Có lần tôi đã cho một người đi nhờ xe, anh ta kể với tôi rằng Nam Mỹ thú vị ra sao, và rằng tôi nên tới đó. Tôi phàn nàn về ngôn ngữ khác biệt, nhưng anh ta nói cứ xốc tới và học nó – ngôn ngữ không phải là vấn đề quan trọng. Thế nên, tôi nghĩ đó là một ý hay: tôi sẽ đi thăm Nam Mỹ.
Cornell có vài lớp ngoại ngữ dạy theo phương pháp thường được dùng trong thời kỳ chiến tranh: trong lớp có các nhóm nhỏ, mỗi nhóm khoảng chục sinh viên và một người nói tiếng nước ngoài gốc, chỉ nói bằng thứ ngoại ngữ đó thôi - không dùng ngôn ngữ nào khác. Vì đang là một giáo sư trông khá trẻ ở Cornell, tôi quyết định theo học một lớp cứ như tôi là một sinh viên bình thường. Và vì tôi chưa biết sẽ đến nơi nào ở Nam Mỹ, nên tôi quyết định học tiếng Tây Ban Nha bởi đa phần các nước ở đó nói tiếng Tây Ban Nha.
Thế là đến lúc phải đăng ký lớp, tôi vẫn còn đang đứng ở ngoài, chuẩn bị đi vào lớp, thì một cô gái tóc hoe phốp pháp xuất hiện. Bạn biết trong khoảnh khắc đó thì bạn sẽ có cảm giác như thế nào, ChÀ? Cô nàng trông quá tuyệt. Tôi thầm nghĩ: “Có thể nàng sẽ vào lớp tiếng Tây Ban nha - Thế thì trên cả tuyệt vời!” nhưng không, cô ấy đi vào lớp tiếng Bồ Đào nha. Thế là tôi ngộ ra, quái gì! Mình cũng có thể học tiếng Bồ.
Nhưng khi đang bám sát gót cô ấy, thì tinh thần Anglo-Saxon của tôi bảo rằng: “Không, đó không phải là lý do đúng đắn để quyết định học tiếng gì.” Vì vậy, tôi đã quay lại và đăng ký lớp Tây Ban nha, lòng đầy tiếc nuối.
Một thời gian sau, khi dự cuộc gặp mặt của hội Vật lý ở New York, tôi vô tình ngồi cạnh Jaime Tiomno đến từ Brazil, và anh ấy hỏi: “Anh định làm gì trong mùa hè tới?”
“Tôi đang nghĩ đến một chuyến thăm Nam Mỹ.”
“Ồ! Sao anh không đến Brazil? Tôi sẽ kiếm cho anh một vị trí ở Trung tâm nghiên cứu Vật lý.”
Thế là bây giờ tôi phải chuyển tất cả cái Tây Ban Nha ấy sang Bồ Đào Nha!
Tôi đã tìm được một sinh viên sau đại học người Bồ Đào Nha ở Cornell, và cậu ấy dạy tôi hai lần một tuần, nhờ thế tôi có thể chuyển đổi những gì đã học.
Trên máy bay tới Brazil, khi khởi hành, tôi ngồi cạnh một anh chàng người Côlômbia, anh này chỉ nói mỗi tiếng Tây Ban Nha, thế nên tôi không nói chuyện với anh ta, vì tôi không muốn lại bị lộn xộn (về ngôn ngữ) một lần nữa. Nhưng ngồi phía trước tôi là hai người đang nói chuyện bằng tiếng Bồ. Tôi chưa bao giờ nghe tiếng Bồ thực sự; tôi chỉ có một anh gia sư, cậu ấy nói rất chậm rãi và rõ ràng. Thế nên với hai anh chàng nói như tên bắn này, brrrrrrr-a-ta brrrrrrr-a-ta, thì tôi thậm chí không nghe được cả từ “Tôi”, hay từ “Cái”, hay bất kỳ từ nào.
Cuối cùng, khi máy bay dừng để tiếp nhiên liệu ở Trinidad[1], tôi tiến lại chỗ hai anh chàng đó và nói rất chậm bằng tiếng Bồ, hoặc là cái mà tôi nghĩ là tiếng Bồ: “Xin lỗi… Các anh có hiểu… Tôi đang nói gì với các anh không?”
“Pois não, porque não?” – “Hẳn rồi, sao lại không hiểu?” họ trả lời.
Thế là tôi cố hết sức giải thích, rằng tôi mới học tiếng Bồ được mấy tháng nay, nhưng tôi chưa bao giờ nghe tiếng Bồ trong một cuộc hội thoại, và tôi đã lắng nghe họ trên máy bay, nhưng không thể hiểu được một từ nào mà họ nói cả.
“Ồ,” họ vừa nói vừa cười, “Não e Portugues! E Ladão! Judeo!” Với người Bồ, cái thứ tiếng mà họ nói cũng giống như tiếng yiddish[2] đối với người Đức vậy. Bạn có thể tưởng tượng, một anh chàng đang học tiếng Đức ngồi phía sau hai người nói tiếng yiddish, cố gắng hiểu xem họ đang nói gì. Rõ ràng là tiếng Đức, nhưng nghe không hiểu. Anh ta chắc là đã học tiếng Đức không tốt lắm.
Khi trở lại máy bay, họ chỉ cho tôi một người đàn ông nói tiếng Bồ, thế là tôi ngồi cạnh anh ta. Anh ấy đang học giải phẫu thần kinh ở maryland[3] nên rất dễ nói chuyện – chừng nào còn nói về cirugia neural, o cerebreu, và những thứ “Phức tạp” như thế khác. Những từ dài thực ra lại khá dễ dịch sang tiếng Bồ vì sự khác biệt duy nhất là ở đuôi của chúng: “-tion” trong tiếng Anh là “-ção” trong tiếng Bồ; “-ly” là “-mente”, và vân vân. Nhưng khi anh ấy nhìn qua cửa sổ và nói gì đó giản đơn, thì tôi lại không hiểu được: tôi không thể luận ra “Trời xanh quá”.
Tôi xuống máy bay ở Recife (chính phủ Brazil sẽ trả cho chặng từ Recife đến Rio) và được bố vợ của Cesar Lattes, giám đốc của Trung tâm nghiên cứu Vật lý ở Rio, vợ ông ấy cùng một người đàn ông nữa đón. Khi những người đàn ông đi lấy hành lý của tôi, thì quý bà bắt đầu nói với tôi bằng tiếng Bồ: “Ngài nói tiếng Bồ à? Tuyệt quá! Ngài đã học tiếng Bồ như thế nào?”
Tôi đáp chậm rãi, với một nỗ lực lớn. “Thoạt đầu, tôi đã bắt đầu học tiếng Tây Ban Nha… Rồi tôi biết mình sẽ đi Brazil…” Đến đây tôi muốn nói: “Thế nên tôi đã học tiếng Bồ,” nhưng không sao nghĩ ra từ “Thế nên”. Tuy nhiên, tôi biết cách tạo những từ dài, nên đã kết thúc câu đó như thế này: “Consequentemente, apprendi Portugues!”
Khi hai người đàn ông quay lại cùng với hành lí, bà ấy nói: “Ôi, ông ấy nói tiếng Bồ đấy! Mà với những từ hay tuyệt như: Consequentemente!
Rồi một thông báo được phát ra từ hệ thống loa phóng thanh: chuyến bay đến Rio bị hủy, và sẽ không có chuyến nào khác cho đến thứ ba tới. – thế mà tôi phải có mặt ở Rio muộn nhất vào thứ hai.
Tôi hết sức lo lắng. “Có thể có chuyến bay chở hàng. Tôi sẽ đi trên máy bay chở hàng vậy,” tôi nói.
“Thưa giáo sư!” họ nói: “Recife thực sự là cũng rất đẹp. Chúng tôi sẽ đưa ngài đi chơi quanh đây. Sao ngài không thư giãn một chút – ngài đang ở Brazil mà.”
Tối đó tôi dạo bộ trong thành phố, và bắt gặp một đám ít người đang đứng quanh một cái hố hình chữ nhật rất lớn ở trên đường-nó được đào để đặt ống ngầm, hay gì đấy - và dưới đó, một chiếc ô tô đang nằm rất gọn trong hố. Thật kì diệu: nó nằm vừa khít vào cái hố một cách hoàn hảo tuyệt đối, với trần xe ngang thẳng mặt đường. Cuối ngày, công nhân đã không chú ý đặt bất kì biển hiệu chỉ dẫn nào, và anh chàng ấy đã cứ việc lái đúng vào cái hố. Tôi nhận ra một sự khác biệt: khi chúng tôi đào một cái hố, sẽ có đủ loại biển hiệu đường vòng và đèn nhấp nháy để bảo vệ mọi người. Ở đây, họ đào một cái hố, và khi hết ngày làm việc họ bỏ đấy, cứ thế đi về.
Dù sao, Recife là một thành phố đáng yêu và tôi đã đợi đến thứ ba tới để bay đến Rio.
Khi đến Rio tôi đã gặp Cesar Lattes. Truyền hình quốc gia muốn làm vài hình ảnh về cuộc gặp gỡ của chúng tôi, nên họ bắt đầu quay phim, nhưng không hề có thu âm. Anh chàng quay phim nói: “Hãy làm như là các ngài đang trao đổi. Hãy nói gì đó – bất kể cái gì.”
Vì thế Lattes hỏi tôi: “Anh đã tìm được cuốn từ điển ru ngủ nào chưa?”
Tối hôm đó, khán giả truyền hình Brazil nhìn thấy giám đốc Trung tâm nghiên cứu Vật lý chào mừng một giáo sư thỉnh giảng từ Mỹ, nhưng ít có khả năng họ biết rằng chủ đề hội thoại của hai người là tìm một cô gái để qua đêm!
Khi tôi đến trung tâm nghiên cứu, chúng tôi phải quyết định khi nào tôi sẽ đọc các bài giảng – buổi sáng hay buổi chiều.
Lattes nói: “Sinh viên thích buổi chiều.”
“Vậy hãy có bài giảng vào buổi chiều.”
“Nhưng bãi biển lại đẹp vào buổi chiều. Sao anh không đọc bài giảng vào buổi sáng, để có thể thưởng thức bãi biển vào buổi chiều.”
“Nhưng anh đã nói là sinh viên thích có bài giảng vào buổi chiều cơ mà.”
“Không cần bận tâm về chuyện đó. Hãy làm những gì thuận tiện nhất cho anh! Hãy tận hưởng buổi chiều ngoài bãi biển.”
Vậy là tôi đã học được một cách nhìn cuộc sống khác với cách nhìn ở đất nước của tôi. Thứ nhất, họ không vội vã như tôi đã từng như vậy. Và thứ hai, nếu điều đó là tốt hơn cho bạn, thì đừng bận tâm gì nữa! Thế nên tôi đã đọc bài giảng vào buổi sáng và tận hưởng bãi biển vào buổi chiều. Nếu học được bài học đó sớm hơn, thì tôi đã ưu tiên học tiếng Bồ ngay từ đầu, chứ không phải tiếng Tây Ban Nha.
Ban đầu tôi định sẽ đọc bài giảng bằng tiếng Anh, nhưng tôi đã nhận ra một điều: Khi sinh viên giải thích cho tôi vấn đề gì đó bằng tiếng Bồ, tôi không thể hiểu hết, cho dù tôi đã có một vốn tiếng Bồ nhất định. Tôi thấy rất khó xác định chính xác liệu họ nói “Tăng” hay “Giảm”, hay “Không tăng”, hay “Không giảm”, hay “Giảm chậm”. Nhưng khi phải vật lộn với tiếng Anh, họ sẽ nói “Áp” hay “Doon”[4], và tôi biết đó là cái gì, cho dù cách phát âm rất dở và xử lí ngữ pháp rất kém. Vì thế, tôi nghĩ rằng nếu muốn nói chuyện với họ và cố gắng dạy họ, thì tốt hơn là tôi nói bằng tiếng Bồ, dù vốn liếng còn nghèo. Như thế sẽ dễ hiểu hơn cho họ.
Trong chuyến thăm Brazil đầu tiên kéo dài sáu tuần đó, tôi cũng được mời nói chuyện ở Viện hàn lâm Khoa học Brazil về những vấn đề mà tôi mới giải quyết trong lĩnh vực điện động lực học lượng tử. Tôi nghĩ mình sẽ trình bày bằng tiếng Bồ, và hai sinh viên ở trung tâm đã nói là họ sẽ giúp tôi làm điều đó. Tôi bắt đầu bằng việc viết bài nói chuyện với thứ tiếng Bồ quá dở của mình. Tôi tự viết vì nếu hai sinh viên kia viết, thì sẽ có rất nhiều từ mà tôi không biết, nên sẽ không thể phát âm đúng được. Vì vậy tôi viết bài nói chuyện, còn họ chỉnh sửa ngữ pháp, chỉnh sửa từ vựng và làm cho bài viết khá hơn, nhưng vẫn phải ở mức độ mà tôi có thể đọc dễ dàng và ít nhiều biết được mình đang nói gì. Họ tập cho tôi cách phát âm thật đúng: âm “De” phải ở giữa “Deh” và “Day” – nó phải đúng là như vậy.
Tôi đến buổi gặp mặt của Viện hàn lâm Khoa học Brazil. Diễn giả đầu tiên, một nhà hóa học, đứng lên và trình bày báo cáo của mình - bằng tiếng Anh. Phải chăng ông ta đang cố tỏ ra lịch sự, hay vì mục đích gì khác? Tôi không thể hiểu được ông ta nói gì, vì phát âm của ông ấy quá tệ, nhưng có thể những người khác có cùng giọng như thế, nên họ có thể hiểu ông ấy; tôi không biết. Rồi người tiếp theo đứng lên, và trình bày báo cáo của anh ta bằng tiếng Anh!
Đến lượt mình, tôi đứng lên và nói: “Tôi xin lỗi; Tôi không biết rằng ngôn ngữ chính thức của Viện hàn lâm Khoa học Brazil lại là tiếng Anh, nên tôi đã không chuẩn bị báo cáo của mình bằng tiếng Anh.
Vậy xin thứ lỗi, tôi sẽ phải trình bày báo cáo bằng tiếng Bồ”. Thế là tôi đọc bản báo cáo, và mọi người đều rất hài lòng.
Người tiếp theo đứng dậy nói: “Theo gương đồng nghiệp của tôi đến từ Mỹ, tôi cũng sẽ trình bày báo cáo của mình bằng tiếng Bồ.” Thế là, với tất cả những gì tôi biết, tôi đã làm thay đổi truyền thống của ngôn ngữ được sử dụng ở Viện hàn lâm Khoa học Brazil.
Vài năm sau, tôi gặp một người đàn ông đến từ Brazil, ông ấy đã nhắc lại với tôi chính xác những câu mà tôi đã nói khi bắt đầu bài thuyết trình của mình ở Viện hàn lâm. Vậy rõ ràng điều đó đã gây ấn tượng mạnh với họ.
Nhưng ngôn ngữ luôn là vấn đề khó với tôi, và tôi gắng học nó mọi lúc, đọc báo chí, và vân vân. Tôi tiếp tục đọc bài giảng bằng tiếng Bồ – được tôi gọi là “Tiếng Bồ của Feynman”. Tôi biết nó không thể giống tiếng Bồ thực thụ, vì tôi có thể hiểu mình đang nói gì, nhưng không thể hiểu người ta đang nói gì trên phố.
Vì rất thích chuyến đi Brazil đầu tiên ấy, nên một năm sau tôi lại đến đó, lần này ở hẳn mười tháng. Lần này tôi đọc bài giảng ở Đại học Rio, nơi đáng ra phải trả lương cho tôi, nhưng họ đã không bao giờ làm việc đó. Thành thử, Trung tâm (nghiên cứu Vật lý) đã tiếp tục trả cho tôi số tiền mà đáng ra tôi phải được nhận từ trường đại học.
Cuối cùng tôi đã nghỉ lại ở một khách sạn, có tên Miramar, nằm ngay trên bãi biển ở Copacabana. Trong khoảng thời gian ngắn, tôi có một phòng ở tầng mười ba, từ đó có thể nhìn qua cửa sổ thấy biển và quan sát các cô gái trên bãi tắm.
Hóa ra khách sạn này là nơi các phi công và nữ tiếp viên của hãng hàng không Pan American vẫn nghỉ mỗi khi họ “Dừng chân”[5] – một thuật ngữ luôn làm tôi băn khoăn một chút. Phòng của họ luôn ở tầng tư, và đêm khuya thường có những trò vụng trộm ngượng ngùng lên xuống ở trong thang máy.
Một lần, tôi phải đi xa trong vài tuần. Khi tôi quay về, người quản lý thông báo rằng anh ta đã buộc phải chuyển phòng của tôi cho một người khác, vì khi ấy đó là phòng trống cuối cùng có thể dùng được, và rằng anh ta chuyển đồ đạc của tôi sang một phòng mới. Phòng này ở sát trên nhà bếp và mọi người thường không ở lại đó trong thời gian dài. Người phục vụ hẳn phải hiểu rằng tôi là người duy nhất có thể thấy rõ và thấy đầy đủ những lợi thế của căn phòng đó để tôi có thể chịu đựng đủ loại mùi mà không phàn nàn gì. Tôi đã không phàn nàn gì cả: phòng đó ở tầng bốn, gần các cô tiếp viên hàng không. Nó đã cứu vãn rất nhiều rắc rối.
Những người trong ngành hàng không có phần chán cuộc sống của họ, lạ thật, nên buổi tối họ thường đến bar uống rượu. Tôi thích tất cả bọn họ, và để hòa nhập tôi thường đi cùng họ đến bar làm mấy cốc, vài đêm mỗi tuần.
Một hôm, khoảng 3 giờ rưỡi chiều, tôi thả bộ dọc theo vỉa hè đối diện với bãi tắm ở Copacabana, đi qua một quán bar. Trong tôi đột ngột xuất hiện cái cảm giác mãnh liệt này: “Đó chính là cái tôi muốn; sẽ thoả mãn liền. Tôi chỉ thèm có một cốc ngay bây giờ!”
Tôi bắt đầu bước vào quán bar, nhưng đột nhiên tự nhủ: “Chờ một chút! Bây giờ đang là giữa chiều. Chẳng có ai ở đây cả. Chẳng có lý do gì để uống cả. Vì sao mình lại có cảm giác mãnh liệt cần phải uống như vậy?” – và tôi thấy hoang mang.
Từ đó trở đi tôi không bao giờ uống rượu nữa. Tôi cho là mình thực ra vẫn chưa ở mức nguy hiểm, vì vẫn rất dễ để dừng lại. Nhưng cái cảm giác mạnh mẽ mà tôi không hiểu được ấy đã làm tôi sợ hãi. Bạn thấy đấy, cái nực cười như thế nảy sinh trong tôi, vượt khỏi ý thức về việc mình không muốn phá hủy cái bộ máy dễ chịu nhất này, cái làm cho cuộc sống thành niềm vui lớn lao biết bao. Sau này, cũng vì lý do đó, tôi đã rất miễn cưỡng chấp nhận thử những thí nghiệm với LSD mặc dù tôi rất tò mò về ảo giác.
Gần cuối của cái năm làm việc ở Brazil ấy, tôi đã đưa một trong số các cô tiếp viên hàng không – một cô gái rất đáng yêu có những bím tóc – đi thăm bảo tàng. Khi chúng tôi đi qua khu vực về Ai Cập, tôi đã phát hiện ra là mình đang nói với cô ấy những thứ đại loại như: “Những cái cánh trên cái quách đó có nghĩa thế này-và-thế này, và họ thường để nội tạng trong những lọ hoa này, và ở quanh góc kia thì phải là cái này cái kia…” và tôi thầm nghĩ: “Mày có biết mày đã học tất cả những thứ này từ đâu không? Từ Mary Lou” – và tôi thấy nhớ cô ấy.
Tôi gặp mary Lou ở Cornell và sau này, khi đến Pasadena, tôi phát hiện ra là cô ấy cũng đã chuyển đến Westwood ở gần đó. Có một thời gian tôi đã thích cô ấy, nhưng chúng tôi thường cãi vã đôi chút. Cuối cùng chúng tôi quyết định là không còn hy vọng gì nữa và đã chia tay. Nhưng sau một năm tháp tùng các cô tiếp viên hàng không này và thực tế là chẳng đi đến đâu, tôi đã thất vọng. Vì vậy khi kể với cô gái này về tất cả những thứ đó, tôi nghĩ Mary Lou thực sự là rất tuyệt, và chúng tôi lẽ ra không nên có tất cả những tranh cãi đó.
Tôi đã viết một lá thư cho cô ấy và cầu hôn. Những người giàu kinh nghiệm có thể nói với tôi rằng điều đó là nguy hiểm: Khi bạn ở xa mà bạn chẳng có gì ngoài tờ giấy, và bạn cảm thấy cô đơn, thì bạn sẽ nhớ tất cả những điều tốt đẹp và bạn không thể nhớ được lý do của những cuộc tranh cãi đó. Và việc đó đã chẳng tiến triển gì. Những cuộc tranh cãi bắt đầu lại ngay lập tức, và cuộc hôn nhân đó chỉ kéo dài trong hai năm.
Có một người đàn ông ở Đại sứ quán Mỹ biết tôi thích nhạc samba. Tôi nhớ là mình đã nói điều đó với anh ấy khi tôi thăm Brazil lần đầu. Tôi đã nghe một ban nhạc samba chơi trên phố và tôi muốn học thêm về âm nhạc Brazil.
Anh ấy cho biết có một nhóm nhỏ, tên là regional, tập luyện ở căn hộ của anh ấy hàng tuần và tôi có thể đến nghe họ chơi nhạc.
Họ có ba hay bốn người - một là người trông coi khu nhà đó – và họ chơi loại nhạc khá là êm ả ở ngay căn hộ của anh ấy; họ không có nơi nào khác để chơi cả. Một người có cái trống lục lạc[6] mà họ gọi là Pandeiro, người khác có một cái ghi-ta nhỏ. Tôi luôn nghe thấy tiếng trống từ đâu đó, nhưng chẳng có cái trống nào! Cuối cùng tôi biết được đó là cái trống lục lạc mà anh chàng kia đang chơi theo một cách rất phức tạp, vặn cổ tay của anh ấy và gõ da trống bằng ngón tay cái. Tôi thấy cách chơi đó thật thú vị, và tôi đã học được ít nhiều cách chơi pandeiro.
Rồi mùa lễ hội hóa trang đang đến đâu đây. Vào mùa đó các bản nhạc mới sẽ được trình diễn. Không phải khi nào họ cũng tung ra các bản nhạc và băng ghi âm mới; họ tung chúng tất cả ra trong thời gian lễ hội hóa trang, và điều đó quả là rất phấn khích.
Hóa ra người trông coi khu nhà đó lại là người soạn nhạc cho một “Trường”[7] samba nhỏ ở bãi biển Copacabana – không phải “Trường” theo nghĩa giáo dục, mà mang nghĩa của cá - từ bãi biển Copacabana – “Trường” này mang tên Farçantes de Copacabana, có nghĩa là “Những kẻ lừa đảo từ Capacabana”, một cái tên rất hợp với tôi, và anh ấy đã mời tôi tham gia.
Khi ấy trường samba này là nơi những người từ Favelas – khu vực nghèo khổ của thành phố – thường đến và gặp gỡ ở phía sau một công trường xây dựng, nơi một số nhà căn hộ đang được xây lên, để tập luyện bản nhạc mới cho lễ hội hóa trang.
Tôi chọn chơi một thứ gọi là frigideira, đó là một cái chảo rán đồ chơi bằng kim loại, đường kính khoảng 15cm, với một cái que kim loại nhỏ để gõ. Nó là một nhạc cụ đệm, tạo ra âm thanh leng keng rất nhanh. Âm thanh này hòa với nhịp điệu và nhạc samba chủ đạo, và làm cho nó đầy đặn hơn. Tôi đã cố gắng chơi dụng cụ này và mọi việc diễn ra khá ổn. Chúng tôi đang luyện tập, âm nhạc trầm lắng, và chúng tôi đang như trôi đi êm ru, thì bất thình lình người phụ trách phần bateria, một anh chàng da đen to lớn, hét to: “Dừng lại! Chờ, chờ – chờ một phút!” mọi người dừng lại. “Có điều gì không ổn với frigideiras!” anh ta nói oang oang. “O Americano, outra vez!” (Lại là tay người Mỹ!)
Vì thế tôi cảm thấy không dễ chịu lắm. Tôi luyện tập suốt. Tôi thường đi dọc bãi biển, cầm hai cái que mà tôi nhặt được, tập vặn xoay cổ tay, tập luyện, tập luyện, và tập luyện. Tôi liên tục tập luyện, nhưng luôn cảm thấy kém cỏi, rằng mình đang làm phiền mọi người, và thực sự là không bắt kịp được.
Cuối cùng, thời gian lễ hội hóa trang đang đến gần. Một buổi tối có cuộc trao đổi giữa người chỉ huy ban nhạc và một người khác, và rồi người chỉ huy bắt đầu đi quanh, chọn một số người: “Cậu!” anh ta nói với người thổi trompet. “Cậu!” anh ta nói với một ca sĩ. “Cậu!” – và anh ta chỉ vào tôi. Tôi nghĩ là chúng tôi đã bị loại. Anh ta nói: “Ra phía trước!”
Chúng tôi đi ra phía trước của công trường xây dựng – năm hoặc sáu người chúng tôi – và thấy một chiếc xe Cadillac cũ kỹ, mui đang hạ xuống. “Lên xe!” người chỉ huy nói.
Không có đủ chỗ cho tất cả bọn tôi, nên vài người phải ngồi ở phía sau. Tôi nói với anh chàng bên cạnh: “Anh ấy làm gì vậy – anh ấy loại chúng ta phải không?”
“Não sei, não sei.” ( “Tôi không biết.”)
Chúng tôi rời đường lớn, leo lên một con đường nhỏ, nó kết thúc ở mép của một vách đá nhìn ra biển. Xe dừng lại và người chỉ huy nói: “Xuống xe!” - rồi họ dẫn chúng tôi lên ngay mép của vách đá!
Và không chút nghi ngại, anh ta nói: “Bây giờ xếp thành hàng đi! Cậu đầu tiên, cậu tiếp theo, cậu tiếp theo nữa! Bắt đầu chơi! Bây giờ đều bước!”
Chúng tôi hẳn đã bước qua mép của vách đá nếu không có một lối mòn dốc xuống phía dưới. Vì vậy nhóm nhỏ chúng tôi – người chơi trumpet, ca sĩ, tay ghi-ta, tay chơi pandeiro, và tay chơi frigideira – đi xuống lối mòn - tới một bữa tiệc ngoài trời ở trong rừng. Hóa ra, chúng tôi đã được chọn ra không phải vì người chỉ huy muốn tống khứ chúng tôi đi, mà anh ấy đưa chúng tôi đến bữa tiệc riêng này: họ muốn có nhạc samba. Và sau đó, người chỉ huy sẽ nhận tiền để trang trải cho một số trang phục của ban nhạc.
Sau lần đó tôi cảm thấy dễ chịu hơn một chút, vì tôi thấy khi chỉ huy chọn một người chơi frigideira thì anh ấy chọn tôi!
Một chuyện khác xảy ra làm tôi tự tin hơn. Một thời gian sau, có một anh chàng đến từ một trường samba khác, ở Leblon, một bãi biển xa hơn. Anh ta muốn gia nhập trường của chúng tôi. Sếp nói: “Cậu từ đâu đến?”
“Leblon.”
“Cậu chơi gì?”
“Frigideira.”
“OK. Hãy cho tôi nghe cậu chơi frigideira thế nào.”
Thế là anh chàng này cầm lấy frigideira cùng cái que kim loại của anh ta và… “brrra-dup-dup; chick-a-chick”. Chà! Tuyệt vời!
Sếp nói với anh ta: “Cậu đi ra chỗ kia đứng cạnh anh chàng người Mỹ, và cậu sẽ học được cách chơi frigideira!”
Lý giải của tôi là chuyện này giống như những người nói tiếng Pháp đến Mỹ. Thoạt đầu họ mắc đủ kiểu lỗi, và bạn khó mà hiểu được họ nói gì. Sau đó, họ liên tục luyện tập cho đến khi nói được khá tốt, rồi bạn nhận ra một sự uốn lượn du dương trong cách nói của họ – giọng của họ rất đáng yêu và bạn thích nghe. Vì thế tôi chắc phải có một kiểu giọng nào đó khi chơi frigideira, bởi lẽ tôi không thể nào sánh được với những anh chàng này, những người đã chơi nó suốt cả cuộc đời. Đó chắc hẳn là một kiểu giọng ngớ ngẩn nào đó. Nhưng cho dù đó là cái gì thì tôi cũng đã trở thành một tay frigideira khá điệu nghệ. Một hôm, rất gần tới lễ hội hóa trang, người chỉ huy của trường samba nói với chúng tôi: “Được, chúng ta sẽ tập diễu hành trên phố.”
Tất cả chúng tôi đi ra khỏi khu vực công trường xây dựng để ra phố đang chật cứng các phương tiện giao thông. Những đường phố của Capacabana luôn luôn cực kỳ hỗn loạn. Tin hay không thì tùy, có một tuyến xe đẩy tay, ở đó những cái xe đẩy đi theo một chiều, còn ô tô chạy theo chiều ngược lại. Đó lại là giờ cao điểm ở Capacabana, và chúng tôi chuẩn bị diễu hành ở giữa đại lộ Atlantica.
Tôi nghĩ thầm: “Lạy Chúa! Sếp không có bằng lái, anh ấy không thoả thuận với cảnh sát. Anh ấy đã chẳng làm gì hết. Anh ấy quyết định là mọi người cứ thế đi thẳng ra.”
Thế là chúng tôi bắt đầu bước ra phố, và mọi người, khắp xung quanh, đều phấn khích. Một số người xem đã tình nguyện lấy một sợi dây và quây một hình vuông lớn quanh ban nhạc của chúng tôi, nhờ thế khách bộ hành không bước xuyên qua hàng của chúng tôi. Người ta bắt đầu nghiêng người qua cửa sổ. Mọi người đều muốn nghe điệu samba mới. Thật phấn chấn!
Ngay khi chúng tôi bắt đầu diễu hành, tôi đã nhìn thấy một cảnh sát ở phía cuối đường. Anh ta ngó nhìn xem cái gì đang diễn ra và bắt đầu phân luồng giao thông! Tất cả đều tuỳ tiện. Chẳng ai tổ chức sắp xếp gì, thế mà mọi thứ vẫn ổn. Người ta giữ những sợi dây bao quanh chúng tôi, viên cảnh sát phân luồng giao thông, khách bộ hành xúm lại và giao thông thì tắc nghẽn, nhưng chúng tôi vẫn đi rất tuyệt! Chúng tôi đi dọc phố, vòng các góc, và đi khắp cái thành phố Capacabana lộn xộn ấy một cách ngẫu nhiên!
Cuối cùng, chúng tôi dừng lại ở một quảng trường nhỏ phía trước một căn hộ nơi mẹ của sếp đang sống. Chúng tôi đứng ở đó, chơi nhạc, thế là mẹ, rồi dì của sếp, và vân vân… Đi xuống. Họ vẫn còn mang tạp dề; họ đang làm việc trong nhà bếp, và bạn có thể thấy sự phấn khích của họ – họ gần như bật khóc. Thực sự là rất đẹp khi làm một việc đầy tính nhân văn như vậy. Và người ta tất cả nhoài người ra ngoài cửa sổ – thật tuyệt! Nhớ lại lần thăm Brazil trước, tôi đã nhìn thấy một trong những ban nhạc samba như thế này - Tôi đã yêu thích âm nhạc đến nhường nào và gần như phát cuồng lên với nó – còn bây giờ tôi đang là một phần trong nó!
À mà, khi đang diễu hành lòng vòng các phố của Capacabana ngày hôm đó, tôi đã nhìn thấy hai phụ nữ trẻ của đại sứ quán giữa một nhóm người trên vỉa hè. Tuần sau, tôi nhận được một bức thư từ đại sứ quán nói rằng: “Việc anh đang làm là rất quan trọng, chậc, chậc, chậc,..” làm như thể mục đích của tôi là cải thiện quan hệ giữa Mỹ và Brazil! Vì thế, việc tôi đang làm đúng là “Quan trọng.”
Thật ra, khi đến những buổi tập luyện này, tôi không muốn mặc những bộ quần áo bình thường mà tôi mặc đến trường đại học. Những người trong ban nhạc đều rất nghèo; họ chỉ có những bộ quần áo cũ rách nát. Vì thế, tôi mặc một cái áo lót cũ, cái quần lửng cũ, và vân vân, nên tôi nhìn không quá khác biệt. Nhưng, như thế thì tôi lại không thể đi ra từ cái khách sạn sang trọng của mình trên đại lộ Atlantica ở bãi biển Copacabana qua lối hành lang chính. Thế là, tôi luôn phải lấy thang máy đến tận dưới cùng và đi ra qua tầng hầm.
Một thời gian rất ngắn trước lễ hội hóa trang, đã diễn ra một cuộc thi đặc biệt giữa các trường samba của các bãi biển – Copacabana, Ipanema, và Leblon; có ba hoặc bốn trường, trong đó có chúng tôi. Với y phục biểu diễn, chúng tôi diễu hành xuôi đại lộ Atlantica. Tôi cảm thấy hơi bất tiện khi diễu hành với một trong những bộ y phục hóa trang lạ lùng này, vì tôi không phải là một người Brazil. Nhưng chúng tôi được cho là ăn mặc như những người Hy Lạp, nên tôi thấy là mình cũng giống người Hy Lạp như những bạn diễn khác.
Vào ngày thi đấu, khi tôi đang ăn ở phòng ăn của khách sạn, thì trưởng phục vụ bàn, người hay nhìn thấy tôi vỗ vỗ lên bàn mỗi khi có nhạc samba, đi đến chỗ tôi và nói: “Ngài Feynman, tối nay sẽ có một sự kiện mà ngài sẽ rất thích đấy! Đó là Tipico Brasileiro – điển hình Brazil: Sẽ có diễu hành của các trường samba ngay trước khách sạn! Và âm nhạc rất tuyệt – ngài nên nghe.”
Tôi nói: “Thế à, nhưng tối nay tôi lại bận. Tôi không biết liệu mình có thể đi xem không.”
“Ồ! Nhưng ngài rất thích nó cơ mà! Ngài không nên bỏ lỡ dịp này! Đây là Tipico Brasileiro!”
Anh ấy hết sức nài nỉ, nhưng bởi vì tôi vẫn cứ nói với anh ta rằng tôi không nghĩ là mình sẽ ở đó để xem lễ hội, anh ấy tỏ vẻ thất vọng.
Tối hôm ấy, tôi lại mặc bộ quần áo cũ và đi xuống qua tầng hầm, như thường lệ. Chúng tôi mặc y phục lễ hội ở chỗ công trường xây dựng và bắt đầu diễu hành xuôi đại lộ Atlantica: hàng trăm người Hy Lạp Brazil trong những trang phục bằng giấy, và tôi đi phía sau, chơi frigideira.
Người ta tụ tập thành những đám lớn dọc hai bên đại lộ; mọi người vươn ra ngoài cửa sổ, và chúng tôi đang đến gần khách sạn Miramar, nơi tôi đang ở. Người ta đứng trên bàn, trên ghế, và có rất rất nhiều đám đông người. Chúng tôi chơi cùng nhau, rất đều đặn, khi ban nhạc của chúng tôi bắt đầu đi qua phía trước khách sạn. Đột nhiên, tôi nhìn thấy một trong những người phục vụ nhô lên cao, chỉ tay, và xuyên qua tất cả những tiếng ồn ào đó, tôi có thể nghe anh ta hét lên: “Ngài giáo sư!” Thế là trưởng đội phục vụ đã hiểu được vì sao tôi không thể ở đó buổi tối hôm ấy để xem cuộc thi – tôi đã ở trong cuộc thi đó!
Hôm sau tôi nhìn thấy một quý cô mà tôi biết do đã gặp suốt trên bãi biển. Cô ấy có một căn hộ nhìn ra đại lộ. Cô đã mời vài người bạn đến đó xem cuộc diễu hành của các trường samba, và khi chúng tôi đi qua, một trong những người bạn của cô ấy đã thốt lên: “Hãy nghe anh chàng ấy chơi frigideira – anh ta chơi thật tuyệt!” Tôi đã thành công! Tôi rất sung sướng với thành công về điều gì đó, mà tôi được cho là không có khả năng làm.
Đến lễ hội hóa trang thì không có nhiều người của trường chúng tôi tham dự. Có một số y phục đặc biệt, được làm ra chỉ cho dịp này, nhưng không đủ người. Có thể họ nghĩ là chúng tôi không thể thắng được những đội samba lớn thực thụ đến từ thành phố. Tôi không biết. Tôi nghĩ chúng tôi đã làm việc ngày này qua ngày khác, luyện tập và diễu hành chuẩn bị cho lễ hội hóa trang, thế mà khi lễ hội đến thì rất nhiều người của ban nhạc đã không xuất hiện, và chúng tôi đã thi đấu không tốt. Thậm chí là khi chúng tôi đang diễu hành trên phố, một số người đã lạc đâu mất. Một kết cục buồn cười! Tôi không bao giờ hiểu rõ được điều đó, nhưng có lẽ niềm vui và hứng thú trọng yếu là cố gắng chiến thắng trong cuộc thi giữa các bãi biển, mà hầu hết mọi người cảm thấy hợp với sức mình. Và, à mà, chúng tôi đã thắng.
Trong chuyến viếng thăm Brazil mười tháng ấy, tôi đã quan tâm đến các mức năng lượng của những hạt nhân nhẹ. Tôi phát triển tất cả lý thuyết cho vấn đề đó trong phòng khách sạn của mình, nhưng tôi muốn kiểm tra xem số liệu thực nghiệm là như thế nào. Đây là vấn đề mới và đang được các chuyên gia của Caltech tiến hành nghiên cứu ở phòng thí nghiệm Kellogg. Vì thế, tôi đã liên lạc với họ - định trước thời gian - bằng một radio nghiệp dư. Tôi tìm được một người chơi radio nghiệp dư ở Brazil, và khoảng mỗi tuần một lần tôi đến nhà anh ấy. Anh ấy kết nối với một người chơi radio nghiệp dư ở Pasadena, và vì việc này có gì đó hơi không hợp pháp, nên anh ấy đã cho tôi mấy chữ cái dùng làm tên để giao lưu và nói: “Bây giờ tôi sẽ chuyển anh cho WKWX, người đang ngồi cạnh tôi và là người muốn nói chuyện với anh.”
Thế nên tôi nói: “Đây là WKWX. Anh có thể cho tôi biết khoảng cách giữa các mức năng lượng xác định của boron mà tuần trước chúng ta đã nói đến không,” và vân vân. Tôi dùng số liệu thực nghiệm đó để điều chỉnh các hằng số và kiểm tra xem mình đi có đúng hướng không.
Anh chàng chơi radio, mà tôi quen đầu tiên này, đi nghỉ, nhưng anh ấy đã giới thiệu tôi đến một người chơi radio nghiệp dư khác. Anh chàng thứ hai này bị mù và điều khiển trạm radio của mình. Cả hai người đều rất tốt bụng, và mối liên lạc mà tôi có với Caltech nhờ radio nghiệp dư là rất hiệu quả và hữu ích cho tôi.
Về vật lý, tôi đã xây dựng một lý thuyết khá hay và tinh tế. Sau này, lý thuyết đó đã được những người khác phát triển và kiểm tra. Tuy nhiên, tôi thấy là lý thuyết có quá nhiều tham số mà tôi phải điều chỉnh – quá nhiều “Điều chỉnh mang tính hiện tượng luận của các hằng số” để làm cho mọi thứ phù hợp – điều làm tôi không chắc lý thuyết ấy là hữu ích lắm. Tôi muốn hiểu sâu sắc hơn về hạt nhân nguyên tử. Tôi đã chưa bao giờ thực sự tin rằng lý thuyết đó là rất quan trọng, nên đã chẳng hề động đến nó nữa.
Về giáo dục ở Brazil, tôi đã có một trải nghiệm cực kỳ thú vị. Tôi dạy một nhóm sinh viên, những người mà cuối cùng sẽ trở thành giáo viên, vì vào thời đó ở Brazil không có nhiều cơ hội cho những người được đào tạo cao về khoa học. Những sinh viên này đã học nhiều môn, và môn của tôi là môn học nâng cao nhất của họ về điện và từ - các phương trình Maxwell, và vân vân.
Trường đại học nằm ở nhiều tòa nhà rải rác khắp thành phố và tôi dạy môn của mình ở một tòa nhà nhìn thẳng ra vịnh.
Tôi khám phá ra một hiện tượng rất lạ: tôi có thể hỏi một câu và sinh viên có thể trả lời ngay lập tức. Nhưng ở lần tiếp theo, tôi hỏi lại câu đó - cùng chủ đề và cùng câu hỏi, thì ở chừng mực mà tôi có thể nói – họ lại hoàn toàn không trả lời được! Chẳng hạn, một lần, tôi nói về ánh sáng phân cực và đưa cho họ mấy mẫu phân cực (polaroid[8]). Polaroid chỉ cho ánh sáng với véc-tơ điện trường nằm theo một phương nhất định đi qua, vì thế tôi giải thích làm thế nào bạn có thể xác định phương phân cực của ánh sáng bằng cách xem polaroid là sáng hay tối.
Đầu tiên chúng tôi lấy hai mẫu polaroid và quay chúng cho tới khi chúng cho hầu hết ánh sáng đi qua. Bằng cách đó, chúng ta có thể nói rằng lúc ấy hai mẫu nhận ánh sáng phân cực theo cùng một phương – ánh sáng nào đi qua một mẫu polaroid cũng có thể đi qua mẫu kia. Sau đó tôi hỏi họ làm thế nào người ta có thể biết phương phân cực tuyệt đối từ một mẫu polaroid đơn lẻ.
Họ chẳng có ý tưởng nào cả.
Tôi biết câu hỏi này đòi hỏi một sự khôn khéo nhất định, nên tôi gợi ý: “Hãy nhìn ánh sáng phản xạ từ cái vịnh ngoài kia.”
Không ai nói gì.
Rồi tôi nói: “Thế các bạn đã bao giờ nghe về góc Brewster?”
“Có, thưa thầy! Góc Brewster là góc mà khi ánh sáng phản xạ dưới góc đó từ một môi trường chiết quang (với một chiết suất nhất định) thì sẽ bị phân cực hoàn toàn.”
“Thế ánh sáng phân cực theo phương nào khi nó bị phản xạ?”
“Thưa thầy, ánh sáng phân cực theo phương vuông góc với mặt phẳng phản xạ.” Thậm chí bây giờ tôi vẫn còn nghĩ về việc ấy. Họ biết điều đó. Họ thậm chí còn biết tang của góc đó bằng chiết suất!
Tôi nói: “Vậy thì.”
Vẫn chẳng có câu trả lời nào. Họ vừa nói với tôi rằng ánh sáng phản xạ từ một môi trường chiết quang, như từ cái vịnh ngoài kia, thì bị phân cực. Họ thậm chí đã nói với tôi là nó phân cực theo phương nào.
Tôi nói: “Hãy nhìn ra vịnh, qua mẫu polaroid. Bây giờ hãy quay mẫu.”
“Ồ, nó đã phân cực!” họ nói.
Sau rất nhiều tìm hiểu, cuối cùng tôi vỡ ra là sinh viên đã học thuộc lòng mọi thứ, nhưng họ không biết chúng có nghĩa gì. Khi họ nghe “Ánh sáng mà nó phản xạ từ một môi trường chiết quang” thì họ không biết rằng môi trường đó là một môi trường vật chất như nước chẳng hạn. Họ không biết rằng “Phương của ánh sáng” là phương mà bạn nhìn thấy một vật nào đó khi bạn nhìn vào nó, và vân vân. Tất cả mọi thứ đều được nhớ hoàn toàn máy móc, chẳng có cái gì được chuyển đổi thành những từ có nghĩa. Vì thế nếu tôi hỏi: “Góc Brewster là gì?” thì nghĩa là tôi đang tra cứu trên máy tính với một từ khóa chính xác. Nhưng nếu tôi nói: “Hãy nhìn vào mặt nước” thì sẽ không có gì xảy ra – họ chẳng có gì ở dưới từ khóa “Hãy nhìn vào mặt nước!”
Về sau tôi đã tham dự một buổi giảng ở một trường kỹ thuật. Buổi giảng đó diễn ra như thế này, dịch ra tiếng Anh: “Hai vật… Được coi là tương đương… Nếu các mô men xoắn bằng nhau… Sẽ tạo ra… Gia tốc bằng nhau. Hai vật, được coi là tương đương, nếu các mô men xoắn bằng nhau, sẽ tạo ra gia tốc bằng nhau”. Tất cả sinh viên ngồi ở đấy chép chính tả, và khi giáo sư nhắc lại câu đó, họ kiểm tra nó để chắc chắn là mình đã chép đúng. Rồi họ chép câu tiếp theo, và cứ như thế. Tôi là người duy nhất biết là vị giáo sư đang nói về hai vật có cùng mô-men quán tính, và khó để mường tượng ra điều đó.
Tôi không thấy làm thế nào sinh viên có thể học được điều gì đó bằng cách ấy. Vị giáo sư ở đây nói về mô-men quán tính, mà không hề có bình luận nào về việc nếu đặt các tải trọng ở mép ngoài của cánh cửa thì cửa sẽ khó mở hơn so với trường hợp tải trọng được đặt ở sát bản lề – không gì cả!
Sau bài giảng, tôi nói với một sinh viên: “Em ghi chép tất cả những thứ đó - em làm gì với chúng?”
“Ồ, chúng em học các bài ghi chép ấy” cậu ta nói. “Chúng em sẽ phải thi mà.”
“Thi sẽ như thế nào?”
“Rất dễ ạ, em có thể nói với thầy ngay bây giờ một trong các câu hỏi.” Cậu ta nhìn vào vở ghi của mình và nói: ” ‘Khi nào thì hai vật là tương đương?’ Và câu trả lời là, ‘hai vật được xem là tương đương nếu các mô men xoắn bằng nhau sẽ tạo ra gia tốc bằng nhau’.” Vì vậy, như bạn thấy đấy, họ có thể vượt qua các kỳ thi, và “Học” tất cả những thứ này, mà chẳng biết gì cả, ngoại trừ những thứ họ đã thuộc lòng.
Sau đó tôi đã đến xem kỳ thi tuyển sinh viên vào một trường kỹ thuật. Đó là kỳ thi vấn đáp và tôi được phép ngồi nghe. Có một học sinh thực sự siêu: cậu ta trả lời rất tốt tất cả các câu hỏi. Các giám khảo hỏi cậu ấy thuận từ là gì và cậu ta trả lời hoàn hảo. Rồi họ hỏi: “Khi ánh sáng đi qua một tấm vật liệu với độ dày xác định và chiết suất xác định n dưới một góc nào đó thì điều gì xảy ra với ánh sáng ấy?”
“Thưa thầy, nó sẽ đi ra theo hướng song song với chính nó nhưng bị dịch đi.”
“Thế nó bị dịch đi bao nhiêu?”
“Thưa thầy, em không biết, nhưng em có thể tìm ra nó.” Và cậu ấy đã tìm ra nó. Em này rất giỏi. Nhưng ngay lúc ấy tôi đã cảm thấy ngờ ngợ.
Sau buổi thi, tôi tới gặp chàng trai trẻ thông minh này, và giải thích với cậu ấy rằng tôi đến từ nước Mỹ, và rằng tôi muốn hỏi cậu ấy vài câu hỏi mà trong bất kỳ trường hợp nào việc này cũng không ảnh hưởng đến kết quả thi của cậu ta. Câu đầu tiên tôi hỏi là: “Em có thể cho tôi biết vài ví dụ của chất thuận từ?”
“Em không biết ạ.”
Rồi tôi hỏi tiếp: “Giả sử cuốn sách này được làm bằng thủy tinh và tôi nhìn xuyên qua nó vào một vật trên mặt bàn, thì điều gì sẽ xảy ra với ảnh của vật đó nếu tôi nghiêng cuốn sách thủy tinh này đi?”
“Thưa thầy, nó sẽ bị chệch đi một góc bằng hai lần góc mà thầy đã quay cuốn sách.”
Tôi nói: “Em không lẫn lộn nó với một cái gương đấy chứ?”
“Thưa thầy không ạ.”
Cậu ấy vừa mới nói trong lúc trả lời bài thi rằng ánh sáng bị dịch chuyển song song với chính nó, và do đó ảnh sẽ bị dịch về một phía chứ chẳng thể bị quay một góc nào cả. Cậu ấy thậm chí đã tìm ra nó sẽ bị dịch chuyển bao nhiêu, nhưng cậu ta lại không nhận ra rằng một tấm thủy tinh là một vật liệu chiết quang, và rằng tính toán của mình áp dụng được cho câu hỏi của tôi.
Tôi đã dạy môn phương pháp toán học trong vật lý ở trường kỹ thuật này. Trong môn này, tôi đã thử trình bày cách giải các bài toán bằng phương pháp phương sai (trial and error). Thường thì người ta không học phương pháp này, nên tôi đã bắt đầu bằng một số ví dụ đơn giản trong số học để minh họa phương pháp. Tôi đã ngạc nhiên vì chỉ có khoảng tám trong số cỡ tám mươi sinh viên nộp bài tập về nhà đầu tiên. Vì thế, tôi đã nhắc nhở nghiêm khắc rằng phải thực sự cố gắng làm bài tập chứ không chỉ ngồi thoải mái và nhìn tôi làm.
Sau bài giảng một số sinh viên làm thành một đoàn đại diện nho nhỏ đến gặp tôi và nói rằng tôi không hiểu nền tảng cơ bản của họ, rằng họ có thể học mà không cần làm bài tập, rằng họ đã học môn số học, và rằng chủ đề này là dưới tầm họ.
Tôi tiếp tục dạy lớp đó, và bất kể bài tập trở nên phức tạp hay đã được nâng cao một cách rõ ràng như thế nào, sinh viên chẳng bao giờ thèm ngó ngàng đến. Tất nhiên, tôi nhận ra vấn đề là ở chỗ: họ không thể làm được!
Một việc khác mà tôi không bao giờ có thể khiến họ làm được, đó là việc đặt câu hỏi. Cuối cùng thì một sinh viên cũng giải thích cho tôi điều này: “Nếu em hỏi thầy một câu trong giờ giảng, thì sau đó mọi người sẽ bảo em là ‘Vì sao cậu làm phí thời gian của chúng tớ ở trên lớp? Chúng tớ đang gắng học cái gì đó, thế mà cậu lại hỏi làm thầy dừng lại’.”
Đó là một kiểu chơi trội mà chẳng ai biết điều gì đang diễn ra, thế mà họ hạ thấp người khác bằng cách làm như là họ đã biết rồi. Tất cả họ mạo nhận là mình biết, và nếu một sinh viên thừa nhận trong một tíc tắc rằng có điều gì đó khó hiểu bằng cách nêu lên một câu hỏi, thì những người khác sẽ tỏ thái độ cửa quyền, làm như thể chẳng có gì khó hiểu cả, và nói với sinh viên đó rằng anh ta đang làm mất thời gian của họ.
Tôi giải thích việc cùng nhau học, việc thảo luận các câu hỏi, việc tranh cãi là có lợi như thế nào, nhưng họ vẫn không làm điều đó, vì họ sẽ cảm thấy mất mặt nếu phải hỏi người khác. Thật là đáng tiếc! Tất cả công việc họ đã làm, những con người thông minh, nhưng họ lại để mình rơi vào cái trạng thái tâm lý buồn cười này, cái kiểu giáo dục “Tự truyền bá” kỳ lạ này, mà nó là vô nghĩa, hoàn toàn vô nghĩa!
Vào cuối năm học, sinh viên đề nghị tôi trình bày một bài nói chuyện về kinh nghiệm giảng dạy của tôi ở Brazil. Trong buổi nói chuyện đó không chỉ có các sinh viên, mà còn có cả các giáo sư và quan chức chính phủ nữa, vì thế tôi yêu cầu họ đồng ý để tôi có thể nói bất kỳ điều gì tôi muốn. Họ nói: “Tất nhiên, hẳn rồi. Đây là một đất nước tự do.”
Vậy là, tôi bước vào, mang theo một cuốn giáo trình vật lý cơ sở, mà họ vẫn dùng ở năm thứ nhất của đại học. Họ nghĩ rằng cuốn sách này rất hữu ích vì nó có các kiểu chữ khác nhau – đen đậm cho những điều quan trọng nhất cần phải nhớ, nhạt hơn cho những điều ít quan trọng hơn, và vân vân.
Ngay lập tức, một người nói: “Ngài không định nói điều gì xấu về cuốn sách đó chứ? Tác giả của cuốn sách cũng đang ở đây, và ai cũng nghĩ đây là một giáo trình tốt.”
“Các vị đã hứa là tôi có thể nói điều gì tôi muốn.”
Hội trường đã kín chỗ. Tôi bắt đầu bằng định nghĩa khoa học như là sự hiểu biết về vận động của tự nhiên. Sau đó tôi hỏi: “Vậy, lý do chính đáng của việc giảng dạy khoa học là gì? Tất nhiên, một đất nước không thể tự xem mình là văn minh trừ khi… Này, này, này.” Tất cả ngồi đó gật gù, vì tôi biết đó là cách thức suy nghĩ của họ.
Rồi tôi nói: “Tất nhiên, điều đó là vô lý, bởi tại sao chúng ta lại cảm thấy mình phải chạy theo quốc gia khác? Chúng ta cần làm điều ấy vì một lý do chính đáng, một lý do sáng suốt, chứ không phải chỉ vì các nước khác làm.” Sau đó tôi nói về những lợi ích của khoa học, và những đóng góp của nó cho việc cải thiện điều kiện sống của con người - tất cả những điều như thế. Tôi thực sự đã trêu chọc họ một chút.
Tôi nói tiếp: “Mục đích chính của bài nói chuyện này là chứng tỏ với các bạn rằng không có khoa học nào đang được giảng dạy ở Brazil cả.”
Tôi có thể nhìn thấy họ không bằng lòng và nghĩ: “Gì cơ? Không có khoa học? Thần kinh nặng rồi! Chúng ta đang có tất cả các lớp học như thế này”.
Thế là, tôi nói với họ rằng một trong những điều đầu tiên gây cho tôi ấn tượng rất mạnh khi đến Brazil là việc nhìn thấy ở hiệu sách những học sinh phổ thông cơ sở mua sách vật lý. Có rất nhiều trẻ em học vật lý ở Brazil, bắt đầu học sớm hơn rất nhiều so với trẻ em ở Mỹ. Vì thế thật ngạc nhiên khi bạn lại không tìm được nhiều nhà vật lý ở Brazil – tại sao lại như vậy? Rất nhiều trẻ em học tập rất chăm chỉ, nhưng đầu ra lại chẳng có gì.
Rồi tôi kể câu chuyện tương tự của một học giả Hy Lạp, người yêu thích tiếng Hy Lạp và biết rằng trên đất nước của chính mình không có nhiều trẻ em học tiếng Hy Lạp. Nhưng khi ông ấy đến một đất nước khác, ông ấy đã rất vui khi thấy ai cũng học tiếng Hy Lạp – thậm chí cả những đứa trẻ nhỏ nhất ở các trường tiểu học. Ông ấy đến xem buổi thi của một sinh viên, cậu này chuẩn bị nhận bằng về tiếng Hy Lạp, và hỏi cậu ấy: “Những ý tưởng của Socrates về mối liên hệ giữa Sự thật và Cái đẹp là gì?” – và cậu sinh viên không trả lời được. Rồi ông ấy hỏi cậu sinh viên: “Socrates đã nói gì với Plato ở Symposium thứ ba?” thì cậu ta tươi tỉnh hẳn lên và nói một mạch: “Brrrrrrrrr -up.” Cậu ấy lặp lại với bạn mọi thứ, đúng từng từ một, những điều Socrates đã nói, bằng tiếng Hy Lạp rất hay. Nhưng, những điều mà Socrates nói ở Symposium thứ ba chính là mối liên hệ giữa Sự thật và Cái đẹp!
Điều mà học giả Hy Lạp này khám phá ra là, những sinh viên ở đất nước kia học tiếng Hy Lạp bằng cách học phát âm các chữ cái trước tiên, sau đến các từ, và rồi các câu và đoạn văn. Họ có thể đọc lại, đúng từng từ một những điều Socrates đã nói, mà không nhận ra rằng những từ Hy Lạp này thực ra mang nghĩa nào đó. Với sinh viên đó, tất cả chỉ là những âm thanh nhân tạo. Không ai đã từng thể hiện chúng ra thành những từ mà sinh viên có thể hiểu được.
Tôi nói: “Đó chính là điều mà tôi cảm nhận, khi thấy các vị dạy ‘khoa học’ cho bọn trẻ ở đây, Brazil.” (Sốc lớn, đúng không?)
Rồi tôi giơ cuốn giáo trình vật lý cơ sở mà họ đang sử dụng lên: “Không có kết quả thí nghiệm nào được đề cập đến ở bất kì đâu trong cuốn sách này cả, trừ một chỗ nói về quả bóng lăn xuống theo một mặt phẳng nghiêng với quãng đường quả bóng đi được sau một, hai, ba giây, vân vân. Những con số này có cả ‘sai số’ trong đó, nghĩa là nếu bạn nhìn vào chúng thì bạn sẽ nghĩ là mình đang nhìn vào các kết quả thí nghiệm, bởi vì các con số đó cao hơn một chút, hoặc thấp hơn một chút so với các giá trị lý thuyết. Cuốn sách thậm chí còn nói về việc phải hiệu chỉnh những sai số thực nghiệm này - rất tốt. Vấn đề là, khi bạn dùng các giá trị này để tính gia tốc, thì bạn nhận được đáp số đúng. Nhưng, một quả bóng khi lăn xuồng theo một mặt phẳng nghiêng, nếu điều đó thực sự xảy ra, có một quán tính làm cho nó quay, và sẽ cho ra năm phần bảy của kết quả đúng, nếu bạn làm thí nghiệm, bởi vì một phần năng lượng cần tiêu tốn để quay quả bóng. Thành thử, ví dụ duy nhất về ‘kết quả’ thí nghiệm này lại được lấy từ một thí nghiệm bịa. Chẳng ai đã từng lăn một quả bóng như vậy, hoặc họ sẽ không bao giờ thu được những kết quả đó!”
“Tôi đã khám phá ra một thứ khác nữa,” tôi tiếp tục. “Bằng cách lật các trang một cách ngẫu nhiên, đặt ngón tay của tôi lên và đọc những câu trong trang đó, tôi có thể chỉ cho các bạn thấy vấn đề là gì – nó là không khoa học, mà chỉ nhớ máy móc như thế nào, trong mọi trường hợp. Do đó tôi đủ dũng cảm để lật nhanh những trang sách này ngay bây giờ, trước mắt quí vị khán giả ở đây, đặt ngón tay tôi lên, đọc, và chỉ cho các bạn thấy.”
Thế là tôi làm việc đó. Brrrrrrrup – tôi đặt ngón tay của mình lên và bắt đầu đọc: “Sự phát quang do ma sát. Sự phát quang do ma sát là hiện tượng ánh sáng phát ra khi tinh thể bị ép…..”
Tôi nói: “Và đó, các bạn có khoa học không? Không! Các bạn chỉ được nói cho biết một từ nghĩa là gì thông qua các từ khác. Các bạn không hề được nói cho biết bất kỳ điều gì về tự nhiên. Những tinh thể nào tạo ra ánh sáng khi bạn ép chúng? Tại sao chúng phát ra ánh sáng? Các bạn có thấy sinh viên nào sẽ về nhà và thử làm điều đó không? Chúng không thể làm được.”
“Nhưng nếu thay vào đó các bạn viết ‘Khi lấy một cục đường và kẹp nó bằng một cái kìm trong bóng tối, thì sẽ nhìn thấy một chớp sáng màu xanh nhạt. Một số tinh thể khác cũng có tính chất như vậy. Không ai hiểu được vì sao. Hiện tượng này được gọi là Phát quang do ma sát. Thế rồi ai đó sẽ về nhà và làm thử. Thế rồi có một trải nghiệm về tự nhiên.” Tôi đã dùng ví dụ đó để chỉ cho họ thấy, và nếu tôi có đặt ngón tay vào một chỗ khác của cuốn sách thì cũng chẳng có sự khác biệt nào; chỗ nào cũng vậy cả.
Cuối cùng, tôi đã nói rằng tôi không thể nhìn thấy bằng cách nào để ai đó có thể được đào tạo từ hệ thống tự lan truyền này, trong đó người ta vượt qua những kỳ thi, và dạy người khác vượt qua những kỳ thi, nhưng chẳng ai biết cái gì cả. “Tuy nhiên”, tôi nói: “Chắc hẳn tôi sai. Có hai sinh viên trong lớp của tôi học rất giỏi, và một trong số các nhà vật lý mà tôi biết đã được đào tạo hoàn toàn ở Brazil. Thành ra, chắc phải có khả năng để một số người tìm được con đường của mình xuyên qua hệ thống đó, một hệ thống tồi.”
Thế đấy, sau khi tôi nói xong, ông trưởng khoa giáo dục khoa học đứng dậy và nói: “Ngài Feynman đã nói với chúng ta những điều mà chúng ta rất khó chấp nhận, nhưng rõ ràng là ông ấy thực sự yêu khoa học, và chân thành trong những phê phán của mình. Vì vậy, tôi nghĩ chúng ta nên lắng nghe ông ấy. Khi đến đây tôi đã biết rằng chúng ta có một số căn bệnh trong hệ thống giáo dục của mình; điều tôi đã học được là chúng ta đang bị ung thư!” – rồi ông ngồi xuống.
Điều đó đã làm cho những người khác tự do phát biểu, không khí thật là sôi động. Mọi người đứng lên và đưa ra những đề xuất. Sinh viên lập ra những ban chuyên trách để in trước những bài giảng, và họ lập những ban khác để làm việc này, việc kia.
Rồi một chuyện xảy ra hoàn toàn bất ngờ đối với tôi. Một sinh viên đứng lên và nói: “Em là một trong hai sinh viên mà thầy Feynman đã nhắc tới ở phần cuối của bài nói chuyện. Em không được đào tạo ở Brazil; em đã được đào tạo ở Đức, và em mới chuyển về Brazil năm nay.”
Còn cậu sinh viên giỏi nữa mà tôi đã nhắc đến cũng có điều tương tự để nói. Và vị giáo sư mà tôi đã đề cập tới cũng đứng lên và nói: “Tôi đã được đào tạo ở đây, Brazil, trong thời gian chiến tranh, khi đó, thật may mắn, tất cả giáo sư đã rời trường đại học, vì thế tôi đã học mọi thứ bằng tự mình đọc sách. Do đó, thực ra tôi đã không được đào tạo dưới hệ thống giáo dục Brazil.”
Tôi thực sự bất ngờ về điều đó. Tôi biết hệ thống đó là tồi, mà 100 phần trăm – thật kinh khủng!
Vì tôi đến Brazil theo một chương trình do chính phủ Mỹ tài trợ, nên Bộ ngoại giao yêu cầu tôi viết một báo cáo về những trải nghiệm của mình ở Brazil, và tôi đã viết ra những điểm cơ bản của bài nói chuyện mà tôi đã trình bày. Sau này, tôi được biết qua tin đồn rằng phản ứng của một quan chức ở bộ ngoại giao là: “Điều đó cho bạn thấy việc gửi một người quá khờ khạo đến Brazil là nguy hiểm như thế nào. Một tay ngu ngốc; anh ta chỉ có thể gây rắc rối. Anh ta không hiểu vấn đề”. Hoàn toàn ngược lại! Tôi nghĩ chính vị quan chức ở bộ ngoại giao này mới là khờ khạo khi nghĩ như thế, bởi vì ông ta chỉ nhìn thấy một trường đại học với một danh sách các môn học và những giải trình, chỉ có thế thôi.
❀ ❀ ❀
[1] Một hòn đảo ở trung Mỹ. (ND)
[2] Một thứ tiếng Đức cổ của người Do thái ở Trung và Đông Âu. (ND)
[3] Một tiểu bang ở miền Đông nước Mỹ. (ND)
[4] “Up” và “Down” trong tiếng Anh. (ND)
[5] Nguyên văn tiếng Anh là “Lay over”. Từ này còn có nghĩa là phủ lên, trải lên. (ND)
[6] Nguyên văn tiếng Anh là tambourine, là nhạc cụ gõ gồm một cái trống nhỏ nông đáy, gắn những vòng kim loại kêu xủng xoẻng ở vành, người chơi lắc hoặc lấy bàn tay gõ lên trống. (ND)
[7] Nguyên văn tiếng Anh là school. Từ này có nghĩa là trường học, nhưng cũng có nghĩa là đàn, bầy.
[8] Những miếng nhựa tổng hợp làm phân cực ánh sáng đi qua nó. (ND)