Tôi Không tin là mình có thể làm việc mà không tham gia giảng dạy. Lý do là, tôi phải có một cái gì đó để khi không có ý tưởng nào và không có tiến triển gì trong nghiên cứu, thì vẫn có thể tự nhủ rằng: “Ít nhất là mình đang sống; ít nhất là mình cũng đang làm việc gì đó; mình cũng đang có một chút đóng góp” – đó thuần túy là vấn đề tâm lý.
Khi còn ở Princeton vào những năm 1940, tôi đã nhìn thấy những gì xảy ra với những trí tuệ vĩ đại ở Viện nghiên cứu Cao cấp[1], những người được lựa chọn một cách đặc biệt bởi bộ óc siêu việt của họ, được có cơ hội ngồi trong ngôi nhà tuyệt đẹp này, bên rừng cây kia, chẳng có lớp nào để dạy, chẳng có nghĩa vụ nào hết. Giờ thì những con người đáng thương này có thể ngồi và suy nghĩ, cố nhiên là tự mình tất cả, phải không? Thế là, có lúc họ chẳng có ý tưởng gì mới: họ có tất cả điều kiện để làm việc, mà lại chẳng có ý tưởng nào. Tôi tin là trong hoàn cảnh như vậy cảm giác tội lỗi hoặc buồn chán sẽ len lỏi trong bạn, và bạn bắt đầu lo lắng về việc không có ý tưởng nào. Và vẫn chẳng có gì xảy ra. Vẫn chẳng có ý tưởng nào hết.
Không có gì xảy ra bởi vì không có đủ hoạt động thực tiễn và thách thức: Bạn không có liên hệ gì với những người làm thực nghiệm. Bạn không phải nghĩ cách để trả lời những câu hỏi của sinh viên. Không gì hết.
Trong bất kỳ quá trình suy nghĩ nào đều có những thời điểm mà mọi việc diễn ra tốt đẹp, và bạn gặt hái các ý tưởng tuyệt vời. Dạy học làm công việc bị đứt quãng, và thế nên nó rõ ràng là sự phiền toái lớn nhất trên đời. Nhưng rồi có những khoảng thời gian dài hơn bạn chẳng gặt hái được gì cả. Bạn không có ý tưởng nào, và nếu bạn không làm gì cả, thì điều đó sẽ làm cho bạn hóa điên. Bạn thậm chí không thể nói “Tôi đang dạy lớp của mình”.
Nếu bạn dạy một lớp, bạn có thể nghĩ về những vấn đề cơ bản mà bạn hiểu rõ. Những vấn đề này vui và thú vị. Việc suy ngẫm lại chúng chẳng có hại gì cả. Có cách nào tốt hơn để trình bày chúng không? Bạn có ý tưởng nào mới về các vấn đề này không? Thật dễ nghĩ về các vấn đề cơ bản; nếu bạn không thể nghĩ về một ý tưởng mới, thì cũng không sao; những suy ngẫm trước đây của bạn cũng đủ tốt cho lớp học rồi. Nếu bạn nghĩ được điều gì đó mới, bạn sẽ rất vui vì mình có một cách nhìn mới về vấn đề đó.
Những câu hỏi của sinh viên thường là khởi nguồn của nghiên cứu mới. Họ thường hỏi những câu sâu sắc, mà đôi khi tôi đã nghĩ về chúng và rồi phải gác lại, có thể nói như vậy, trong một thời gian. Chẳng hại gì cho tôi khi suy ngẫm lại về các câu hỏi đó và xem liệu mình có thể đi xa hơn chút nào không. Sinh viên có thể không đủ khả năng nhìn thấy cái mà tôi muốn trả lời, hay những điều tinh tế mà tôi muốn nghĩ đến, nhưng họ nhắc tôi về một vấn đề bằng cách đưa ra những câu hỏi gần với vấn đề đó. Đâu có dễ tự nhắc mình về những điều này.
Vì thế tôi nhận thấy là, việc giảng dạy và sinh viên giữ cho cuộc sống tiếp diễn, và tôi sẽ không bao giờ chấp nhận một vị trí, mà ai đó đã tạo cho tôi, một hoàn cảnh hạnh phúc, nhưng ở đó tôi lại không phải giảng dạy. Không bao giờ.
Thế mà một lần người ta đã dành cho tôi một vị trí như vậy.
Trong thời gian chiến tranh, khi tôi còn ở Los Alamos, hans Bethe đã thu xếp cho tôi làm việc ở đại học Cornell với mức lương 3700 đô la một năm. Tuy có nhận được lời mời từ những nơi khác với mức lương cao hơn, nhưng tôi quí Bethe, và đã quyết định đến Cornell, không lăn tăn gì về tiền nong cả. Nhưng Bethe luôn quan tâm đến tôi, nên khi biết những nơi khác đề xuất mức lương cao hơn, ông đã khiến Cornell tăng lương của tôi lên 4000 đô la thậm chí trước khi tôi bắt đầu nhận việc.
Cornell cho biết họ muốn tôi dạy một khóa về các phương pháp toán học dùng trong vật lý. Họ cũng cho biết ngày tôi nên có mặt – tôi nghĩ là ngày 6 tháng 11 – nhưng có vẻ buồn cười vì thời hạn đó là một ngày quá muộn trong năm học. Tôi lấy tàu từ Los Alamos đi ithaca và dành hầu hết thời gian để viết những báo cáo cuối cùng về Dự án manhattan. Tôi vẫn còn nhớ là cho đến tận chuyến tàu đêm từ Buffalo đi ithaca tôi mới bắt đầu chuẩn bị bài giảng.
Bạn phải hiểu áp lực công việc ở Los Alamos. Bạn làm mọi việc nhanh nhất có thể; ai cũng làm việc rất, rất cần mẫn; và mọi việc đều hoàn thành vào phút chót. Bởi thế, với tôi việc chuẩn bị bài giảng trên tàu một hai ngày trước buổi lên lớp đầu tiên dường như là rất tự nhiên thôi.
Các phương pháp toán học cho vật lý là môn lý tưởng dành cho tôi dạy. Đó chính là những gì mà tôi đã làm trong suốt thời gian chiến tranh – áp dụng toán học vào vật lý. Tôi biết phương pháp nào là thật sự hữu ích, và phương pháp nào là không. Vào thời gian đó, tôi đã có rất nhiều kinh nghiệm tích luỹ được sau bốn năm làm việc cật lực vận dụng các mẹo toán học. Thế là tôi trình bày các chủ đề khác nhau trong toán học và cách tiếp cận chúng. Tôi vẫn còn giữ những tờ giấy ấy – những ghi chép tôi đã viết trên tàu.
Tôi xuống tàu ở Ithaca, và như thường lệ vác trên vai một chiếc va li nặng. Một bạn trẻ với gọi: “Ngài có cần taxi không?”
Tôi chưa bao giờ thích đi taxi: Tôi là một trai trẻ, tiền ít, muốn thể hiện mình là một thằng đàn ông. Nhưng tôi mẩm bụng: “Mình là một giáo sư – mình phải đĩnh đạc.” Thế là, tôi hạ va li xuống, xách nó bằng tay, và nói: “Có.”
“Đi đâu ạ?”
“Khách sạn.”
“Khách sạn nào ạ?”
“Một khách sạn nào đó ở ithaca.”
“Ngài có đặt chỗ trước không?”
“Không.”
“Vậy thì không dễ kiếm một phòng đâu ạ.”
“Ta cứ đi hết khách sạn này đến khách sạn khác. Hãy dừng lại và chờ tôi.”
Tôi hỏi khách sạn Ithaca: không có phòng. Chúng tôi đi đến khách sạn Lữ hành: họ cũng không còn phòng nào. Tôi nói với người lái taxi: “Không nên lái vòng quanh thị trấn với tôi; tốn nhiều tiền lắm, tôi sẽ đi bộ hỏi từng khách sạn một.” Tôi gửi va li ở khách sạn Lữ hành và bắt đầu đi lang thang loanh quanh tìm kiếm một phòng để nghỉ. Điều đó cho thấy, tôi - một giáo sư mới, đã có được bao nhiêu sự chuẩn bị.
Tôi gặp một anh chàng khác cũng đang lang thang loanh quanh tìm phòng nghỉ. Hóa ra là việc kiếm một phòng khách sạn là hoàn toàn không thể. Sau một hồi lang thang lên một chỗ kiểu như quả đồi, chúng tôi dần nhận ra là mình đang đến gần khu vực của trường đại học.
Chúng tôi nhìn thấy một cái gì đó giống như một ngôi nhà để ở, một cửa sổ để mở, và bạn có thể nhìn thấy cái giường tầng ở bên trong. Lúc ấy đã là đêm rồi, nên chúng tôi quyết định hỏi xem có ngủ lại ở đó được không. Cửa ra vào mở, nhưng trong nhà tuyệt nhiên không có một ai. Chúng tôi đi lên, vào một phòng, và anh chàng kia nói: “Vào đi, chúng ta ngủ ở đây thôi!”
Tôi nghĩ việc đó không ổn lắm. Với tôi, nó giống như là việc ăn cắp vậy. Ai đó đã chuẩn bị những cái giường này; họ có thể về nhà và thấy chúng tôi đang ngủ trên giường của mình, và chúng tôi sẽ gặp rắc rối.
Vì thế, chúng tôi đi ra. Đi bộ một quãng ngắn, dưới ánh đèn đường, chúng tôi nhìn thấy trên bãi cỏ rất nhiều lá rụng được gom lại – đang là mùa thu. Tôi nói: “Này, chúng ta có thể lăn vào đống lá này và ngủ ở đây!” Tôi thử và thấy đống lá cũng khá êm. Tôi đã quá mệt vì đi loanh quanh, và nếu đống lá này không lồ lộ dưới ánh đèn đường thì đó quả là một nơi hoàn hảo. Nhưng tôi không muốn có rắc rối ngay từ đầu. Khi còn ở Los Alamos, mọi người đã trêu chọc tôi (khi tôi chơi trống hay gì đó tương tự) về cái kiểu “Giáo sư” mà Cornell sắp có. Họ nói là tôi đã nổi tiếng về những trò vớ vẩn, vì thế tôi phải gắng tỏ ra đĩnh đạc. Tôi miễn cưỡng từ bỏ ý định ngủ trong đống lá cây ấy.
Đi loanh quanh thêm một chút, thì lộ ra một tòa nhà lớn, một tòa nhà quan trọng nào đó thuộc khuôn viên của trường. Chúng tôi đi vào trong và thấy hai cái đi văng ở hành lang. Anh chàng kia nói: “Tôi sẽ ngủ ở đây thôi!” và đổ sập xuống ghế.
Không muốn gặp rắc rối, tôi đã tìm thấy người bảo vệ ở dưới tầng hầm và hỏi xem liệu tôi có thể ngủ trên cái đi văng đó không, và ông ta nói “Chắc chắn là được.”
Sáng hôm sau, tôi thức dậy, tìm chỗ ăn sáng, rồi guồng chân cật lực đi tìm xem khi nào thì buổi lên lớp đầu tiên sẽ bắt đầu. Tôi chạy vào khoa Vật lý: “Bài giảng đầu tiên của tôi là lúc mấy giờ? Tôi có bị trễ không?” một người nói: “Anh không phải lo lắng gì. Trong tám ngày nữa chưa lớp nào bắt đầu cả.”
Đó là một cú sốc với tôi! Câu đầu tiên tôi nói là: “Vâng, thế thì vì sao các anh lại bảo tôi đến đây trước cả một tuần?”
“Tôi nghĩ là anh sẽ muốn đến, làm quen, tìm chỗ ở và ổn định mọi việc trước khi bắt đầu dạy.”
Tôi đã trở về thế giới văn minh, mà tôi chưa biết nó là gì!
Giáo sư Gibbs gửi tôi đến hội sinh viên để tìm chỗ ở. Đó là một nơi rất rộng với rất nhiều sinh viên đi đi lại lại. Tôi đi đến một cái bàn lớn có chữ NHÀ Ở và nói: “Tôi là người mới đến và muốn tìm một phòng.”
Anh chàng ở đó trả lời: “Này anh bạn, tình hình nhà cửa ở Ithaca rất gay. Tuỳ anh tin hay không, thực sự là gay đến mức tối qua đến cả một giáo sư cũng đã phải ngủ trên đi văng ở hành lang này đấy!”
Tôi nhìn quanh, và đó chính là cái hành lang này. Tôi quay lại anh chàng kia và nói: “Này, tôi chính là giáo sư đó, và giáo sư này không muốn phải lặp lại điều đó nữa đâu!” những ngày đầu của tôi ở Cornell trên cương vị một giáo sư mới rất thú vị và đôi khi còn rất hài. Vài ngày sau khi tôi đến Cornell, giáo sư Gibbs vào phòng làm việc của tôi và giải thích với tôi rằng, bình thường chúng ta không nhận sinh viên ở thời điểm muộn như thế này của kỳ học, nhưng trong vài trường hợp, nếu ứng viên là rất, rất xuất sắc, thì chúng ta có thể nhận. Ông ấy đưa tôi một hồ sơ và yêu cầu tôi xem xét.
Khi quay lại, ông hỏi: “Này, anh thấy thế nào?”
“Tôi cho là cậu này thuộc đầu bảng, và chúng ta nên nhận cậu ấy.
Tôi nghĩ chúng ta may mắn có được cậu ấy ở đây”.
“Ừ, nhưng anh đã nhìn ảnh của em đó chưa?”
“Điều đó thì có nghĩa gì cơ chứ?” Tôi thốt lên.
“Tuyệt đối không, thưa ngài! Rất vui nghe anh nói vậy. Tôi muốn thấy vị giáo sư mới của chúng ta thuộc loại týp người nào.” Gibbs thích cách tôi phản ứng tức thì với ông ấy mà không cần giữ mình: “Ông ấy là trưởng khoa ở đây, mình là lính mới, cho nên tốt hơn là nên cẩn thận với lời ăn tiếng nói.” Tôi không có đủ nhanh nhẹn để nghĩ được như vậy; phản ứng trước tiên của tôi là ngay tức thì và tôi nói cái điều đầu tiên xuất hiện trong đầu mình.
Rồi người khác vào phòng làm việc của tôi. Anh ta muốn nói chuyện với tôi về triết học. Tôi không thực sự nhớ lắm anh ấy đã nói gì, nhưng anh ta muốn tôi gia nhập một tổ chức kiểu câu lạc bộ các giáo sư. Câu lạc bộ này là một loại câu lạc bộ bài Do Thái, cho rằng Đức quốc xã cũng không đến nỗi xấu lắm. Anh ta cố gắng giải thích cho tôi rằng có rất nhiều người Do Thái làm việc này việc nọ – mấy việc ngu xuẩn. Tôi chờ cho đến khi anh ta tuôn ra hết và bảo: “Anh biết không, anh nhầm to rồi: Tôi đã được nuôi dạy trong một gia đình Do Thái đấy.” Anh ta biến luôn, và đó là khởi đầu của sự thiếu tôn trọng của tôi đối với một vài giáo sư về khoa học nhân văn, và các lĩnh vực khác, ở Đại học Cornell.
Tôi bắt đầu lại cuộc sống riêng, sau cái chết của vợ mình, và muốn gặp gỡ vài cô gái. Ngày ấy có nhiều điểm khiêu vũ công cộng. Ở Cornell cũng rất hay có khiêu vũ để mọi người gặp gỡ, đặc biệt là những sinh viên năm thứ nhất và những người quay lại trường học tiếp.
Tôi còn nhớ buổi khiêu vũ đầu tiên mà tôi tham dự. Tôi đã không nhảy trong ba hay bốn năm khi còn ở Los Alamos; thậm chí là cũng chẳng tham gia hội hè gì. Vì thế, tôi đã đến buổi khiêu vũ này và cố gắng nhảy đẹp nhất có thể, tôi nghĩ cũng không đến nỗi nào. Bạn luôn có thể nói chuyện khi ai đó nhảy với bạn và họ cảm thấy dễ chịu về điều đó.
Khi nhảy tôi thường nói chuyện đôi chút với cô gái cùng cặp. Cô ấy hỏi tôi vài câu về bản thân tôi và tôi cũng hỏi vài câu về cô ấy. Nhưng khi tôi muốn nhảy với cô gái mà tôi đã nhảy cùng trước đó, thì tôi luôn phải ngóng chờ cô ấy.
“Em có muốn chúng ta nhảy một điệu nữa không?”
“Không, em xin lỗi; em cần thở một lát” hoặc: “Ồ, em phải vào nhà vệ sinh một lát” – lý do này hay lí do nọ đến từ hai hay ba cô gái kế tiếp nhau!
Tôi có vấn đề gì không nhỉ? Tôi nhảy dở quá chăng? Tính cách của tôi dở quá chăng?
Tôi nhảy với cô khác, và lại những câu hỏi quen thuộc: “Anh là sinh viên đại học hay sau đại học?” (Khi đó có nhiều sinh viên trông có tuổi vì họ đã từng phục vụ trong quân đội.) “Không, anh là giáo sư.”
“Ồ, giáo sư về gì vậy?”
“Vật lý lý thuyết.”
“Vậy em đoán anh đã tham gia làm bom nguyên tử.”
“Đúng thế, anh đã ở Los Alamos trong thời gian chiến tranh.”
Cô ấy nói: “Anh đúng là kẻ nói dối đáng ghét!” – rồi bỏ đi.
Điều đó làm tôi cảm thấy nhẹ đi rất nhiều. Nó làm rõ mọi thứ. Tôi đã nói với tất cả các cô gái một sự thật ngu ngốc rất hồn nhiên, và tôi chưa bao giờ biết vấn đề thực sự là gì. Hết sức rõ ràng là tôi đã bị hết cô này đến cô khác lẩn tránh, cho dù đã làm mọi việc rất tốt, rất tự nhiên và lịch sự, và đã trả lời các câu hỏi. Mọi thứ dường như rất ổn, thế mà rồi rụp – hỏng cả. Tôi không thể hiểu được điều đó cho tới khi may mắn người phụ nữ này gọi tôi là kẻ nói dối đáng ghét.
Thế nên sau đó tôi gắng tránh tất cả các câu hỏi, và việc đó lại dẫn đến một hệ quả ngược lại: “Anh là sinh viên mới à?”
“À, không em ạ.”
“Thế anh là sinh viên sau đại học?”
“Cũng không phải”
“Thế anh là gì?”
“Anh không muốn nói ra đâu.”
“Sao anh lại không nói với chúng em anh làm gì?”
“Anh chỉ không muốn nói…” – và họ tiếp tục nói chuyện với tôi!
Cuối buổi hôm đó tôi về nhà cùng hai cô gái. Một trong hai cô nói với tôi rằng, thực ra tôi không nên cảm thấy kém thoải mái về việc mình là sinh viên năm thứ nhất; có rất nhiều người ở tuổi tôi mới bắt đầu vào đại học, và điều đó hoàn toàn bình thường. Cả hai là sinh viên năm thứ hai và đều có những phẩm chất của người mẹ. Họ chăm sóc rất kỹ tâm lý của tôi, nhưng tôi không muốn sự việc bị xuyên tạc và hiểu lầm quá mức, nên đã nói với họ rằng mình là một giáo sư. Hai cô rất khó chịu vì tôi đã lừa gạt họ. Tôi gặp rất nhiều rắc rối khi là một giáo sư trẻ ở Cornell.
Dù sao, tôi bắt đầu dạy môn phương pháp toán lý, và tôi nhớ là còn dạy một môn khác nữa, có lẽ là điện và từ. Tôi cũng dự định làm nghiên cứu. Trước chiến tranh, khi còn đang học để lấy bằng tiến sĩ, tôi có nhiều ý tưởng: Tôi đã tìm ra các phương pháp mới để giải bài toán cơ học lượng tử bằng các tích phân đường, và tôi đã có rất nhiều vấn đề muốn làm.
Ở Cornell, tôi phải chuẩn bị bài giảng, và thường xuyên đến thư viện, ở đó tôi đã đọc hết Nghìn lẻ một đêm và nhìn chằm chằm các cô gái đi ngang qua. Nhưng đến khi phải làm nghiên cứu thì tôi không thể nào bắt tay vào công việc được. Tôi hơi mệt mỏi; Tôi không hứng thú; Tôi không thể làm nghiên cứu được nữa! Tình trạng này kéo dài trong một thời gian mà tôi tưởng chừng vài năm, nhưng nghĩ lại và nhẩm tính ngày tháng thì thấy cũng không đến nỗi dài như vậy. Có lẽ nếu là bây giờ thì tôi sẽ không nghĩ là nó dài như vậy; nhưng khi đó nó dường như diễn ra trong một thời gian rất dài. Tôi không thể khởi động bất kì một vấn đề nào: Tôi nhớ là có viết một vài câu về vấn đề các tia gamma, nhưng rồi dừng lại ở đấy. Tôi tin là do chiến tranh và những thứ khác (cái chết của vợ tôi) tôi đơn giản là đã kiệt sức.
Bây giờ tôi hiểu điều đó hơn. Trước hết, một giảng viên trẻ không định hình được việc chuẩn bị những bài giảng hay sẽ mất bao nhiêu thời gian, nhất là ở lần đầu tiên - rồi trình bày bài giảng, ra các bài kiểm tra, và rà soát để chắc rằng chúng là hợp lí. Tôi đã có một khóa dạy rất tốt, đã dành rất nhiều suy tư cho từng bài giảng. Nhưng tôi đã không nhận ra rằng việc đó lấy đi rất nhiều công sức! Vì thế, tôi ở đây, “Kiệt sức”, đọc Nghìn lẻ một đêm và cảm thấy thất vọng về bản thân mình.
Trong thời gian này tôi nhận được lời mời từ những nơi khác nhau – các trường đại học và công ty – với mức lương cao hơn lương hiện tại của tôi. Và mỗi lần nhận được lời mời như vậy tôi lại thấy thất vọng hơn một chút. Tôi tự nói với mình: “Nhìn này, họ gửi mình những lời mời tuyệt vời này, mà họ đâu có biết là mình đang kiệt sức! Tất nhiên là mình không thể chấp nhận những lời mời đó. Họ mong chờ mình mang lại thành công nào đó, thế mà mình thì chẳng thể hoàn thành việc gì cả! Mình chẳng có ý tưởng nào…”
Cuối cùng, tôi nhận được một lá thư với lời mời đến làm việc ở Viện nghiên cứu cao cấp Princeton: Einstein… Von Neumann… Wyl… Tất cả những bộ óc vĩ đại này! Họ viết cho tôi, và mời tôi làm giáo sư ở đấy! Và không chỉ là một giáo sư bình thường. Bằng cách nào đó họ biết cảm nghĩ của tôi về Viện: quá thuần túy lý thuyết; không đủ hoạt động thực tế và thách thức. Vì thế họ viết: “Chúng tôi hiểu là ngài quan tâm nhiều đến thực nghiệm và giảng dạy, cho nên chúng tôi đã thỏa thuận tạo ra một ghế giáo sư đặc biệt, nếu ngài muốn: giáo sư nửa thời gian ở đại học Princeton và nửa thời gian ở Viện”.
Viện nghiên cứu cao cấp! Một ngoại lệ đặc biệt! Một vị trí thậm chí còn tốt hơn cả của Einstein. Thật lý tưởng; thật hoàn hảo; thật vô lí.
Thật vô lí. Cho đến thời điểm này, các lời mời khác làm tôi cảm thấy tồi tệ hơn. Họ mong chờ tôi mang lại thành công nào đó. Nhưng lời mời này thì quá tức cười, quá vô lí để tôi có thể ứng xử một cách phù hợp, quá không tương xứng đến mức lố bịch. Những lời mời khác chỉ là những nhầm lẫn; lời mời này thì là một sự vô lí. Nghĩ đến lời mời ấy khi đang cạo râu tôi cười nhạo về nó.
Sau đó tôi nghĩ thầm: “Mày biết không, điều người ta nghĩ về mày quá thể là phi thường, không thể nào ứng xử tương xứng. Mày không có trách nhiệm phải ứng xử tương xứng!”
Đó là một ý tưởng thông minh: Bạn không có trách nhiệm phải ứng xử tương xứng với điều mà những người khác nghĩ là bạn phải đạt được. Tôi không có trách nhiệm phải trở thành người giống như họ mong đợi. Đó là sai lầm của họ, không phải khiếm khuyết của tôi.
Với tôi, việc Viện nghiên cứu cao cấp kì vọng tôi giỏi đến mức đó không phải là một thất bại; nó là không có thể. Rõ ràng nó là một sai lầm – và ở thời điểm tôi cho rằng họ có thể nhầm, tôi nhận ra là điều đó cũng đúng cho tất cả các nơi khác, bao gồm cả trường đại học tôi đang làm việc. Tôi là chính mình, còn nếu họ kì vọng tôi là một người giỏi và trả tiền cho tôi vì điều ấy, thì đó sự thiếu may mắn của họ.
Rồi, một hôm, như một phép lạ – có lẽ do tình cờ nghe được tôi nói về chuyện đó, hoặc có thể do thấu hiểu tâm trạng tôi – Bob Wilson, trưởng một phòng thí nghiệm ở Cornell, gọi tôi đến gặp. Ông ấy nói bằng một giọng rất nghiêm trang: “Feynman này, anh đang dạy các lớp của mình rất tốt; anh đang làm một công việc rất hay, và chúng tôi rất hài lòng. Những kỳ vọng khác mà chúng tôi có thể đặt vào anh chỉ là sự may rủi. Khi chúng tôi thuê một giáo sư, chúng tôi chấp nhận mọi rủi ro. Nếu kết quả là tốt, rất ổn. Nếu không, quá tệ. Nhưng anh đừng bận tâm về những việc anh làm được hay không làm được.” Ông ấy nói hay hơn thế nhiều, và điều đó đã giải tỏa tôi khỏi sự giày vò về mặc cảm là mình có lỗi.
Rồi tôi có một suy nghĩ khác: hiện tại Vật lý làm tôi chán ngán một chút, nhưng tôi thường khoái làm vật lý. Vì sao tôi đã khoái nó? Tôi thường chơi với nó. Tôi thường làm bất kể cái gì mà tôi cảm thấy thích làm – không phải làm vì liệu nó có quan trọng cho sự phát triển của vật lý hạt nhân hay không, mà vì liệu nó có thú vị và ngộ nghĩnh để tôi chơi với hay không. Khi còn là học sinh phổ thông, tôi đã thấy nước chảy ra từ một cái vòi trở nên hẹp hơn, và tự hỏi liệu mình có thể tìm được cái gì xác định đường chảy đó không. Tôi nhận ra là việc đó khá dễ làm. Tôi không cần phải làm việc đó; nó không quan trọng gì cho tương lai của khoa học; ai đó khác đã làm việc ấy rồi. Điều đó đâu có gây ra sự khác biệt nào: Tôi sáng tạo ra sự việc và chơi với sự việc như trò giải trí của riêng mình
Thế là tôi có quan điểm mới này. Giờ đây tôi đang kiệt quệ và sẽ không bao giờ đạt được điều gì, tôi có được vị trí rất tuyệt này ở trường đại học, tham gia dạy các lớp mà tôi yêu thích; và cũng như tôi đọc Nghìn lẻ một đêm để giải trí; tôi sẽ chơi với vật lý, bất kể khi nào tôi muốn, không cần bận tâm về bất kì sự quan trọng nào.
Trong vòng tuần sau, khi tôi đang ở trong nhà ăn, một anh chàng nào đó, rỗi hơi, ném một cái đĩa vào không khí. Khi cái đĩa bay lên trong không khí, tôi thấy nó lắc lư, và tôi thấy cái biểu trưng màu đỏ của Cornell trên cái đĩa đang quay tròn. Với tôi, rõ ràng là cái biểu trưng quay tròn nhanh hơn là lắc lư.
Chẳng có việc gì làm nên tôi bắt đầu tìm hiểu chuyển động của cái đĩa quay. Tôi khám phá ra rằng khi góc lắc lư là đủ nhỏ thì cái biểu trưng quay nhanh gấp hai lần nhịp độ lắc lư – hai trên một. Điều này được rút ra từ một phương trình khá phức tạp! Sau đó tôi nghĩ: “Có cách nào mà mình có thể xem xét bài toán một cách cơ bản hơn, bằng xem xét các lực và động lực học, tại sao nó lại là hai trên một?”
Tôi không nhớ mình đã giải quyết việc đó như thế nào, nhưng cuối cùng thì tôi cũng tìm ra chuyển động của hạt có khối lượng là như thế nào, và các gia tốc phải cân bằng ra sao để làm cho nó thành hai trên một.
Tôi vẫn còn nhớ khi đi đến gặp Bethe và nói: “Này, Hans! Tôi nhận ra một điều khá thú vị. Đây, cái đĩa quay như thế này, và lý do để có hai trên một là…” và tôi chỉ cho ông ấy các gia tốc.
Ông bảo: “Feynman, điều đó khá thú vị, nhưng nó có quan trọng gì không? Tại sao cậu lại làm việc đó?.”
“À!” tôi nói, “Chẳng quan trọng gì hết. Tôi làm điều này chỉ vì nó rất ngộ.” Phản ứng của ông không làm tôi nản; Tôi đã định hình trong tâm trí mình là tôi sẽ thưởng thức vật lý và làm bất kể cái gì tôi thích.
Tôi đã viết ra phương trình của chuyển động lắc lư. Rồi tôi nghĩ về các quĩ đạo của electron, nó sẽ bắt đầu chuyển động như thế nào ở điều kiện tương đối tính. Rồi đến phương trình Dirac trong điện động lực học. Và rồi điện động lực học lượng tử. Và trước khi tôi hiểu nó (trong thời gian rất ngắn) thì tôi đã “Chơi” – đúng ra là làm việc – với chính vấn đề trước kia mà tôi đã rất yêu thích, những vấn đề mà tôi phải tạm dừng nghiên cứu khi đến Los Alamos: các vấn đề kiểu như trong luận án của tôi; tất cả những vấn đề xưa cũ tuyệt vời đó.
Chẳng phải cố gắng gì. Chơi với những thứ này rất dễ. Giống như mở nút một cái chai: mọi thứ tuôn ra chẳng cần một nỗ lực nào. Tôi đã từng gần như cố gắng cản lại điều đó! Những thứ tôi làm không có tầm quan trọng gì cả, nhưng cuối cùng hóa ra lại có. Những giản đồ và tất cả những công trình để tôi được trao giải Nobel đã đến từ việc loăng quăng với cái đĩa lắc lư ấy.[2]
❀ ❀ ❀
[1] Institute for Advanced Study, Princeton (USA) là viện nghiên cứu rất nổi tiếng, qui tụ những nhà khoa học lỗi lạc của thế giới trong thế kỷ XX như Einstein, von Neumann, Gödel, Oppenheimer. Rất nhiều nhà khoa học làm việc ở đây được trao giải Nobel hay huy chương Fields (trong Toán học). (ND)
[2] Lowell C. Thelin ở New Jersey có linh cảm rằng Feynman đảo ngược tỷ số – có lẽ là cố tình, để kích thích độc giả tự làm thí nghiệm kiểm chứng. Thelin đã ghi hình cái đĩa quay và lắc, nhưng khẳng định tỷ số ngược lại, tức là hai lần lắc với một lần quay. Thực tế thì Feynman đã không phát hiện ra lỗi này, kể cả sau khi đọc bản in thử. Cái thu hút sự quan tâm của Feynman là một tỷ số đơn giản như vậy lại ẩn trong chuyển động phức tạp của cái đĩa (RL).