Khi thế chiến thứ ii đã bắt đầu ở Âu châu, đã có rất nhiều chuyện về việc phải chuẩn bị sẵn sàng và thể hiện lòng yêu nước, cho dù Mỹ vẫn chưa tuyên chiến. Báo chí có nhiều bài dài về những doanh nhân tình nguyện đến Plattsburg, New York, để huấn luyện quân sự, và vân vân.
Tôi bắt đầu nghĩ mình cũng phải có một chút đóng góp nào đó. Sau khi học xong ở MIT, một người bạn cùng hội nam sinh, Maurice Meyer, người đã ở trong quân đoàn thông tin, đưa tôi đến gặp một đại tá ở văn phòng quân đoàn tại New York.
“Tôi muốn phục vụ tổ quốc của mình, thưa ngài, và vì tôi có đầu óc kỹ thuật, nên chắc sẽ có cách để tôi làm được những việc có ích.”
“Được, nhưng tốt hơn là cậu hãy đi đến Plattsburg, đến trại huấn luyện, và hoàn thành toàn bộ khóa huấn luyện cơ bản. Sau đó chúng tôi mới có thể dùng cậu,” ông đại tá trả lời.
“Nhưng không có cách nào để sử dụng trực tiếp hơn tài năng của tôi à?”
“Không; đây là cách thức tổ chức của quân đội. Hãy làm theo thông lệ.”
Tôi đi ra ngoài và ngồi trong công viên suy nghĩ về điều đó. Tôi suy nghĩ miên man: Có lẽ cách tốt nhất để có đóng góp là đi theo con đường của họ. Nhưng thật may mắn là tôi đã nghĩ thêm một chút và bảo: “Quên chuyện đó đi! Mình sẽ chờ thêm một chút. Có thể điều gì đó sẽ xảy ra và họ có thể dùng mình một cách hiệu quả hơn.”
Tôi đã đến Princeton để học tiếp sau đại học, và vào mùa xuân, tôi đã đến phòng thí nghiệm Bell[1] ở New York một lần nữa để tìm việc làm mùa hè. Tôi thích đi xem các phòng thí nghiệm Bell. Bill Shockley, người đã phát minh ra transistor, đưa tôi đi một vòng. Tôi nhớ căn phòng của ai đó có cửa sổ được đánh dấu: Cây cầu George Washington đang được xây dựng, và những chàng trai này của phòng đang theo dõi tiến độ công trình. Họ vẽ một đường cong ban đầu khi dây cáp chính vừa được đặt lên, và họ có thể đo được những sai khác nhỏ khi cây cầu được treo trên dây cáp đó, khi đường cong ban đầu chuyển thành một đường parabol. Đó chính là loại công việc mà tôi muốn mình có thể nghĩ ra để làm. Tôi ngưỡng mộ những người ấy; tôi luôn hy vọng một ngày nào đó mình có thể được làm việc với họ.
Vài người ở phòng thí nghiệm đưa tôi ra ngoài ăn trưa ở một nhà hàng hải sản, và tất cả bọn họ đều rất thích thú với việc sắp được ăn sò. Tôi từng sống ở ngay sát biển nhưng chẳng thể nào yêu được món này; cá tôi còn chẳng ăn được, nói chi đến sò.
Tôi tự nhủ: “Mình phải dũng cảm lên. Mình phải ăn được một con.”
Tôi lấy một con sò, và thấy nó thật dễ sợ. Nhưng tôi tự trấn an: “Điều đó không thực sự chứng tỏ rằng mình là một người đàn ông. Mình còn chưa biết được nó dễ sợ như thế nào cơ mà. Khi mà điều đó còn chưa rõ thì nó chưa đến nỗi khó khăn lắm.”
Những người khác vẫn đang say sưa tán dương món sò ngon như thế nào, nên tôi ăn thêm một con nữa, nhưng con này còn khó nuốt hơn cả con đầu.
Lần này, chắc phải là lần thứ tư hoặc thứ năm tôi đến phòng thí nghiệm Bell, và họ đã nhận tôi. Tôi đã rất hạnh phúc. Ngày đó rất khó tìm được một công việc mà bạn có thể làm cùng những nhà khoa học khác.
Nhưng rồi đã có một sự phấn khích lớn ở Princeton. Tướng Trichel đến thăm và nói với chúng tôi: “Chúng tôi cần có các nhà vật lý! Các nhà vật lý rất quan trọng với quân đội! Chúng tôi cần ba nhà vật lý!”
Bạn phải hiểu là ngày ấy người ta hầu như không biết nhà vật lý là gì. Chẳng hạn, Einstein lại được biết đến như một nhà toán học – thế nên rất ít khi có ai đó cần các nhà vật lý. Tôi nghĩ: “Đây là cơ hội của mình để có đóng góp cho đất nước,” và tôi đã tình nguyện làm việc cho quân đội.
Tôi hỏi phòng thí nghiệm Bell xem họ có đồng ý cho tôi làm việc cho quân đội trong mùa hè đó không, và họ nói rằng, nếu tôi muốn thì họ cũng có công việc phục vụ quốc phòng. Nhưng tôi đã bị hút vào cơn sốt ái quốc, nên đã để mất một cơ hội tốt. Lẽ ra tôi đã phải thông minh hơn nhiều để làm việc ở phòng thí nghiệm Bell. Nhưng trong thời gian đó con người thường đôi chút ngớ ngẩn.
Tôi đến Frankfort Arsenal ở Philadelphia và làm việc với một con quái vật: một máy tính cơ học để định hướng cho pháo binh. Khi các máy bay xuất hiện, các xạ thủ pháo binh quan sát chúng bằng một kính viễn vọng, và cái máy tính cơ học này, với những cái bánh răng và cái cam, và vân vân, sẽ cố tiên đoán xem máy bay đang bay về đâu. Đó là một cỗ máy được thiết kế và chế tạo rất đẹp. Một trong những ý tưởng quan trọng ở cỗ máy này là những bánh răng không tròn – các bánh răng dù không tròn mà vẫn khớp nhau. Do bán kính thay đổi của các bánh răng, một trục sẽ quay như công năng của một trục khác. Tuy nhiên, cái máy này thuộc đời chót của thế hệ máy tính cơ học; ngay sau đó máy tính điện tử xuất hiện.
Sau khi nói tất cả những gì về việc các nhà vật lý quan trọng như thế nào với quân đội, việc đầu tiên họ giao cho tôi là kiểm tra những bản vẽ bánh răng xem các con số có đúng không. Việc này diễn ra trong một thời gian. Rồi, dần dần, người phụ trách bộ phận đó bắt đầu nhận ra rằng tôi biết làm cả những việc khác nữa. Và khi mùa hè trôi đi, anh ta dành thêm thời gian thảo luận công việc với tôi.
Một kỹ sư cơ khí ở Frankfort đã luôn cố gắng thiết kế nhiều thứ, nhưng chẳng bao giờ có thể làm được cái gì chuẩn xác. Một lần anh ta thiết kế một cái hộp đầy các bánh răng, trong đó có một bánh to, đường kính khoảng 20cm, với sáu cái nan hoa. Anh chàng này nói một cách rất phấn khởi: “Thưa sếp, sếp thấy cái này thế nào? Sếp thấy thế nào?”
“Cũng được!” sếp trả lời. “Tất cả những thứ cậu cần làm là xác định một cái chuyển trục trên mỗi nan hoa sao cho bánh răng có thể quay!.” Anh chàng này đã thiết kế một cái trục đi xuyên qua ngay giữa những cái nan hoa.
Sếp tiếp tục nói với chúng tôi rằng có một thứ như cái chuyển trục (Tôi đã nghĩ chắc hẳn ông ấy đùa). Nó được người Đức phát minh trong chiến tranh để không cho máy quét mìn của người Anh bắt được những sợi cáp, mà chúng giữ cho mìn của Đức treo trong nước ở một độ sâu nhất định. Với các chuyển trục này, các sợi cáp của Đức có thể cho những sợi cáp của người Anh đi qua như thể là chúng đang đi qua một cái cửa quay. Vì thế, có thể đặt những cái chuyển trục ở tất cả các nan hoa. Nhưng sếp không định nói là những người chế tạo máy phải giải quyết toàn bộ cái rắc rối ấy; mà, thay vì, chính anh chàng này phải thiết kế lại và để cái trục ở chỗ nào đó nữa.
Thi thoảng quân đội lại gửi một trung úy đến để kiểm tra xem công việc tiến triển thế nào. Sếp của chúng tôi bảo rằng vì chúng tôi thuộc khối dân sự, nên viên trung úy đó có cấp bậc cao hơn bất kỳ người nào trong chúng tôi. “Đừng kể gì với trung úy cả,” sếp bảo. “Một khi bắt đầu nghĩ là mình biết về những điều chúng ta đang làm, thì anh ta sẽ áp lên chúng ta đủ loại mệnh lệnh và sẽ làm hỏng hết mọi việc.”
Vào thời gian đó, tôi đang thiết kế vài thứ, nhưng khi viên trung úy đến gần tôi giả vờ là tôi không biết mình đang làm cái gì, tôi chỉ làm theo mệnh lệnh.
“Cậu đang làm gì ở đây vậy, Feynman?”
“À, tôi vẽ một dãy các đường ở các góc kế tiếp nhau, rồi tôi được yêu cầu phải đo các khoảng cách khác nhau từ tâm theo bảng này, và rồi sắp xếp nó lại….”
“Ừ, nhưng nó là cái gì?”
“Tôi nghĩ nó là một cái cam.” Thực tế là tôi đã thiết kế một thứ nhưng tôi cứ làm như thể là ai đó đã bảo tôi chính xác phải làm cái gì.
Viên trung úy không thể moi được thông tin gì từ bất kỳ ai, còn chúng tôi thì thật là vui vẻ, tiếp tục làm việc trên cái máy tính cơ học ấy chẳng hề bị quấy phiền. Một hôm, viên trung úy lại đến và hỏi chúng tôi một câu đơn giản: “Giả sử là người quan sát không ở cùng vị trí với xạ thủ – các anh sẽ giải quyết vấn đề đó như thế nào?”
Chúng tôi bị sốc mạnh. Chúng tôi đã thiết kế toàn bộ vấn đề, sử dụng hệ tọa độ cực với các góc và khoảng cách từ gốc toạ độ. Với các tọa độ X và Y thì rất dễ hiệu chỉnh cho trường hợp một người quan sát di động, chỉ mỗi việc đơn giản là cộng hoặc trừ. Nhưng với hệ tọa độ cực, thì đó là một sự rối rắm khủng khiếp.
Vậy hóa ra là, cái viên trung úy, mà chúng tôi đã cố gắng không để anh ta nói với mình điều gì, cuối cùng đã cho chúng tôi biết một điều vô cùng quan trọng, mà chúng tôi đã quên mất khi thiết kế dụng cụ này – đó là trường hợp súng và trạm quan sát không ở cùng một chỗ!
Sửa lại điều đó là cả một sự rắc rối lớn.
Gần cuối hè, lần đầu tiên tôi được giao một công việc thiết kế thật sự: một cái máy có thể vẽ ra một đường liên tục từ tập hợp các điểm – cứ mười lăm giây hiện ra một điểm - từ một thiết bị mới được phát minh ở Anh để theo dõi máy bay, gọi là “Ra-đa”. Trước đó tôi chưa bao giờ làm một thiết kế cơ khí nào, nên tôi hơi bị hoảng.
Tôi tới gặp một người ở nhóm khác và nói: “Anh là kỹ sư cơ khí; tôi chẳng biết gì về kỹ thuật cơ khí cả, thế mà tôi lại được giao việc này…”
“Chẳng có gì đâu,” anh ta đáp. “Nhìn đây, tôi sẽ chỉ cho anh. Có hai qui tắc anh cần biết để thiết kế những cái máy này. Thứ nhất, ma sát ở mỗi đệm là từng này từng này, và ở mỗi chuyển tiếp bánh răng là chừng này chừng này. Từ đó anh có thể tìm được lực cần thiết để cho thiết bị hoạt động là bao nhiêu. Thứ hai, khi anh có một tỷ số bánh răng, chẳng hạn 2: 1, và anh tự hỏi không biết nên làm nó là 10: 5, hay 24: 12, hay 48: 24, thì đây là cách để lựa chọn: hãy tìm trong cuốn catalogue bánh răng Boston và chọn những bánh răng ở giữa của danh sách. Những cái ở đầu danh sách có quá nhiều răng nên khó chế tạo. Nếu có thể làm những bánh răng có răng mảnh hơn thì họ đã kéo dài cái danh sách về phía trên rồi. Những bánh răng ở cuối danh sách có quá ít răng nên chúng dễ bị vỡ. Vì thế tốt nhất là dùng những bánh răng ở giữa của danh sách.”
Tôi có rất nhiều chuyện buồn cười trong việc thiết kế cái máy đó. Chỉ đơn giản bằng cách lựa chọn những bánh răng ở giữa danh sách và tổng hợp các mômen xoắn nhỏ với hai con số mà anh ấy đưa cho, thế là tôi có thể trở thành một kỹ sư cơ khí!
Quân đội không muốn tôi quay lại Princeton để học tiếp sau mùa hè đó. Họ tiếp tục tặng tôi cái món yêu nước này, và đưa ra cả một dự án tổng thể để tôi có thể thực hiện nếu ở lại đó.
Nhiệm vụ là thiết kế một cái máy giống như cái trước đây – được họ gọi là bộ điều khiển – nhưng lần này tôi nghĩ là dễ hơn bởi vì xạ thủ sẽ bay theo phía sau trên một máy bay khác ở cùng độ cao. Xạ thủ sẽ nhập vào cái máy của tôi độ cao của anh ta và ước lượng khoảng cách của anh ấy ở sau cái máy bay kia. Cái máy của tôi sẽ tự động nghiêng khẩu súng ở đúng góc và khai hoả.
Là người phụ trách của dự án này, tôi sẽ phải du hành xuống Aberdeen để lấy những bảng (số liệu) bắn. Tuy nhiên, họ đã có sẵn vài dữ liệu ban đầu. Tôi nhận thấy là ở hầu hết các cao độ lớn hơn, nơi mà các máy bay sẽ hoạt động, thì lại chẳng có số liệu nào cả. Vì thế tôi đã gọi điện để hỏi xem tại sao lại như vậy, thì hóa ra là những kíp nổ mà họ sẽ dùng không phải kíp nổ hẹn giờ, mà là kíp nổ sợi bột - loại này không hoạt động ở độ cao ấy – chúng bị xịt trong không khí loãng.
Tôi đã nghĩ là mình chỉ phải hiệu chỉnh sức cản không khí ở các cao độ khác nhau. Nhưng thực tế nhiệm vụ của tôi là phát minh ra một cái máy mà nó sẽ làm cho quả đạn nổ đúng thời điểm, khi mà ngòi nổ không cháy!
Tôi quyết định là việc đó quá khó với mình và quay về Princeton.
❀ ❀ ❀
[1] Cơ sở nghiên cứu và phát triển nổi tiếng với rất nhiều phát minh khoa học kỹ thuật quan trọng như transitor, laser.. Đến nay đã có bảy giải Nobel được trao cho các công trình nghiên cứu hoàn thành ở phòng thí nghiệm này.