Vấn đề là tìm các qui luật đúng đắn của phân rã beta. Có hai hạt được gọi là tau và theta. Chúng dường như có khối lượng gần chính xác như nhau, nhưng một hạt phân rã thành hai pion, còn hạt kia thành ba pion. Không chỉ dường như có cùng khối lượng, hai hạt này còn có thời gian sống như nhau, một sự trùng hợp rất thú vị. Thế nên ai cũng quan tâm đến vấn đề này.
Ở một hội nghị mà tôi tham dự, người ta đã thông báo rằng khi hai hạt này được tạo ra trong máy cyclotron ở các góc khác nhau và các năng lượng khác nhau, thì chúng luôn được tạo ra với cùng tỷ lệ – từng này hạt tau so với từng này hạt theta.
Tất nhiên, có một khả năng, chúng là cùng một loại hạt, mà nó đôi khi phân rã thành hai pion, đôi khi thành ba pions. Nhưng không ai chấp nhận điều đó, bởi vì có một định luật gọi là qui tắc chẵn lẻ, nó dựa trên giả thiết rằng tất cả các định luật vật lý có tính đối xứng gương. Qui tắc này cho rằng một hạt có thể phân rã thành hai pion thì không thể cũng phân rã thành ba pion được.
Vào thời điểm đặc biệt đó, tôi chưa thực sự bắt kịp vấn đề: tôi luôn tụt lại một chút. Dường như mọi người đều thông minh, còn tôi không cảm thấy mình theo kịp được. Trong thời gian hội nghị, tôi ở cùng phòng với anh chàng tên là Martin Block, một nhà thực nghiệm. Một buổi tối anh ta nói với tôi: “Vì sao các anh lại cứ khăng khăng yêu cầu về cái qui tắc chẵn lẻ ấy? Có thể tau và theta vẫn là cùng một hạt. Nếu qui tắc chẵn lẻ là sai thì sẽ có những hệ quả gì nhỉ?”
Tôi suy nghĩ một lát và nói: “Điều đó có nghĩa rằng, các qui luật của tự nhiên là khác nhau với bên trái và bên phải, rằng có một cách để xác định bên phải bằng các hiện tượng vật lý. Tôi không biết liệu điều đó có quá tệ hại không, cho dù chắc hẳn nó dẫn đến một số hệ quả xấu, nhưng tôi không biết. Sao ngày mai anh không hỏi các chuyên gia?”
Anh ta đáp: “Không, họ không chịu nghe tôi đâu. Anh hỏi đi.”
Hôm sau, trong hội thảo, khi chúng tôi đang thảo luận thách đố tau-theta, Oppenheimer nói: “Chúng ta cần nghe những ý tưởng mới, điên rồ hơn về vấn đề này.”
Thế là tôi đứng lên và nói: “Tôi hỏi câu này thay cho Martin Block: nếu quy tắc chẵn lẻ là sai, thì các hệ quả sẽ là gì?”
Về chuyện này Murray Gellmann thường trêu tôi là, tôi đã không đủ can đảm để nói đó là câu hỏi của mình. Nhưng điều ấy không quan trọng. Tôi nghĩ rất có thể đó là một ý tưởng hay.
Lý, trong cặp Lý và Dương[1] ấy, trả lời gì đó rất phức tạp, và như thường lệ tôi không hiểu rõ lắm. Ở cuối hội thảo, Block hỏi tôi xem Lý nói gì, và tôi đáp là tôi không hiểu, tuy nhiên theo tôi thì vấn đề hiện còn bỏ ngỏ – vẫn còn có khả năng. Tôi không nghĩ nó có nhiều triển vọng, nhưng tôi nghĩ nó là có thể.
Norm Ramsey hỏi xem, liệu tôi có cho là anh ta nên làm thí nghiệm tìm kiếm sự vi phạm qui tắc chẵn lẻ không, và tôi đã trả lời: “Cách tốt nhất để giải thích là, tôi cược 50 ăn 1 rằng anh sẽ không tìm thấy gì hết.”
Anh ta nói: “Thế là tốt cho tôi rồi.” nhưng anh ta đã không bao giờ làm thí nghiệm đó.
Rồi, ngô đã phát hiện bằng thực nghiệm sự vi phạm tính chẵn lẻ, và điều này đã mở ra rất nhiều khả năng mới cho lý thuyết phân rã beta. Nó cũng khơi nguồn cho một loạt các thí nghiệm ngay sau đó. Một số cho thấy electron bứt ra khỏi hạt nhân quay sang bên trái, còn một số thì sang bên phải, và có tất cả các loại thí nghiệm, các loại khám phá thú vị về tính chẵn lẻ. Nhưng số liệu lại rối rắm đến mức không ai có thể tổng hợp sắp xếp lại được.
Vào thời điểm ấy, có một hội thảo ở Rochester[2] – hội nghị Rochester thường niên. Tôi vẫn luôn luôn tụt hậu, còn Lý thì đang trình bày báo cáo của mình về vi phạm tính chẵn lẻ. Anh ấy và Dương đã đi đến kết luận rằng tính chẵn lẻ bị vi phạm, và giờ đây anh ấy đang trình bày lý thuyết về vấn đề này.
Trong thời gian hội nghị, tôi ở nhà em gái mình ở Syracuse[3]. Tôi mang bài báo của Lý về nhà và nói với cô em: “Anh không thể hiểu được những thứ mà Lý và Dương nói. Nó quá phức tạp.”
“Không đâu,” cô ấy nói: “Điều anh nói đến không phải là điều anh không thể hiểu được, mà là điều anh đã không nghĩ ra nó. Anh đã không tìm hiểu nó bằng cách của chính mình, từ việc lắng nghe các manh mối. Điều anh nên làm là hãy tưởng tượng mình lại là một sinh viên, mang bài báo này lên lầu, đọc từng dòng và kiểm tra các phương trình. Rồi anh sẽ dễ dàng hiểu nó.”
Tôi làm theo lời khuyên của em gái, kiểm tra lại bài báo từ đầu đến cuối, và nhận ra nó thật rõ ràng và đơn giản. Tôi đã ngại đọc bài báo, nghĩ là nó quá khó.
Bài báo nhắc tôi về một vấn đề mà tôi đã làm trước đây khá lâu liên quan với các phương trình bất đối xứng phải-trái. Giờ đây, khi nhìn vào các công thức của Lý, rõ ràng là, lời giải cho vấn đề đó đơn giản hơn rất nhiều: mọi hạt thoát ra tương hợp với bên trái. Với electron và muon, các tiên đoán của tôi giống hệt như của Lý, ngoại trừ việc tôi đã đổi các dấu cộng trừ ở đâu đấy. Khi ấy tôi đã không nhận ra điều đó, còn Lý chỉ lấy một ví dụ đơn giản nhất của tương hợp muon và chưa chứng minh rằng tất cả các muon là hoàn toàn về bên phải, trong khi theo lý thuyết của tôi thì tất cả các muon là hoàn toàn tự động về bên phải. Thành thử, thực ra, tôi đã có một tiên đoán mạnh hơn tiên đoán của Lý. Tôi có các kết quả khác về dấu, nhưng tôi đã không nhận ra là kết quả này của tôi cũng đúng.
Tôi đã tiên đoán một vài điều mà chưa ai làm thí nghiệm kiểm chứng, nhưng khi áp dụng cho neutron và proton thì tôi không thể làm cho lí thuyết phù hợp tốt với những gì khi đó đã biết về kết hợp neutron và proton: nó giống như một mớ hỗn độn.
Hôm sau, khi tôi quay lại hội nghị, một người rất tốt bụng tên là Kan Case, lúc ấy đang trình bày báo cáo về vấn đề gì đó, đã dành cho tôi 5 phút trong định phần thời gian của anh ấy để tôi nói về ý tưởng của mình. Tôi đã nói là tôi tin rằng tất cả các hạt đều tương hợp về bên trái, và rằng dấu của muon và electron bị đảo ngược, nhưng tôi còn đang chiến đấu với neutron. Sau đó, các nhà thực nghiệm đã hỏi mấy câu về những tiên đoán của tôi, nhưng rồi tôi đã đi Brazil trong mùa hè ấy.
Khi quay về Mỹ, tôi muốn biết về tình trạng của vấn đề phân rã beta. Tôi đã đến phòng thí nghiệm của giáo sư ngô ở Columbia, bà không có ở đó, nhưng một bà khác ở đó đã cho tôi xem tất cả các loại số liệu, tất cả các con số hỗn loạn, chẳng khớp với bất cứ cái gì. Trong mô hình của tôi các electron sinh ra trong phân rã beta tất cả sẽ quay trái, nhưng trong một số trường hợp chúng lại quay phải.
Chẳng có sự phù hợp nào cả.
Khi tôi về lại Caltech, tôi đã hỏi một số nhà thực nghiệm về hiện trạng của vấn đề phân rã beta. Tôi nhớ ba người, Hans Jensen, Aaldert Wapstra, và Felix Boehm đã mời tôi ngồi lên một cái ghế đẩu nhỏ và bắt đầu nói với tôi về tất cả sự việc liên quan: các kết quả thí nghiệm từ những nơi khác trong nước, và kết quả thí nghiệm của chính họ. Vì tôi biết các anh chàng đó và biết họ cẩn thận đến mức nào, nên tôi đã chú ý đến các kết quả của họ nhiều hơn so với các kết quả khác. Chỉ riêng kết quả của họ, thì chúng không đến nỗi không phù hợp lắm; vấn đề là các kết quả khác cùng với kết quả của họ.
Cuối cùng, họ thông báo hết cho tôi những điều cần thiết, và họ nói: “Tình trạng hỗn độn đến mức thậm chí một số kết quả đã được thiết lập trong nhiều năm cũng đang bị nghi vấn – như phân rã beta của neutron là S và T. Quá hỗn độn. Murray nói nó có thể thậm chí là V và A.”
Tôi nhảy ra khỏi ghế và nói: “Thế thì tôi hiểu mọi thứ rồi.” Họ nghĩ là tôi đùa. Nhưng vấn đề mà tôi vướng mắc ở hội thảo Rochester – sự phân huỷ neutron và proton: mọi thứ đều phù hợp trừ vấn đề này, còn nếu là V và A thay cho S và T, thì nó cũng phù hợp luôn. Thế là tôi đã có một lý thuyết hoàn chỉnh!
Tối hôm đó tôi đã tính tất cả các đại lượng bằng lý thuyết này. Đại lượng tôi tính đầu tiên là tốc độ phân rã của muon và neutron. Nếu lí thuyết này là đúng, thì chúng phải có liên quan với nhau, bằng một hệ thức xác định, và điều đó đã đúng tới 9 phần trăm. Một kết quả khá chính xác, 9 phần trăm. Đáng ra phải tốt hơn thế, nhưng thế cũng là đủ chính xác rồi.
Tôi tiếp tục và kiểm tra một số đại lượng khác, chúng phù hợp, và những đại lượng khác cũng phù hợp, những đại lượng khác nữa cũng phù hợp, và tôi cực kỳ phấn khích. Đó là lần đầu tiên, và cũng là lần duy nhất, trong cuộc đời nghiên cứu tôi đã biết một qui luật của tự nhiên mà không một ai khác biết. (Tất nhiên nói như vậy là không đúng, vì sau đó tôi biết là ít nhất thì Murray Gellmann – và cả Sudarshan và Marshak – cũng đã phát triển cùng một lý thuyết như vậy, dù sao điều đó vẫn không hề làm hỏng niềm vui của tôi.) những việc tôi làm trước đấy chỉ là dùng lý thuyết của người khác và cải tiến phương pháp tính toán, hoặc dùng một phương trình, chẳng hạn phương trình Schrodinger, để giải thích một hiện tượng, như là hê-li. Chúng ta biết phương trình, và chúng ta cũng biết hiện tượng, nhưng nó vận hành ra sao?
Tôi nghĩ về Dirac, ông có phương trình của mình – một phương trình mới mô tả cách hành xử của electron – và tôi có phương trình mới này về phân rã beta, nó không quan trọng như phương trình Dirac, nhưng cũng rất hay. Đó là lần duy nhất tôi đã khám phá ra một qui luật mới.
Tôi gọi cho em gái ở New York để cảm ơn cô ấy đã thuyết phục tôi ngồi đọc kỹ bài báo đó của Lý và Dương trong thời gian hội nghị Rochester. Sau khi cảm thấy lo lắng và bị tụt hậu, giờ đây tôi đã bắt kịp; tôi đã có một khám phá, chính do đề xuất của cô ấy. Tôi lại có khả năng đắm mình trong vật lý, có thể nói vậy, và tôi muốn cảm ơn cô em gái về điều đó. Tôi nói với em rằng mọi thứ đều khớp, trừ cái 9 phần trăm.
Tôi rất phấn khởi, tiếp tục tính, và các kết quả phù hợp cứ tiếp tục tuôn ra: chúng tự động phù hợp, chẳng cần gò ép gì. Lúc đó tôi đã bắt đầu quên cái 9 phần trăm, vì mọi kết quả khác đều đúng.
Đêm đó tôi làm việc rất căng, ngồi ở một cái bàn nhỏ trong bếp gần cửa sổ. Đêm về khuya và khuya hơn – đã khoảng 2 hoặc 3 giờ sáng. Tôi đang làm việc rất căng, làm cho tất cả các tính toán này ăn nhập chặt chẽ với những kết quả đã phù hợp, tôi đang suy nghĩ, đang tập trung, trời tối, yên tĩnh… Thì bỗng nhiên TAC-TAC-TAC-TAC - tiếng động mạnh ở cửa sổ. Tôi nhìn ra và thấy một bộ mặt trắng toát, ngay sát cửa sổ, chỉ cách vài inch. Tôi hét lên, choáng và ngạc nhiên!
Đó là cô gái tôi quen, cô nàng bực với tôi, vì tôi đã đi nghỉ về rồi mà không gọi ngay báo cho cô ấy biết. Tôi để cô ấy vào, rồi cố gắng giải thích rằng bây giờ tôi đang rất bận, rằng tôi vừa mới khám phá ra một điều, và điều đó rất quan trọng. Tôi nói: “Xin em hãy đi ra và để anh kết thúc công việc này.”
Cô ấy nói: “Không, em không muốn làm phiền anh. Em sẽ chỉ ngồi trong phòng khách.”
Tôi bảo: “Ừ, thế cũng được, nhưng sẽ rất khó đấy.”
Chính xác thì cô ấy đã không ngồi trong phòng khách. Cách mô tả tốt nhất là cô ấy kiểu như ngồi chồm hỗm ở một góc, hai tay nắm vào nhau, không muốn “Làm phiền” tôi. Tất nhiên, mục đích của cô ấy là cố tình gây áp lực thật mạnh lên tôi! Và cô ấy đã thành công – tôi không thể phớt lờ cô ấy. Tôi rất bực mình và khó chịu, và tôi không chịu nổi nữa. Tôi phải làm các tính toán này. Tôi đang tạo ra một phát minh quan trọng và đang cực kì hứng khởi, và về phương diện nào đó, đối với tôi nó quan trọng hơn cô ấy nhiều – ít nhất là ở thời điểm đó. Tôi không nhớ bằng cách nào cuối cùng tôi đã đưa được cô ấy ra khỏi nhà, nhưng rất khó.
Sau khi làm việc thêm ít nhiều, thì đêm đã rất khuya và tôi thấy đói. Tôi cuốc bộ ra phố chính, đến một nhà hàng nhỏ cách khoảng năm hay mười khối nhà, như tôi vẫn thường làm trước đây vào đêm muộn.
Những lần trước, tôi đã thường bị cảnh sát hỏi thăm, bởi vì tôi bước đi, suy nghĩ, và dừng lại – đôi khi một ý tưởng xuất hiện làm cho bạn khó có thể tiếp tục bước đi; bạn phải làm rõ một cái gì đó. Thế là tôi dừng lại, và thỉnh thoảng tôi đưa tay ra, tự nói với mình: “Khoảng cách giữa những cái này là như thế ấy, và rồi cái này sẽ thay đổi theo cách này…”
Có lẽ là tôi đứng giữa phố, vung tay, khi cảnh sát đi đến: “Anh tên gì? Anh sống ở đâu? Anh đang làm gì ở đây?”
“Ồ! Tôi đang suy nghĩ. Xin lỗi; tôi sống ở đây và thường đến nhà hàng…” Sau một vài lần thì họ biết đó là ai và rồi không dừng tôi lại để hỏi nữa.
Vậy là, tôi đến nhà hàng, và trong khi ăn tôi đã phấn khích đến mức kể với một cô gái rằng tôi mới có một khám phá tuyệt vời. Cô ấy bắt chuyện: Cô ta là vợ một lính cứu hỏa, hay kiểm lâm, hay gì đó. Cô ấy đang rất cô đơn - tất cả những tình tiết mà lúc này tôi chẳng hề quan tâm tới. Chuyện xảy ra là vậy.
Sáng hôm sau, khi đi làm tôi đã đến gặp Wapstra, Boehm, và Jensen, và nói với bọn họ: “Tôi đã giải quyết xong mọi vấn đề. Tất cả đều phù hợp.”
Christy, một anh chàng cũng đang ở đó, nói: “Thế anh dùng hằng số phân rã beta nào?”
“Cái ở trong cuốn sách này-nọ.”
“Nhưng cái đó đã được chỉ ra là sai. Các phép đo gần đây cho thấy nó bị sai khoảng 7 phần trăm.”
Thế là tôi nhớ đến cái 9 phần trăm. Với tôi nó như một dự báo: tôi về nhà và có một lý thuyết nói rằng phân rã neutron bị sai khác 9 phần trăm, và sáng hôm sau người ta nói với tôi rằng, đúng ra, còn 7 phần trăm khác nữa. Nhưng, cái khác ấy là từ 9 thành 16, có hại, hay từ 9 thành 2, có lợi?
Ngay sau đó, em gái tôi gọi từ New York: “Cái 9 phần trăm thế nào rồi – có chuyện gì vậy?”
“Anh vừa mới phát hiện ra là có một số số liệu mới: 7 phần trăm…”
“Theo hướng nào?”
“Anh đang tìm hiểu. Anh sẽ gọi lại cho em.”
Tôi đang phấn khích đến nỗi chẳng thể nghĩ được nữa. Nó giống như khi bạn đang chạy vội cho kịp chuyến bay, mà bạn không biết rằng liệu mình có bị trễ hay không, và bạn đơn giản là không thể làm điều đó, thì ai đó nói: “Hôm nay đổi giờ!”[4] Ừ nhỉ, nhưng theo chiều nào? Bạn không thể nghĩ gì khi đang phấn khích.
Thế là Christy đi vào một phòng, còn tôi đi vào phòng khác, cả hai đều im lặng, để có thể suy nghĩ thấu đáo vấn đề: Cái này dịch về phía này, và cái khác dịch về phía kia – nó không quá khó, thực vậy; chỉ là do đang quá phấn khích.
Christy đi ra, và tôi đi ra, và cả hai nhất trí: 2 phần trăm, một kết quả nằm trong sai số thực nghiệm. Rốt cuộc, nếu họ thay đổi hằng số 7 phần trăm, thì 2 phần trăm có thể là sai số. Tôi gọi lại cho em gái: “Hai phần trăm.” Lý thuyết đúng.
(Thực ra, điều đó chưa đúng hẳn: đúng ra sai số chỉ 1 phần trăm, vì một nguyên nhân mà chúng tôi đã không nghĩ đến, và chỉ sau đó mới hiểu nhờ có Nicola Cabibbo[5]. Vậy nên 2 phần trăm không phải hoàn toàn là sai số thực nghiệm).
Murray Gellmann và tôi so sánh và kết hợp những ý tưởng của chúng tôi rồi viết một bài báo về lý thuyết này. Lý thuyết khá gọn đẹp; nó tương đối đơn giản, và phù hợp trong rất nhiều trường hợp. Nhưng như tôi đã nói, vẫn còn quá nhiều số liệu hỗn tạp. Tuy nhiên, trong một số trường hợp chúng tôi thậm chí còn đi xa đến mức để có thể nói rằng thực nghiệm là sai.
Một ví dụ hay là thí nghiệm của Valentine Telegdi[6], ông ấy đo số electron phát ra theo mỗi hướng khi neutron phân huỷ. Lý thuyết của chúng tôi tiên đoán rằng số electron phải như nhau theo mọi hướng, trong khi Telegdi lại tìm thấy rằng số electron theo một hướng là 11 phần trăm nhiều hơn so với hướng kia. Telegdi là một nhà thực nghiệm rất giỏi, và rất cẩn thận. Có lần, khi đọc báo cáo ở đâu đó, ông ấy đã đề cập đến lý thuyết của chúng tôi và nói: “Rắc rối với các nhà lý thuyết là họ chẳng bao giờ chú ý đến thực nghiệm cả!”
Telegdi cũng gửi cho chúng tôi một lá thư, không hẳn là gay gắt, nhưng dù sao cũng cho thấy ông ấy tin là lý thuyết của chúng tôi sai. Ở cuối thư ông ấy viết: “Lý thuyết F-G (Feynman–Gellmann) về phân rã beta không phải là F-G”. Murray hỏi: “Chúng ta nên làm gì với việc này? Anh biết đấy, Telegdi là một tay rất cừ.” Tôi đáp: “Chúng ta cứ chờ xem.”
Hai ngày sau có một lá thư khác của Telegdi. Ông ấy thay đổi ngược lại hoàn toàn. Từ lý thuyết của chúng tôi, ông ấy nhận ra là mình đã không tính đến khả năng rằng, sự lùi proton trước neutron là không như nhau theo tất cả các hướng. Ông ấy đã giả sử nó là như nhau. Bằng cách đưa vào các bổ chính, mà lý thuyết của chúng tôi tiên đoán, thay cho những giá trị mà ông ấy đã dùng, các kết quả hiện ra ngay và phù hợp hoàn toàn.
Tôi biết là Telegdi rất giỏi, và sẽ rất khó lội ngược dòng chống lại ông ấy. Nhưng, lúc đó tôi đã tin rằng phải có cái gì đấy sai trong thí nghiệm đó, và rằng ông ấy sẽ tự tìm ra nó – trong việc tìm ra sai sót này ông ấy giỏi hơn chúng tôi nhiều. Đó là lý do vì sao tôi đã nói, chúng tôi không nên gắng tìm nó mà chỉ chờ thôi.
Tôi đến gặp giáo sư Bacher và kể với ông ấy về thành công của chúng tôi. Ông ấy nói: “Đúng vậy, các anh xuất hiện và nói rằng kết hợp neutron-proton là V chứ không phải T. Mọi người quen nghĩ nó là T. Đâu là thí nghiệm nền tảng bảo nó là T? Sao các anh không xem xét các thí nghiệm ban đầu và tìm xem chúng sai ở chỗ nào?”
Tôi đi ra và tìm được bài báo gốc về thí nghiệm nói rằng kết hợp neutron-proton là T, và tôi đã bị sốc. Tôi nhớ trước đây đã đọc bài báo đó một lần (trở lại cái thời mà tôi đã đọc tất cả các bài báo trên Physical Review – tạp chí khi đó còn khá ít bài). Và, tôi còn nhớ khi xem lại bài báo này, nhìn vào đường cong đó và nghĩ: “Nó chẳng chứng tỏ điều gì cả!”
Bạn thấy đấy, nó phụ thuộc vào một hoặc hai điểm ở mép cùng của dải số liệu. Có một nguyên tắc là cái điểm ở mép của dải số liệu – điểm cuối cùng ấy – là không chính xác, vì nếu nó chính xác thì người ta đã có thêm điểm khác tiếp ở bên ngoài. Tôi đã nhận ra rằng toàn bộ ý tưởng về việc kết hợp neutron-proton là T đã dựa vào cái điểm cuối cùng đó, nó không đáng tin cậy lắm, và do đó, ý tưởng này chưa được chứng thực. Tôi nhớ là mình đã nhận ra điều đó!
Còn khi tôi bắt đầu quan tâm trực tiếp tới phân rã beta, tôi đã đọc tất cả các báo cáo của các “Chuyên gia về phân rã beta”, các báo cáo này bảo rằng kết hợp đó là T. Tôi chẳng bao giờ xem các số liệu gốc; tôi chỉ đọc các báo cáo đó, giống như một thằng đần. Liệu tôi có phải là một nhà vật lý giỏi không, khi tôi nghĩ về cái ý tưởng gốc hồi ở hội nghị Rochester, lẽ ra tôi đã ngay lập tức thắc mắc “Chúng ta biết nó là T chắc chắn đến mức nào?” Đó lẽ ra là một việc hợp lý cần làm. Lẽ ra tôi đã phải nhận thấy ngay là mình đã từng nhận ra nó chưa được chứng minh một cách thoả đáng.
Từ đó trở đi tôi không bao giờ mảy may để ý đến bất kỳ điều gì phát ra từ các “Chuyên gia”. Tôi tự tính toán mọi thứ. Khi người ta nói lý thuyết quark khá hay, tôi đã yêu cầu hai nghiên cứu sinh, Finn Ravndal và Mark Kislinger, cùng với mình đi xuyên suốt toàn bộ vấn đề, chính nhờ thế mà tôi có thể kiểm tra để biết chắc rằng lý thuyết đó quả là cho những kết quả phù hợp khá tốt, và rằng nó là một lý thuyết quan trọng. Tôi sẽ không bao giờ mắc lại sai lầm đó, nghe theo quan điểm của các chuyên gia. Tất nhiên bạn chỉ có một cuộc đời, và bạn mắc tất cả các sai lầm của mình, nhưng học được những điều không nên làm, và đó là mục đích của bạn.
❀ ❀ ❀
[1] Lý Chính Đạo (Tsung-Dao (T.D.) Lee) và Dương Chấn ninh (Chen Ning Yang), hai nhà vật lý Mỹ gốc Trung Quốc được trao giải Nobel Vật lý năm 1957 cho những khám phá về qui luật chẵn lẻ. (ND)
[2] Hội nghị quốc tế về Vật lý năng lượng cao (ICHEP–international Conference on high Energy physics) là một trong những hội nghị danh giá nhất trong chuyên ngành vật lý hạt, được tổ chức lần đầu vào năm 1950 ở Rochester, bang New York nên cũng thường được gọi là hội nghị Rochester. (ND)
[3] Tên một thành phố cách Rochester khoảng 90 dặm (~ 150 km). (ND)
[4] Nguyên văn tiếng Anh “Daylight saving time”, là việc thay đổi giờ tạm thời vào mùa hè để cho buổi chiều tối muộn hơn và buổi sáng cũng sáng muộn hơn, và thường được áp dụng ở các nước ở vĩ độ cao nơi mà chênh lệch ngày đêm giữa mùa hè và mùa đông là lớn. Thông thường đồng hồ được chỉnh tiến lên một tiếng vào một ngày đầu mùa xuân và sẽ chình lùi lại một tiếng trong mùa thu. Chi tiết của ngày giờ thay đổi này tùy thuộc vào từng địa phương. (ND)
[5] Nocola Cabibbo (1935-2010) là nhà Vật lý người italia có nhiều nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực tương tác yếu, được biết đến qua khái niệm “Góc Cabibbo”. (ND)
[6] Valentine Telegdi (1922-2006) là nhà Vật lý thực nghiệm người Mỹ gốc Hung-ga-ri. (ND)