Ở Canada hội sinh viên vật lý là một hội lớn. Họ có các cuộc gặp mặt, trình bày các bài báo, và vân vân. Một lần, chi hội Vancouver mời tôi đến nói chuyện. Cô gái phụ trách việc này thu xếp với thư ký của tôi để bay thẳng đến Los Angeles mà không nói gì với tôi cả. Cô ấy cứ thế đi thẳng vào phòng làm việc của tôi. Đấy là một cô gái tóc vàng xinh đẹp và thực sự hấp dẫn. (Điều đó rất hữu ích cho công việc, cho dù không nên nói thế, nhưng đúng là như vậy.) Tôi đã rất ấn tượng với việc sinh viên Vancouver đã trang trải toàn bộ chi phí. Ở Vancouver họ đối xử với tôi chu đáo đến mức giờ tôi mới biết được bí quyết làm thế nào để thực sự được đãi đằng và trình bày bài nói chuyện: đợi sinh viên đến mời bạn.
Một lần, vài năm sau khi tôi nhận giải Nobel, vài bạn trẻ ở câu lạc bộ vật lý sinh viên Irvine[1] tới gặp và mời tôi nói chuyện. Tôi bảo: “Tôi thích làm việc đó. Tuy nhiên, tôi chỉ muốn nói chuyện với câu lạc bộ vật lý thôi. Tôi không muốn là một người bất lịch sự - nhưng tôi đã có kinh nghiệm là sẽ có rắc rối.”
Tôi kể với bọn trẻ về việc hàng năm tôi đã đến một trường phổ thông địa phương nói chuyện ở câu lạc bộ vật lý về thuyết tương đối, hay bất cứ vấn đề gì mà họ yêu cầu, như thế nào. Rồi, sau khi tôi nhận Nobel, tôi lại đến đó, như thường lệ, không chuẩn bị gì cả, và họ đã đẩy tôi ra trước mặt toàn thể ba trăm đứa trẻ. Thật là bậy bạ!
Tôi đã bị sốc như thế ba hay bốn lần, bị biến thành một thằng ngốc và không phản ứng kịp. Khi được mời đến Berkeley để nói về một vấn đề vật lý nào đó, tôi đã chuẩn bị bài nói chuyện hơi sâu về chuyên môn, nghĩ rằng mình sẽ trình bày nó cho một nhóm các nhà khoa học thường gặp ở khoa vật lý nghe. Nhưng khi tôi đến nơi, thì cả một hội trường to đùng đã chật kín người! Tôi biết là ở Berkeley không có ngần ấy người có đủ trình độ để hiểu được bài nói chuyện mà tôi đã chuẩn bị. Vấn đề là ở chỗ, tôi muốn làm hài lòng tất cả những ai đến nghe tôi nói. Nhưng tôi không thể nào làm được việc đó nếu mỗi người còn kéo theo cả anh chị em của mình đến nghe: khi đó tôi không còn biết thính giả của mình là ai nữa.
Sau khi mấy cậu sinh viên đã hiểu ra rằng tôi không thể cứ thế dễ dàng đi đến một nơi nào đó và nói chuyện với câu lạc bộ vật lý, tôi mới bảo: “Hãy bịa ra một tiêu đề thật tẻ nhạt và tên của giáo sư cũng tẻ nhạt, khi đó chỉ những cậu nào thực sự hứng thú vật lý mới đến nghe, và đấy chính là những thính giả chúng ta muốn có, được không? Các cậu không phải quảng cáo gì cả.” Một vài thông báo xuất hiện trong khuôn viên trường đại học Irvine: giáo sư Henry Warren của Đại học Washington sẽ nói về cấu trúc proton vào ngày 17 tháng 5 lúc 3:00 tại phòng D102.
Rồi tôi đến và nói: “Giáo sư Henry Warren có một số khó khăn riêng và không thể đến nói chuyện với các bạn hôm nay, vì thế ông ấy đã điện thoại và hỏi xem liệu tôi có thể nói chuyện với các bạn về chủ đề đó không, vì tôi cũng đang nghiên cứu trong lĩnh vực này. Đó là lí do tôi có mặt ở đây.” Thành công rực rỡ.
Nhưng rồi, bằng cách nào đó, người phụ trách câu lạc bộ của khoa đã phát hiện ra mẹo này và ông ấy đã rất bực mình với mấy cậu sinh viên. Ông ấy nói: “Các cậu biết đấy, nếu biết là giáo sư Feynman xuống đây, thì rất nhiều người muốn được nghe ông ấy nói.”
Đám sinh viên giải thích: “Chính thế đó!” nhưng ông ấy đã tức giận đến mức không cho phép bầy trò ấy nữa.
Nghe tin mấy cậu sinh viên đang gặp rắc rối, tôi quyết định viết một bức thư cho người phụ trách, giải thích rằng đây hoàn toàn là lỗi của tôi, rằng tôi sẽ không nói chuyện trừ khi được thu xếp như vậy, rằng tôi đã bảo sinh viên đừng nói cho ai biết cả; tôi rất tiếc; hãy thứ lỗi cho tôi, bô lô ba la…” Tôi đã phải trải qua những chuyện kiểu như vậy là bởi cái giải thưởng trời đánh kia!
Mới năm ngoái thôi, sinh viên Đại học Alaska ở Fairbanks đã mời tôi nói chuyện, và tôi đã có những giây phút tuyệt vời, ngoại trừ mấy cuộc phỏng vấn của truyền hình địa phương. Tôi không cần những cuộc phỏng vấn; chẳng có ý nghĩa gì cả. Tôi đến để nói chuyện với sinh viên vật lý, và chỉ thế thôi. Nếu mọi người trong thành phố muốn biết điều đó thì hãy để tờ báo của trường nói cho họ biết. Chính vì cái giải Nobel ấy mà tôi phải trả lời phỏng vấn. Tôi là một nhân vật quan trọng mà, đúng không?
Một anh bạn giàu có của tôi – anh ấy phát minh ra một loại chuyển mạch kỹ thuật số đơn giản – nói với tôi về những người đóng góp tiền để tạo ra những giải thưởng hay tài trợ những bài giảng: “Anh hãy luôn quan sát họ một cách cẩn thận, để phát hiện những việc làm phi pháp mà họ đang cố gột rửa khỏi lương tâm mình.”
Anh bạn Matt Sands của tôi đã có lần định viết một cuốn sách có tiêu đề Một sai lầm khác của Alfred Nobel.
Trong nhiều năm, mỗi khi gần đến thời điểm công bố giải thưởng, tôi đã theo dõi xem ai có thể được nhận. Nhưng sau một thời gian, tôi thậm chí không hề để ý xem khi nào là “Mùa” trao giải nữa. Vì thế, tôi đã không có ý niệm nào về việc vì sao lại có người gọi điện cho tôi vào 3 rưỡi hay 4 giờ sáng.
“Giáo sư Feynman phải không ạ?”
“Này! Sao anh quấy phiền tôi vào giờ này vậy?”
“Tôi nghĩ ông muốn biết là ông đã giành được giải Nobel.”
“Ừ, nhưng tôi đang ngủ! Anh gọi cho tôi vào buổi sáng thì tốt hơn.” – và tôi gác máy.
Vợ tôi hỏi: “Ai gọi vậy anh?”
“Họ bảo là anh đã giành được giải Nobel.”
“Ôi chao, Richard, là ai vậy?”
Tôi thường trêu chọc còn vợ tôi lại đủ thông minh để không bao giờ bị mắc lừa, nhưng lần này tôi đã nắm được thóp cô ấy.
Điện thoại lại reo: “Giáo sư Feynman, ông đã nghe…” (Với giọng thất vọng) “Có.”
Rồi tôi bắt đầu nghĩ: “Làm thế nào mình có thể gạt tất cả chuyện này đi nhỉ? Tôi chẳng muốn gì trong chuyện này cả!” Vậy nên việc đầu tiên là rút dây điện thoại ra, vì các cuộc gọi sẽ cứ liên hồi hết cuộc này đến cuộc khác. Tôi cố gắng quay lại để ngủ, nhưng đã không thể ngủ tiếp được.
Tôi đi xuống phòng làm việc và nghĩ: mình sẽ làm gì đây? Có thể mình sẽ từ chối nhận giải thưởng. Khi đó điều gì sẽ xảy ra? Có khi việc đó là không thể được.
Tôi cắm lại dây và điện thoại đổ chuông ngay lập tức. Đó là một người ở tạp chí Time. Tôi nói với anh ta: “Anh nghe này, tôi đang có rắc rối nên không muốn cuộc nói chuyện được ghi lại. Tôi không biết làm thế nào để thoát khỏi chuyện này. Liệu có cách nào từ chối nhận giải thưởng không?”
Anh ta trả lời: “Thưa ngài, tôi e rằng không có cách nào để ngài có thể làm việc đó mà lại không gây ồn ào hơn việc chẳng làm gì cả.” Điều đó là hiển nhiên rồi. Chúng tôi trao đổi một lát, khoảng mười lăm hay hai mươi phút, và anh chàng ở Time chưa bao giờ công bố tí gì về cuộc nói chuyện này cả.
Tôi cảm ơn rất nhiều anh bạn của Time và gác máy. Điện thoại lại đổ chuông ngay lập tức: đó là một tờ báo.
“Vâng, anh có thể đến nhà. Vâng, không có vấn đề gì. Vâng, vâng, vâng,..” một trong các cuộc gọi là của một người ở lãnh sự quán Thụy Điển.
Anh ta sẽ tổ chức một buổi chiêu đãi ở Los Angeles.
Tôi nhận ra rằng, vì tôi đã quyết định nhận giải Nobel, nên tôi phải sống chung với những chuyện như thế.
Vị lãnh sự nói: “Ngài hãy lập một danh sách những người mà ngài muốn mời, còn chúng tôi cũng sẽ lập một danh sách những người mà chúng tôi muốn mời. Sau đó, tôi sẽ đến văn phòng của ngài và chúng ta sẽ khớp hai danh sách để xem có trường hợp trùng lặp nào không, và chúng ta sẽ làm giấy mời…”
Thế là tôi làm cái danh sách của mình, gồm khoảng tám người – hàng xóm của tôi ở bên kia đường, ông bạn họa sĩ Zorthian, và vân vân.
Vị đại điện lãnh sự quán đến văn phòng tôi mang theo danh sách của mình: Thống đốc bang California, ông này, ông nọ; Getty, ông chủ dầu mỏ; vài diễn viên – tất cả ba trăm người! Và, khỏi phải nói, không có sự trùng lặp nào!
Rồi tôi bắt đầu căng thẳng một chút. Dự định về việc gặp tất cả những vị tai to mặt lớn này làm tôi không thoải mái. Người của lãnh sự quán nhận thấy vẻ lo lắng của tôi. “Ồ, đừng lo, thưa ngài” anh ta nói. “Hầu hết họ sẽ không đến đâu.”
Thế đấy! Tôi chưa từng tổ chức một bữa tiệc nào mà tôi mời những người dù đã biết là họ sẽ không đến! Tôi không phải qụy lụy bất kỳ ai và làm họ vui thích với cảm giác được tôn kính bằng lời mời mà họ có thể từ chối; thật ngớ ngẩn!
Khi về nhà, tôi thật sự khó chịu về toàn bộ câu chuyện. Tôi gọi điện lại cho lãnh sự quán và nói: “Tôi đã nghĩ kỹ rồi, và tôi thấy không thể nào tổ chức bữa tiệc ấy.”
Anh ấy rất mừng. Anh ta nói: “Ngài hoàn toàn đúng.” Tôi nghĩ anh ta ở trong cùng hoàn cảnh - việc phải tổ chức bữa tiệc cho kẻ khù khờ này quả là một cực hình. Cuối cùng, hóa ra ai cũng hài lòng; Không ai muốn tham dự, kể cả khách danh dự. Chủ tiệc thì còn thoải mái hơn nhiều.
Trong suốt thời kì này tôi có khó khăn nhất định về tâm lý. Bạn biết đấy, tôi đã được nuôi dạy bởi một người cha rất dị ứng với vẻ trịnh trọng và sự phù phiếm (ông ấy thường mặc đồng phục công tác, nên ông ấy biết sự khác biệt giữa một người mặc đồng phục và không mặc đồng phục – cho dù vẫn chỉ là người đó). Thực ra tôi đã học cách nhạo báng trò này trong suốt cuộc đời mình; và nó đã khắc sâu và đậm trong tôi đến mức tôi không thể đến trước một ông vua mà không cảm thấy miễn cưỡng. Thật trẻ con, tôi biết, nhưng tôi đã được nuôi dạy như thế, nên đó là một vấn đề của tôi.
Người ta nói với tôi rằng ở Thụy Điển có một luật lệ là sau khi bạn nhận giải thưởng, bạn phải đi giật lùi ra xa nhà vua mà không được quay người lại. Bạn bước xuống mấy bậc, nhận giải thưởng, rồi lên lại mấy bậc ấy. Biết thế, tôi nghĩ: “Được, mình sẽ làm cho họ thay đổi!” Thế là tôi tập nhảy lên những bậc thềm, nhảy giật lùi, để chỉ cho họ thấy cái tục lệ ấy lố bịch như thế nào. Tôi đã ở trong một tâm trạng rất tồi. Tất nhiên, điều đó thật là ngớ ngẩn và ngu ngốc.
Tôi đã phát hiện ra là luật lệ ấy không còn nữa; bạn có thể quay người lại khi đi ra xa nhà vua và bước đi như một người bình thường, theo hướng mà bạn định đi, với cái mũi ở phía trước.
Tôi rất mừng khi biết là không phải tất cả mọi người ở Thụy Điển đều xem những lễ nghi hoàng gia là quan trọng như bạn có thể nghĩ.
Khi bạn đến đó, bạn sẽ thấy là họ ở cùng phe với bạn.
Chẳng hạn, sinh viên có một buổi lễ riêng ở đó họ trao cho mỗi người đoạt giải Nobel một “Order of the Frog” (hiệp sĩ ếch) đặc biệt.
Khi nhận được chú ếch nhỏ này, bạn sẽ phải làm tiếng ếch ộp.
Khi còn trẻ, tôi ít quan tâm đến văn hóa, nhưng bố tôi có một số cuốn sách hay. Một cuốn có vở kịch Hy Lạp cổ Những Chú Ếch. Có lần tôi đã xem qua cuốn này và thấy ở đó viết là một con ếch nói chuyện kiểu “brec, kec, kec”. Tôi nghĩ: “Chẳng có con ếch nào phát ra âm thanh như thế. Mô tả cách ấy thì thật là dốt!” Vì thế, tôi thử, và sau khi tập luyện đôi chút, tôi đã nhận ra đó lại chính xác là tiếng nói của ếch.
Vậy là, việc tôi tình cờ ngó qua cuốn sách của Aristophanes ngày ấy hóa ra về sau lại có ích. Tôi có thể làm tiếng ếch kêu rất đạt ở buổi lễ sinh viên dành cho những người đoạt giải Nobel! Và việc nhảy lùi cũng thế. Bởi vậy tôi đã thích phần đó của buổi lễ; nó đã diễn ra rất hay.
Dù có rất nhiều trò vui, tôi vẫn gặp cái khó khăn tâm lý vốn có của mình trong suốt dịp trao giải thưởng. Vấn đề lớn nhất của tôi là lời cảm ơn mà bạn phải phát biểu ở bữa tối chiêu đãi của nhà vua. Khi trao cho bạn giải Thưởng, họ cũng đưa cho bạn mấy cuốn sách bìa bọc rất đẹp về những lần trao giải trước, trong đó có tất cả những lời cảm ơn được viết ra cứ như thể chúng là quan trọng lắm. Thế nên bạn bắt đầu nghĩ rằng những điều bạn nói trong lời cảm ơn là có tầm quan trọng đấy, vì nó sẽ được công bố thành sách. Điều tôi đã không nhận ra là ít ai sẽ lắng nghe nó một cách chăm chú, và cũng chẳng ai đọc nó! Tôi đã mất khả năng cảm nhận về sự long trọng: tôi không thể chỉ nói cảm ơn rất nhiều, ba-la-bô-lô-ba-la. Lẽ ra có thể dễ dàng làm việc đó, nhưng không, tôi phải nói trung thực. Và sự thật là, tôi thực sự không muốn giải thưởng này, thế thì tôi nói cảm ơn như thế nào khi tôi không muốn có nó?
Vợ tôi bảo tôi bị suy nhược thần kinh và lo lắng về việc tôi sẽ nói gì trong bài phát biểu. Nhưng cuối cùng, tôi cũng tìm ra cách để có được một bài phát biểu hết sức thỏa đáng mà vẫn hoàn toàn trung thực. Tôi chắc là những người đã nghe bài phát biểu đó không hề có ý niệm nào về những điều mà anh chàng này đã trải qua khi chuẩn bị nó.
Tôi đã bắt đầu bằng việc nói rằng tôi vừa nhận được giải thưởng của mình trong niềm vui mà tôi đã có khi khám phá ra những gì mà tôi đã làm, từ thực tế là những người khác đã sử dụng công trình của tôi, và vân vân. Tôi cố gắng giải thích rằng tôi đã nhận được tất cả những gì mà tôi mong đợi, và tất cả những gì còn lại là không đáng kể so với những gì tôi đã có. Tôi đã nhận được giải thưởng của mình rồi.
Nhưng rồi tôi đã kể là mình đã nhận được, cùng một lúc, một chồng lớn thư từ – khi phát biểu tôi đã kể điều này hay hơn nhiều - những lá thư nhắc tôi về tất cả những người mà tôi đã biết: những lá thư của các bạn thời thơ ấu họ đã nhảy cẫng lên khi họ đọc báo buổi sáng và hét ầm lên: “Mình biết cậu ấy! Chính là cái thằng mà bọn mình vẫn thường cùng chơi ấy mà!” và vân vân. Những lá thư như thế, những lá thư đầy khích lệ và thể hiện cái mà tôi hiểu là một dạng của tình yêu thương. Tôi đã cảm ơn họ về điều đó.
Bài phát biểu rất ổn, nhưng tôi luôn gặp chút ít khó khăn với những nghi lễ hoàng gia. Trong bữa tối chiêu đãi của nhà vui, tôi ngồi cạnh một công chúa đã từng học ở một trường đại học Mỹ. Tôi đã ngộ nhận rằng cô ấy có cùng quan điểm với mình. Tôi đã nghĩ cô ấy cũng chỉ là một đứa trẻ như mọi đứa trẻ khác. Tôi nhận xét việc nhà vua và các thành viên hoàng gia đã phải đứng rất lâu như thế nào để bắt tay tất cả khách mời ở chỗ tiếp tân trước bữa tối. “Ở Mỹ,” tôi nói: “Chúng tôi có thể làm việc này hiệu quả hơn. Chúng tôi sẽ thiết kế một cái máy bắt tay.”
“Đúng vậy, nhưng ở đây không có nhiều nhu cầu về cái máy đó đâu,” cô công chúa nói, không thoải mái. “Không nhiều nghi lễ hoàng gia lắm đâu.”
“Trái lại, nhu cầu sẽ rất lớn. Ban đầu, giả như chỉ mình nhà vua có một cái máy, và chúng tôi có thể tặng ông ấy miễn phí. Tất nhiên rồi những người khác cũng muốn có một cái. Vấn đề đặt ra lúc ấy là, ai sẽ được phép có cái máy này? Thủ tướng được phép mua một cái, rồi chủ tịch nghị viện được phép mua một cái, và rồi những nghị sĩ quan trọng nhất. Thế là sẽ có một thị trường rất lớn, liên tục mở rộng. Và chẳng mấy chốc cô sẽ không phải đi suốt hàng lễ tân để bắt tay với những cái máy; cô sẽ dành việc đó cho cái máy của mình!”
Tôi cũng ngồi gần quý bà phụ trách việc tổ chức bữa tiệc. Một nữ tiếp tân đi đến để rót rượu vào ly của tôi, nhưng tôi bảo: “Không, cảm ơn cô. Tôi không uống rượu.”
Quý bà đó nói: “Không, không. Hãy để cho cô ấy rót.”
“Nhưng tôi không uống rượu.”
Bà ấy bảo: “Không sao. Hãy nhìn xem. Ngài thấy đấy, cô ấy có hai chai. Chúng tôi biết là số tám mươi tám không uống.” (Số tám mươi tám ghi ở phía sau ghế của tôi). “Hai chai trông hoàn toàn như nhau, nhưng một chai không có cồn.”
“Nhưng làm sao mà Bà biết?” tôi nâng giọng.
Bà ấy mỉm cười. “Bây giờ xin ngài hãy nhìn nhà vua,” bà ấy bảo.
“Người cũng không uống rượu.”
Bà ấy kể với tôi một số rắc rối mà họ đã gặp phải trong cái năm đặc biệt ấy. Một trong đó là, đại sứ Liên Xô nên ngồi ở đâu? Ở những bữa tiệc như thế này vấn đề luôn là, ai ngồi cạnh nhà vua. Những người nhận giải thường ngồi gần nhà vua hơn là các nhà ngoại giao. Và thứ tự ngồi của các nhà ngoại giao được xác định theo khoảng thời gian họ đã ở Thụy Điển. Ở thời điểm đó, đại sứ Mỹ đã ở Thụy Điển lâu hơn đại sứ Liên Xô. Nhưng năm đó, giải thưởng Nobel Văn học được trao cho Sholokhov[2], một người Nga, mà đại sứ Liên Xô lại muốn làm người thông dịch cho Sholokhov – và do đó phải ngồi gần ông ấy. Vì thế, vấn đề là làm thế nào để đại sứ Liên Xô ngồi gần nhà vua hơn mà không làm mất lòng đại sứ Mỹ và các phái đoàn ngoại giao khác.
Bà ấy nói tiếp: “Giá mà ngài biết họ đã làm ầm ĩ như thế nào – thư đi thư lại, điện thoại liên miên, và vân vân – trước khi tôi nhận được sự chấp nhận để đại sứ Liên Xô ngồi cạnh Sholokhov. Cuối cùng, đã thoả thuận là trong buổi tối hôm đó ông đại sứ sẽ không chính thức đại diện cho đại sứ quán Liên Xô, mà chỉ đơn thuần là người thông dịch cho Sholokhov.”
Sau bữa tiệc, chúng tôi chuyển sang một phòng khác, ở đó đang có các cuộc trò chuyện khác nhau. Một cô công chúa nào đó của Đan Mạch đang ngồi ở một cái bàn cùng một số người nữa. Tôi thấy một cái ghế còn trống ở bàn của họ, nên cũng ngồi xuống.
Cô ấy quay lại phía tôi và nói: “Ồ! Ông là một trong những người đoạt giải Nobel. Công trình của ông thuộc về lĩnh vực nào vậy?”
“Về Vật lý,” tôi đáp.
“Ồ. Chà, chẳng ai hiểu gì về lĩnh vực đó, nên tôi nghĩ là chúng ta không thể trao đổi về nó được.”
“Ngược lại,” tôi trả lời. “Chính bởi vì mỗi người đều biết một điều gì đó về vật lý, nên chúng ta mới không thể nói về nó. Chúng ta có thể nói về những vấn đề mà chẳng ai biết tí gì về nó cả. Chúng ta có thể nói về thời tiết; chúng ta có thể nói về những vấn đề xã hội; chúng ta có thể nói về tâm lý học; chúng ta có thể nói về tài chính quốc tế - chúng ta không thể nói về các vụ chuyển vàng vì chúng đã hiểu rõ cả rồi. Vì thế, chúng ta luôn có thể nói về những chủ đề mà không ai biết gì về nó cả!”
Tôi không biết họ làm việc đó như thế nào. Có một cách tạo ra băng đá trên khuôn mặt, và cô công chúa đã làm được việc đó. Cô ta quay sang nói với một người khác.
Lát sau tôi có thể nói rằng mình đã hoàn toàn bị loại ra khỏi cuộc chuyện, nên tôi đứng dậy và đi sang chỗ khác. Ngài đại sứ Nhật, người cũng đang ngồi ở bàn đó, đứng ngay lên và bước theo tôi. “Giáo sư Feynman,” ông ấy gọi: “Có một điều mà tôi muốn nói với ông về nghệ thuật ngoại giao.”
Ông ấy dẫn ra một câu chuyện dài về việc một chàng trai trẻ ở Nhật vào trường đại học và theo học ngành quan hệ quốc tế bởi vì anh ta nghĩ anh ta sẽ có thể đóng góp cho đất nước của mình như thế nào. Bước vào năm thứ hai, anh ta bắt đầu có cảm giác nghi ngờ về những điều anh ta đang học. Sau khi tốt nghiệp, anh ta nhận công việc đầu tiên ở một đại sứ quán và còn nghi ngờ nhiều hơn về hiểu biết của mình về ngoại giao, cho đến khi cuối cùng anh ta nhận ra là chẳng ai biết tí gì về quan hệ quốc tế cả. Khi ấy, anh ta có thể trở thành một đại sứ! “Vì thế, giáo sư Feynman,” ông ấy nói: “Lần sau khi giáo sư đưa ra các ví dụ về những chủ đề mọi người thảo luận mà chẳng ai biết gì về chúng, thì xin hãy gộp cả quan hệ quốc tế vào!” ông đại sứ Nhật là một người rất thú vị, và chúng tôi đã chuyện trò với nhau. Tôi đã luôn quan tâm đến việc các quốc gia khác nhau và những con người khác nhau phát triển khác nhau như thế nào. Tôi đã nói với ông đại sứ rằng có một điều luôn ám ảnh tôi như một hiện tượng khác thường: làm thế nào mà Nhật đã tự mình phát triển nhanh như vậy để trở thành một quốc gia hiện đại và quan trọng như thế trên thế giới. “Những đặc điểm và tính cách nào của người Nhật đã làm cho nước Nhật có thể phát triển như vậy?” tôi hỏi.
Ông đại sứ trả lời theo cách mà tôi thích nghe: “Tôi không biết,” ông ấy nói. “Tôi có thể giả dụ một điều gì đó, nhưng tôi không biết liệu nó có đúng không. Người dân Nhật tin rằng họ chỉ có một cách để trỗi dậy: làm cho con cái họ được giáo dục tốt hơn chính bản thân họ; với họ điều rất quan trọng là phải thoát khỏi tình trạng lạc hậu để trở thành có giáo dục. Vì thế, các gia đình đều nỗ lực rất lớn để động viên con trẻ học thật tốt ở trường, và vươn cao hơn nữa. Nhờ có khuynh hướng học mọi thứ mọi lúc, các ý tưởng mới từ thế giới bên ngoài có thể rất dễ dàng lan tỏa qua hệ thống giáo dục. Có lẽ đó là một trong những lý do vì sao Nhật đã tiến bộ nhanh như vậy.”
Cuối cùng, về tổng thể tôi phải nói rằng tôi thích chuyến thăm Thụy Điển. Thay vì về nhà ngay sau đó, tôi đã đến CERN, trung tâm nghiên cứu hạt nhân châu Âu ở Thụy Sĩ, để đọc một bài giảng. Tôi xuất hiện trước các đồng nghiệp của mình trong bộ com-lê mà tôi đã mặc để dự bữa tiệc của nhà vua – trước đó tôi chưa bao giờ mặc com-lê giảng bài – và mở đầu bằng: “Các bạn biết không, một chuyện buồn cười; ở Thụy Điển, chúng tôi đã ngồi vẩn vơ, nói về liệu việc chúng tôi đoạt giải Nobel có mang lại thay đổi gì không, và thật ra, tôi nghĩ tôi đã nhìn thấy một sự thay đổi: tôi khá thích bộ com-lê này.”
Mọi người nói “Boooooo!” còn Weisskopf đứng lên, lột phăng cái áo vét ra và nói: “Chúng ta sẽ không mặc com-lê khi nghe bài giảng!”
Tôi cởi áo vét ra, nới lỏng ca-vát và nói: “Trong thời gian ở Thụy Điển, tôi đã bắt đầu thích trò này, nhưng bây giờ tôi đã quay trở lại với thế giới thực và mọi việc lại ổn cả. Cảm ơn đã làm tôi tỉnh ra!” họ không muốn tôi thay đổi. Thế là việc đó đã diễn ra rất nhanh: ở CERN họ xóa sạch những gì người ta đã làm ở Thụy Điển.
Việc có ít tiền cũng hay - tôi đã có thể mua một ngôi nhà bên bờ biển - nhưng nói chung, tôi nghĩ sẽ tốt hơn nếu không có cái giải thưởng đó - bởi vì bạn sẽ không bao giờ, không còn nữa, có thể được ứng xử chân thực trước công chúng.
Trong chừng mực nào đó, giải Nobel là một sự phiền toái, cho dù đã ít nhất một lần nhờ nó tôi có được cuộc vui. Không lâu sau khi tôi đoạt giải, Gweneth và tôi nhận được lời mời của chính phủ Brazil làm khách danh dự trong lễ hội hóa trang ở Rio. Chúng tôi vui vẻ nhận lời và đã có những ngày thật tuyệt. Chúng tôi đi từ đám khiêu vũ này sang đám khiêu vũ khác và duyệt cuộc diễu hành lớn trên phố, nổi bật với các trường samba danh tiếng đang chơi những giai điệu âm nhạc tuyệt vời của họ. Phóng viên ảnh của các báo và tạp chí chớp liên tục – “Đây, một giáo sư Mỹ đang khiêu vũ với hoa hậu Brazil.”
Việc là một “Sao” cũng rất ngộ, nhưng rõ ràng là chúng tôi đã là những ngôi sao không đúng chỗ. Không ai thật thích thú với các vị khách mời danh dự năm đó. Sau này, tôi đã biết được do đâu mà họ mời chúng tôi. Gina Lollobrigida[3] đã được đề xuất là khách mời danh dự, nhưng ngay trước lễ hội cô ấy đã từ chối. Bộ trưởng Du lịch, người chịu trách nhiệm tổ chức lễ hội hóa trang, có mấy người bạn ở Trung tâm nghiên cứu Vật lý, những người biết tôi đã từng chơi trong một ban samba, và vì tôi vừa mới đoạt giải Nobel, nên tôi đã xuất hiện đâu đó trên các bản tin. Trong lúc hoang mang, ông Bộ trưởng và bạn bè của mình đã nảy ra cái ý tưởng điên rồ: thay Gina Lollobrigida bằng một giáo sư vật lý!
Như bạn đã biết, do đã quyết định một việc dở như vậy trong cái lễ hội hóa trang ấy, mà ngài Bộ trưởng đã mất ghế của mình trong chính phủ.
❀ ❀ ❀
[1] Tên một thành phố ở gần Los Angeles, nơi có trường đại học California ở Irvine, một trong mười trường thành viên của hệ thống đại học công California.
[2] Tác giả của cuốn tiểu thuyết sử thi nổi tiếng Sông Đông êm đềm. (ND)
[3] Một nữ diễn viên và người mẫu tạp chí ảnh nổi tiếng người Ý. (ND)