhà ga Varanasi-Cantt cũng hiện ra. Trên mặt tiền nhà ga, một đám đông sùng đạo vây kín. Đây là một trong những nhà ga đông đúc nhất trên cả nước. Trong sảnh chờ, một đoàn người đổ dồn về hướng những quầy bán vé. Khắp nơi chỉ toàn là đàn ông, phụ nữ, trẻ nhỏ. Họ đứng, ngồi, thậm chí là nằm trong sự kiên nhẫn đợi chờ hàng giờ có khi hàng ngày liền.
Smita cố tìm một đường thoát khỏi những người đang chen lấn xô đẩy. Lợi dụng lúc hỗn loạn và sự ngây thơ của khách du lịch, nhân viên bán vé sẽ cưỡng đoạt của những người này vài đông ru-pi để đổi lại là những lời chỉ dẫn hú hoạ. Smita lấy chỗ đứng ở một trong bốn hàng người đang xếp hàng. Mỗi hàng ít nhất có tới một trăm người vì thế cần phải thật kiên nhẫn. Lalita để lộ ra những dấu hiệu mệt mỏi. Họ đã di chuyển suốt cả ngày với cái bụng rỗng dù mới chỉ để đi chưa đầy một trăm cây số. Smita biết phần khó khăn nhất vẫn còn đang đợi họ ở phía trước.
Cuối cùng, khi đêm buông xuống, hai mẹ con cũng đến được quầy bán vé. Nhân viên đường sắt tỏ vẻ ngạc nhiên khi cô hỏi hai vé đến Chennai đi trong ngày. “Vé tàu phải được đặt trước nhiều ngày” - Anh ta trả lời - “Đến phút cuối tất cả các tàu đều đã kín chỗ. Cô không đặt chỗ trước ư?”… Smita cảm thấy tất cả sức lực đều biến mất với ý nghĩ sẽ phải qua đêm trong thánh địa - nơi cô không quen biết một ai. Những đồng tiền cướp lại được từ tay Brahmane chỉ vừa đủ để họ trả tiền vé hạng ba và để ăn chút gì đó. Nó không thể đủ để trả tiền trọ hay thậm chí là một phòng ngủ chung. Smita phân vân, họ cần phải đi càng sớm càng tốt. Cô không ngần ngại dúi thêm vài đồng - vốn để dành cho bữa ăn của họ - cho người bán vé. Gã nhân viên nhìn cô vẻ ngần ngại, lẩm bẩm càu nhàu điều gì đó giữa hai hàm răng ố vàng. Anh ta biến mất, rồi quay trở lại với hai tăm vé “sleeper class” - hạng vé rẻ tiền nhất trong chuyến tàu ngày hôm sau. Anh ta không thể làm gì hơn thế. Lúc sau, Smita mới biết rằng những chiếc vé này được bán cho tất cả những ai muốn - không hề có giới hạn về số lượng hành khách trong mỗi toa tàu ở hạng này. Gã nhân viên đã lợi dụng sự cả tin của cô để bòn rút của cô thêm vài đồng ru-pi. Khi cô hiểu ra điều này thì đã quá muộn.
Lalita mệt lả rồi thiếp đi trong vòng tay cô. Smita rẽ lối đi tìm một chỗ ngồi một cách khó khăn. Trên ke tàu, trong nhà ga, đâu đâu cũng là những người đang sẵn sàng để qua đêm. Họ xếp chỗ, duỗi dài người và ngủ ngon lành. Đó là những kẻ may mắn nhất. Smita ngồi trong một góc ngay dưới đất ngay cạnh một người phụ nữ mặc đồ trắng cùng hai đứa trẻ. Lalita vừa tỉnh giấc. Con bé đói. Smita lấy ra chai nước chỉ còn một chút ở đáy. Cô chẳng còn gì cho tối nay. Thế là con bé oà khóc.
Không xa chỗ cô, người đàn bà mặc đồ trắng đang đưa những chiếc bánh quy khô cho lũ trẻ của mình. Cô ngắm nhìn Smita và cô bé con đang nước mắt lã chã trong vòng tay cô. Cô ta lại gần và ngỏ lời muốn chia sẻ bữa ăn của mình với họ. Smita ngước mắt lên nhìn cô, không khỏi ngỡ ngàng. Cô không quen với việc có người đến giúp đỡ mình, cũng chưa bao giờ phải đến nước đi ăn xin. Bất chấp hoàn cảnh khắc nghiệt, cô luôn sống đầy kiêu hãnh. Nếu chỉ là cho chính mình, cô chắc hẳn sẽ một mực từ chối, nhưng Lalita yếu ớt đến thế, nhỏ bé đến thế, con bé sẽ không thể sống sót nếu không được ăn. Smita nhận lấy quả chuối và những chiếc bánh quy mà người đàn bà mặc đồ trắng đưa cho cô và không quên cảm ơn bà. Lalita xông tới ngấu nghiến đồ ăn. Từ một người bán hàng chui, người đàn bà mua được một chút trà gừng. Cô ta hỏi cô có muốn uống vài ngụm không, Smita sẵn lòng đón lấy. Trà nóng với vị tiêu cay nồng khiến cô như sống lại. Người đàn bà tên là Lackshmama bắt đầu trò chuyện với cô. Cô muốn biết cả hai mẹ con cô đi tới đâu trong tình trạng này. Họ không có một người chồng, người cha hay người anh em trai nào tháp tùng ư? Smita đáp lại rằng họ tới Chennai và nói dối rằng chồng cô đang đợi ở đó. Lackshmama và hai con trai nhỏ của cô đi về phía Vrindavan - một thành phố nhỏ nằm phía nam Delhi - nơi được biết đến như thành phố của các goá phụ trắng. Cô tâm sự, mình mới mất chồng vài tháng trước, anh ta chết vì dịch cúm. Sau cái chết của anh, cô bị gia đình chồng hắt hủi. Lòng đầy cay đắng, Lackshmama kể về số phận bi thảm của những goá phụ nơi đây. Họ bị nguyền rủa, bị coi như kẻ tội đồ vì không đã giữ được linh hồn của người chồng quá cố. Đôi khi họ còn bị kết án vì đã gây ra bệnh tật hay cái chết của người chồng bằng tà thuật. Họ không có quyền được hưởng bất cứ chế độ bảo hiểm nào nếu người chồng chết do tai nạn, không được hưởng bất cứ khoản trợ cấp nào nếu người chồng hi sinh trong chiến trận. Ánh nhìn của họ bị xem là đem lại vận rủi, ngay cả cái bóng của họ cũng bị cho là điềm xấu. Họ bị cấm bước chân tới những đám cưới hay những lễ hội, bị buộc phải trốn chui lủi, mặc đồ tang trắng, suốt đời chịu sự trừng phạt và sám hối. Họ thường bị đuổi ra đường bởi chính gia đình mình. Lackshmama kể về truyền thống Sati man rợ với nỗi sợ hãi. Thứ hủ tục xa xưa kết án những goá phụ phải bị giết chết trên giàn thiêu nơi hoả táng chồng họ. Những người từ chối nghi lễ này sẽ bị khai trừ khỏi cộng đồng, bị đánh đập hay làm nhục đôi khi bị đẩy vào lửa bởi gia đình chồng hay chính những đứa con của mình - những kẻ tìm được cái cớ để bớt đi một người phải phân chia tài sản. Trước khi bị đẩy ra đường, những goá phụ bị buộc phải cởi bỏ đồ trang sức và cạo trọc đầu, để không còn có thể quyến rũ được bất cứ người đàn ông nào nữa. Họ bị cấm tái hôn dù họ bao nhiêu tuổi đi chăng nữa. Ở vùng nông thôn, với những cô gái kết hôn sớm, nhiều cô đã trở thành goá phụ khi mới lên năm và thế là họ sớm phải sống một cuộc đời tha phương cầu thực.
“Thế đấy, khi người ta không còn chồng nữa, người ta chẳng còn gì cả.” - Cô thở dài. Smita biết, phụ nữ ở cái đất này không có tài sản riêng, tất cả đều thuộc về chồng cô ta. Khi kết hôn, cô ta giao tất cả cho chồng. Mất đi người chồng cũng là lúc cô ta ngừng tồn tại. Lackshmama không còn sở hữu thứ gì ngoại trừ món đồ trang sức cô giấu được dưới lớp áo sari, đó món quà của bố mẹ cô nhân ngày cưới. Cô vẫn còn nhớ về ngày lễ huy hoàng đó. Cô được làm đẹp bởi những bộ trang sức quý giá, được gia đình đưa tới đền trong sự hân hoan. Cô đã bước vào cuộc hôn nhân này trong sự xa hoa nhưng lại bước ra khỏi nó trong cùng quẫn tột cùng. Cô thú nhận mình từng mong chồng bỏ rơi hay li dị mình, ít ra thì xã hội sẽ không đày đoạ cô tới tầng lớp bị khinh miệt, có thể người thân của cô sẽ còn bày tỏ một vài sự cảm thông chứ không ném về phía cô sự khinh bỉ và hằn học như bây giờ. Cô từng ước giá được sinh ra dươi lốt một con bò vì như thế cô còn được tôn trọng. Smita không dám nói với cô rằng mình đã quyết định rời bỏ chồng, rời bỏ làng quê và tất cả những gì cô từng biết. Trong khi lắng nghe Lackshmama, cô tự hỏi liệu có phải mình đã phạm một sai lầm khủng khiếp không. Người goá phụ trẻ thú nhận rằng mình từng muốn tự tử nhưng rốt cuộc lại từ bỏ ý định vì lo sợ rằng gia đình nhà chồng sẽ giết hại những đứa con của cô để giữ lại gia tài. Người ta nói có hàng triệu goá phụ tìm đến những tu viện từ thiện của đạo Cơ Đốc - còn có tên là những “ngôi nhà goá phụ” - để tìm một nơi nương náu mới. Để đổi lại một bát cơm hay bát súp, họ phái hát lời câu kinh trong những ngôi đền ở Krishna. Bằng cách đó, họ có thể đảm bảo cho kế sinh nhai nghèo hèn của mình - một bữa ăn mỗi ngày. Họ không có quyền đòi hỏi nhiều hơn.
Smita lắng nghe người goá phụ mà không ngắt lời cô. Người phụ nữ này chỉ hơn tuổi cô một chút. Khi Smita hỏi tuổi của cô, Lackshmama đáp rằng cô không biết, thế nhưng cô đoán rằng mình không quá ba mươi tuổi. Đường nét trên gương mặt của cô ta vẫn còn trẻ trung, mắt vẫn đầy sức sống, nhưng từ đôi mắt đó phản chiếu một nỗi buồn vô tận như thể cô đã trải qua hàng ngàn năm đau khổ.
Đã đến giờ Lackshmama bắt chuyến tàu của mình. Smita cảm ơn cô vì bữa ăn và hứa rằng sẽ hướng những lời cầu nguyện trước thần Vishnou đến mẹ con cô. Cô nhìn Lackshmama đi xa dần về phía đường tàu, đứa nhỏ nhất nằm trong vòng tay cô còn tay kia cô nắm chặt lấy đứa lớn, vai đeo một chiếc túi nhỏ đựng tất cả hành lý. Khi bóng dáng cô dần biến mất trong đám đông người chuẩn bị khởi hành, Smita chạm vào tấm hình của thần Vishnou đặt dưới lớp sari, cầu xin thần hãy đi theo và bảo vệ họ trong chuyến hành trình này và trong cuộc đời lưu đày của họ. Cô nghĩ tới hàng triệu goá phụ chung cảnh ngộ với Lackshmama - những người bị ruồng bỏ và tước đoạt đi tất cả, bị lãng quên trong đất nước vốn dĩ đã không ưu ái gì những người phụ nữ này. Bỗng dưng, cô cảm thấy thật biết ơn khi được là chính cô. Smita - dẫu sinh ra là người Dalit - nhưng vẹn nguyên, kiên cường với một cuộc đời tươi sáng hơn đang hứa hẹn phía trước. Có thể lắm chứ.
“Thà tôi đừng sinh ra trên đời thì hơn” - Lackshmama đã nói như vậy với cô trước khi ra đi.
❀ ❀ ❀
[1] Đồ uống làm từ cần sa, có tác dụng gây ảo giác.
[2] Xe tải mang nhãn hiệu của Ấn Độ - Tata Motors.
[3] Từ tiếng sanskrit, trong tôn giáo và triết học Ấn Độ, chỉ việc linh hồn được giải thoát khỏi vòng luân hồi (samsara).