Feyman: Chuyện Thật Như Đùa!

Lượt đọc: 527 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ngụy Khoa Học

❊ ❊ ❊

Ở thời trung cổ, từng có đủ loại ý tưởng điên rồ, chẳng hạn như một mảnh sừng tê giác có thể gia tăng khả năng tình dục. Rồi người ta tìm ra một phương pháp để phân biệt các ý tưởng – kiểm tra một ý tưởng xem nó có đúng không, nếu không thì loại bỏ nó đi. Tất nhiên, phương pháp này đã được tổ chức thành khoa học. Nó phát triển rất tốt, để rồi dẫn đến kỷ nguyên khoa học của chúng ta hôm nay. Thực tế là, kỉ nguyên khoa học gì mà chúng ta khó có thể hiểu được tại sao những tay lang băm vẫn hiện diện, khi mà những trò chúng bày đặt ra chẳng bao giờ đúng, hoặc chỉ một phần rất nhỏ là đúng.

Thậm chí, ngay hôm nay đây, tôi gặp nhiều người, mà không sớm thì muộn họ cũng sẽ lôi tôi vào những câu chuyện về đĩa bay, hoặc về thuật chiêm tinh, hoặc một dạng tâm linh, hay thần giao cách cảm, vv… Tôi đã khẳng định rằng, đó không phải là một thế giới khoa học.

Nhiều người tin vào quá nhiều điều thần diệu, đến mức tôi quyết định phải nghiên cứu xem vì sao họ lại tin như vậy. Chính cái tính ham tìm hiểu đã đặt tôi vào một tình huống khó khăn, khi phát hiện quá nhiều thứ rác rưởi, đến nỗi tôi thực sự bị choáng. Trước tiên, tôi bắt tay tìm hiểu các ý tưởng khác nhau của thuyết màu nhiệm và những trải nghiệm huyền bí. Tôi đã từng chui vào những cái thùng cách ly để có được ảo giác trong nhiều giờ, nhờ vậy tôi biết đôi chút về trạng thái ấy. Rồi, tôi đến Esalen[1], hang ổ của những ý tưởng thần bí (đó là một nơi rất đẹp; bạn nên đến thăm). Nhưng tôi đã bị choáng. Tôi đã không định hình nổi, sao mà lắm chuyện thế.

Ở Esalen có những bể tắm lớn, được cấp nước từ những con suối nước nóng trong mạch đá ở độ cao khoảng 9m so với mặt biển. Một trong những trải nghiệm dễ chịu nhất của tôi là ngồi trong một bể tắm như thế, quan sát sóng biển vỗ vào bờ đá phía dưới, ngắm bầu trời trong xanh trên cao, và chiêm ngưỡng một phụ nữ khỏa thân tuyệt đẹp khi cô ấy lặng lẽ xuất hiện và ngự vào bể nước cùng tôi.

Một lần, tôi ngồi vào một bể tắm, trong đó đã có một cô gái đẹp cùng một anh chàng có vẻ như chưa từng quen biết cô ấy. Ngay lập tức tôi nghĩ: “Chà! Làm thế nào để bắt chuyện được với cô nàng khoả thân xinh đẹp này nhỉ?”

Trong lúc tôi đang gắng nghĩ xem nên nói gì, thì anh chàng kia lên tiếng: “Này, anh đang học mát-xa. Liệu anh có thể thực hành với em không?”

“Được chứ,” cô nàng đáp. Họ ra khỏi bể và cô nàng nằm lên cái bàn mát-xa gần đó.

Tôi tự nhủ: “Tuyệt chiêu! Mình chẳng bao giờ có thể nghĩ được một chiêu như thế!” Anh ta bắt đầu xoa ngón chân cái của cô gái. “Anh nghĩ là anh cảm nhận được nó”, anh ta nói. “Anh cảm nhận thấy gì đó như một vết lõm. Phải chăng đó là tuyến yên?”

Tôi buột miệng: “Còn lâu cậu mới chạm tới được tuyến yên, anh bạn ạ.”

Tôi đã lộ diện - họ quay sang tôi với ánh nhìn bực dọc và nói “Đó là một phương pháp bấm huyệt bàn chân.”

Tôi nhắm mắt ngay lại và làm như đang thiền.

Đó chỉ là một ví dụ về loại chuyện đã làm tôi choáng. Tôi cũng tìm hiểu khả năng ngoại cảm, các hiện tượng cận tâm lý học và cả chuyện li kì gần đây nhất, đó là chuyện người đàn ông có tên Uri Geller[2], được cho là có khả năng uốn cong chiếc chìa khóa bằng cách cọ ngón tay vào nó. Theo lời mời, tôi đã đến phòng ông ấy ở khách sạn, để xem trình diễn cả đọc ý nghĩ lẫn bẻ cong chìa khóa. Ông ta thất bại trong màn đọc ý nghĩ; tôi đoán là chẳng ai có thể đọc được ý nghĩ của tôi. Rồi, con trai tôi cầm một cái chìa khóa và Geller chà xát nó, nhưng chẳng có gì xảy ra hết. Ông ta bảo, làm ở dưới nước dễ hơn. Và thế là, hãy tưởng tượng xem, tất cả chúng tôi đứng trong phòng tắm, mở vòi nước, chiếc chìa khóa ở phía dưới, và ông ấy lấy ngón tay chà xát nó. Chẳng có gì xảy ra cả. Vậy là, tôi đã không thể nghiên cứu hiện tượng này.

Rồi, tôi nghĩ, còn điều gì khác ở đây nữa mà chúng ta tin nhỉ? (Và, sau đó tôi có nghĩ về các tay lang băm và việc kiểm chứng bọn họ dễ như thế nào bằng cách lưu ý rằng chẳng có gì thực sự đúng cả). Vì thế, tôi đã tìm những chuyện, thậm chí còn được nhiều người tin hơn, như chuyện chúng ta có hiểu biết nào đó về phương pháp giáo dục. Có những trường lớn dạy các phương pháp đọc, các phương pháp toán học, vv., nhưng nếu để ý, bạn sẽ thấy điểm đọc càng ngày càng giảm hoặc rất khó tăng, cho dù chúng ta liên tục dùng vẫn những con người ấy, để cải tiến vẫn các phương pháp đó. Thuốc lang băm, thì không thể chữa khỏi bệnh được. Việc đó phải được xem xét; làm sao họ biết rằng phương pháp của họ có tác dụng? Một ví dụ khác là, làm thế nào để cải tạo các phạm nhân? Rõ ràng chúng ta chẳng tiến bộ chút nào – nhiều lý thuyết, nhưng không tiến bộ – trong giảm thiểu tội phạm bằng phương pháp, mà chúng ta vẫn đang dùng để quản lí phạm nhân.

Vậy mà, những điều này lại được nói là có tính khoa học. Chúng ta nghiên cứu chúng. Và tôi nghĩ, những người bình thường với đầu óc bình thường sẽ bị khiếp đảm bởi cái thứ ngụy khoa học này. Một cô giáo có ý tưởng hay để dạy đọc cho bọn trẻ, bị hệ thống nhà trường buộc phải làm theo cách khác – thậm chí còn bị hệ thống nhà trường ép phải thừa nhận rằng, phương pháp của cô ấy chưa chắc đã là tốt. Hay, phụ huynh của những đứa trẻ hư, sau khi đã kỉ luật chúng theo cách này hay cách khác, thường cảm thấy có lỗi trong suốt phần đời còn lại vì đã “Không làm đúng” theo lời khuyên của các chuyên gia.

Do vậy, chúng ta thực sự phải xem xét lại các lý thuyết không hiệu quả và cái gọi là khoa học mà không phải là khoa học.

Tôi nghĩ, các nghiên cứu về giáo dục và tâm lý, mà tôi đã đề cập ở trên, là những ví dụ mà tôi muốn gọi là ngụy khoa học. Ở các vùng biển phía nam có những người, mà trong thời gian chiến tranh, họ đã thấy những máy bay hạ cánh xuống, mang theo nhiều hàng hóa tốt, và họ muốn điều đó lại xảy ra bây giờ. Thế là họ dựng lên những thứ giống như đường băng, rồi đốt lửa dọc theo hai bên, làm một túp lều gỗ có người ngồi bên trong, với hai miếng gỗ trên đầu giống như hai tai nghe và những thanh tre thò ra ngoài như ăngten – anh ta là nhân viên điều phối bay – rồi họ đợi các máy bay hạ cánh. Họ làm mọi thứ rất khéo, hình dạng như thật. Tất cả đều giống hệt như những gì họ đã thấy trước đây. Nhưng, không có gì xảy ra cả. Không có máy bay nào hạ cánh. Thế nên, tôi gọi những thứ đó là ngụy khoa học, bởi lẽ họ tuân theo mọi qui tắc và khuôn mẫu bề ngoài của nghiên cứu khoa học, nhưng lại bỏ sót một cái gì đó rất quan trọng, và kết quả là chẳng có máy bay nào hạ cánh cả.

Dĩ nhiên, bây giờ tôi phải nói với bạn, họ đã bỏ sót cái gì. Nhưng việc này khó tương đương với việc giải thích cho những người dân biển đảo phía nam cách thức sắp xếp mọi thứ để hệ thống của họ có ít nhiều lợi ích. Nó không đơn giản như nói với họ cách cải tiến hình dạng chiếc tai nghe. Nhưng, tôi nhận thấy có một điều luôn bị bỏ qua trong ngụy khoa học. Đấy là điều mà tất cả chúng tôi hy vọng là, các bạn đã học được khi nghiên cứu khoa học ở nhà trường. Chúng ta chưa bao giờ nói một cách rõ ràng nó là gì, nhưng vẫn hy vọng là, các bạn nắm bắt được thông qua các ví dụ của việc nghiên cứu khoa học. Vì thế, đưa điều đó ra bây giờ và nói về nó một cách rõ ràng là một việc rất thú vị. Đó là một kiểu của tính trung thực trong khoa học, một nguyên tắc của tư duy khoa học, một kiểu trung thực tuyệt đối – một kiểu nỗ lực hết mình. Ví dụ, nếu bạn đang làm một thí nghiệm, bạn nên báo cáo cả những gì, mà bạn nghĩ có thể làm cho thí nghiệm đó không đáng tin cậy – không chỉ những gì, mà bạn nghĩ là đúng : những nguyên do khác có thể giải thích các kết quả của bạn; những gì theo bạn đã bị loại bỏ bởi một thí nghiệm khác và vì sao chúng bị loại bỏ - đảm bảo để người khác có thể tin là chúng đã bị loại bỏ.

Các chi tiết có thể gây nghi ngờ trong giải thích của bạn cũng phải được thông báo, nếu như bạn biết. Nếu như bạn thấy bất cứ điều gì sai, hoặc có thể sai, thì bạn phải làm hết khả năng của mình để giải thích điều đó. Ví dụ, nếu bạn xây dựng một lý thuyết và trình bày hoặc công bố nó, thì bạn phải dẫn ra tất cả những dữ kiện phù hợp và cả những dữ kiện không phù hợp với nó. Có một vấn đề còn tinh tế hơn. Khi bạn kết hợp nhiều ý tưởng để tạo ra một lý thuyết phức tạp, trong việc giải thích những gì phù hợp với lý thuyết, bạn muốn làm cho rõ rằng, đó không chỉ là những thứ mang đến cho bạn ý tưởng về lý thuyết này, mà thêm vào đó, lý thuyết nhận được phải cho những kết quả đúng đắn khác nữa.

Tóm lại, chủ ý là, cố gắng đưa ra tất cả các thông tin, giúp người khác đánh giá được giá trị những đóng góp của bạn, chứ không chỉ thông tin dẫn đến đánh giá thiên lệch theo hướng này hay hướng khác.

Cách dễ dàng nhất để giải thích ý tưởng này là, so sánh nó, chẳng hạn, với quảng cáo. Tối qua, tôi nghe thấy quảng cáo rằng, dầu ăn Wesson không ngấm vào thức ăn. Đồng ý, điều đó đúng. Quảng cáo thế không phải là dối trá, nhưng cái mà tôi muốn nói đến không chỉ là không dối trá, mà là vấn đề trung thực khoa học, nó ở một cấp độ khác. Một sự thật nên được thêm vào quảng cáo đó là, không có loại dầu ăn nào ngấm vào thức ăn khi nấu ở một nhiệt độ nhất định. Nếu nấu ở nhiệt độ khác thì tất cả, kể cả dầu Wesson, đều sẽ ngấm vào thức ăn. Vì vậy, vấn đề ở đây nằm ở cái đã được chuyển tải, chứ không phải một thực tế, một sự thật, và sự khác biệt chính là cái chúng ta quan tâm.

Từ kinh nghiệm thực tiễn chúng ta đã biết rằng, sự thật rồi sẽ được phơi bày. Các nhà thực nghiệm khác sẽ làm lại thí nghiệm của bạn và sẽ tìm ra bạn đúng hay sai. Những hiện tượng tự nhiên khớp hay không khớp với lý thuyết của bạn. Mặc dù bạn có thể có được ít nhiều hứng khởi và chút ít tiếng tăm tạm thời, nhưng bạn sẽ chẳng thể có được một danh tiếng tốt với tư cách một nhà khoa học, nếu bạn không thật sự cẩn trọng với loại công việc này. Và chính kiểu trung thực này, kiểu cẩn trọng để không tự lừa phỉnh mình, hiện đang bị bỏ qua trên một phạm vi rộng trong phần lớn các nghiên cứu dạng ngụy khoa học.

Dĩ nhiên, phần nhiều khó khăn của họ là khó khăn về chủ đề và việc không thể áp dụng các phương pháp khoa học vào chủ đề đó. Dù sao, cũng nên thấy rằng, đây không phải là khó khăn duy nhất. Đó là vì sao các máy bay không hạ cánh – mà thực tế chúng không hạ cánh.

Qua thực tiễn chúng ta cũng đã học được phương pháp xử lí một số cách tự lừa phỉnh mình. Một ví dụ: milikan[3] đo điện tích của electron bằng thí nghiệm các giọt dầu rơi và thu được kết quả, mà bây giờ ai cũng biết là không thực sự chính xác. Có một chút sai lệch do ông ấy đã dùng giá trị không chính xác của độ nhớt không khí. Thật thú vị khi nhìn vào lịch sử các phép đo điện tích electron được thực hiện sau milikan. Nếu biểu thị các kết quả đó theo thời gian, bạn sẽ thấy một kết quả lớn hơn kết quả của milikan một chút, rồi một kết quả tiếp lại lớn một chút, một kết quả tiếp lại lớn hơn một chút, và cuối cùng chúng qui về một con số lớn hơn.

Vì sao họ lại không phát hiện ra ngay rằng, con số mới là lớn hơn? Đây là câu chuyện, mà các nhà khoa học phải cảm thấy xấu hổ, bởi vì rõ ràng là người ta đã hành xử như thế này. Khi họ thu được một con số quá cao so với kết quả của milikan, họ nghĩ rằng chắc chắn có sai sót nào đó, họ tìm kiếm và rồi cũng tìm ra một nguyên nhân có thể dẫn đến sai sót. Còn, khi họ nhận được giá trị gần hơn với kết quả của milikan, thì họ lại không xem xét thật cẩn thận. Rồi họ loại bỏ những kết quả lệch nhiều so với giá trị của milikan, hay làm những việc tương tự như thế. Ngày nay, chúng ta đã biết những xảo thuật này, nên không còn mắc những bệnh như thế nữa.

Tuy vậy, lịch sử lâu dài của việc học cách không tự lừa phỉnh mình – của việc có được trung thực khoa học tuyệt đối là, tôi xin lỗi phải nói, cái mà chúng ta chưa chú tâm đưa vào bất cứ môn học nào, mà tôi biết. Chúng tôi chỉ hy vọng là, bạn sẽ học được bằng cách ngấm dần.

Nguyên tắc đầu tiên là bạn không được tự lừa phỉnh chính mình – bạn chính là người dễ bị lừa nhất. Vì thế bạn phải rất thận trọng với điều đó. Sau khi bạn không còn bị chính mình lừa phỉnh nữa, bạn sẽ dễ dàng không lừa phỉnh các nhà khoa học khác. Sau đó, bạn chỉ cần trung thực theo cách thông thường.

Tôi muốn nói thêm đôi điều, dù chúng không thật quan trọng đối với khoa học, nhưng tôi gần như tin, đó là việc bạn không nên lừa bịp người không ở trong nghề, khi bạn nói với tư cách là một nhà khoa học. Tôi không định nói với các bạn về việc làm gì để lừa gạt vợ bạn, hay phỉnh nịnh cô bạn gái, hay việc gì đó tương tự, khi bạn không có ý định trở thành một nhà khoa học, mà chỉ là một người bình thường. Chúng tôi dành việc đó cho bạn cùng với những giáo sĩ Do thái của bạn. Tôi sẽ chỉ nói về một thứ trung thực đặc biệt, thứ trung thực tối thượng. Đó không phải là chuyện nói dối, mà là việc bạn phải nỗ lực hết mình, để chỉ ra rằng, bạn có thể sai như thế nào - một việc bạn phải làm khi hành xử như một nhà khoa học. Đây là trách nhiệm của chúng ta với tư cách các nhà khoa học trước các nhà khoa học khác, và tôi nghĩ, trước cả những người không làm khoa học.

Ví dụ, tôi hơi ngạc nhiên khi nói chuyện với một người bạn sắp lên chương trình phát thanh. Anh ấy nghiên cứu Vũ trụ - Thiên văn học, và băn khoăn không biết làm thế nào để giải thích các ứng dụng của công việc nghiên cứu này. “Chà,” tôi nói: “Chẳng có ứng dụng nào hết.” Anh ta bảo: “Thì đúng như thế, nhưng nếu thế, thì chúng tôi sẽ chẳng nhận được tài trợ cho những nghiên cứu theo chủ đề này nữa.” Tôi nghĩ, đó là một kiểu không trung thực. Nếu bạn thể hiện mình như một nhà khoa học, bạn nên giải thích cho công chúng biết bạn đang làm gì. Trong hoàn cảnh ấy, nếu họ không muốn tài trợ cho bạn, thì đó là quyền của họ.

Đây là một ví dụ về nguyên tắc vừa nói. Nếu bạn đã quyết định kiểm tra một lý thuyết, hoặc muốn giải thích một ý tưởng nào đó, bạn nên công bố nó, dù bằng cách nào. Nếu chúng ta chỉ công bố một loại kết quả nào đó, chúng ta có thể làm cho lập luận của mình có vẻ tốt. Nhưng, chúng ta phải công bố cả hai loại kết quả.

Tôi cho rằng, việc đưa ra những tư vấn cho chính phủ cũng quan trọng. Ví như, một thượng nghị sĩ nhờ bạn tư vấn về việc có nên khoan một lỗ thăm dò ở bang của ông ấy hay không; và bạn thấy, tốt hơn là nên khoan ở bang nào đó khác. Nếu bạn không công bố kết quả này, thì với tôi, dường như bạn chưa cho một tư vấn có tính khoa học. Bạn đang bị lợi dụng. Nếu lời khuyên của bạn phù hợp với ý định của chính quyền hay của các chính trị gia, thì họ có thể lợi dụng lời khuyên này như một lý lẽ phục vụ lợi ích của mình; còn ngược lại, thì họ sẽ bịt kín đi, không để lọt ra ngoài. Đó không phải là tư vấn có tính khoa học. Một số loại sai sót khác là đặc trưng của khoa học chất lượng tồi. Khi còn ở Cornell, tôi thường nói chuyện với những người ở khoa tâm lý học. Một trong các sinh viên nói với tôi rằng cô ấy muốn làm một thí nghiệm như thế này. Người ta đã phát hiện ra rằng, trong những điều kiện nhất định X nào đó, lũ chuột sẽ làm điều A, chẳng hạn. Cô ấy tò mò muốn biết, nếu thay đổi sang điều kiện Y, thì liệu chúng có còn làm điều A không. Vì thế cô ấy đề xuất làm một thí nghiệm với những điều kiện Y, để xem lũ chuột có còn làm điều A nữa không.

Tôi đã giải thích cho cô ấy rằng, trước tiên, cần lặp lại thí nghiệm của những người khác trong phòng thí nghiệm của cô ấy – tức là làm thí nghiệm với điều kiện X để xem có quan sát được A không đã, rồi mới tính đến chuyện chuyển sang điều kiện Y, để xem A có thay đổi đi hay không. Như thế thì cô ấy mới biết được, sự khác nhau về điều kiện thí nghiệm đúng là nguyên nhân làm thay đổi A, và cô ấy mới kiểm soát được vấn đề.

Cô gái rất vui với ý tưởng mới này và đến gặp giáo sư của mình. Câu trả lời của ông ấy là không, cô không nên làm điều đó, bởi vì thí nghiệm ấy đã được làm rồi và cô chỉ mất thời gian vô ích thôi. Lúc đó là khoảng năm 1947 và dường như xu hướng chung ở giai đoạn này là, không lặp lại những thí nghiệm về tâm lý học, mà chỉ thay đổi điều kiện để xem cái gì sẽ xảy ra.

Ngày nay, sai sót nguy hiểm kiểu như vậy vẫn đang xảy ra, thậm chí trong cả lĩnh vực cự phách như vật lý. Tôi đã sốc khi nghe một người nói về thí nghiệm nghiên cứu deuteri[4] của anh ta, thực hiện ở máy gia tốc lớn tại phòng thí nghiệm máy gia tốc quốc gia. Để so sánh các kết quả cho hyđrô nặng này với kết quả tương ứng cho hyđrô nhẹ, anh ta buộc phải sử dụng dữ liệu thí nghiệm của một người nào đó, thu được trên các thiết bị thí nghiệm khác. Khi được hỏi tại sao, anh ta cho biết, vì không xin được thời gian để làm thí nghiệm với hyđrô nhẹ trên máy gia tốc lớn (thời gian rất hạn chế và đó là một thí nghiệm đắt tiền) do người ta nghĩ rằng, sẽ chẳng thu được kết quả gì mới. Như vậy, những người chịu trách nhiệm về các chương trình nghiên cứu tại phòng thí nghiệm máy gia tốc quốc gia đã quá quan tâm đến việc phải có được những kết quả mới, cốt để tiếp tục nhận được tiền cho những mục đích ít khoa học hơn. Có thể họ đang hủy hoại giá trị của những thí nghiệm, vốn là mục đích chính của tất cả những gì mà họ đang làm. Đối với các nhà thực nghiệm, thật khó có thể điều hành công việc theo đúng tinh thần của tính trung thực khoa học.

Tuy nhiên, tất cả những thí nghiệm tâm lý học đều không thuộc loại này. Ví dụ, có nhiều thí nghiệm về những con chuột chạy trong các mê cung, vv… – với chút ít kết quả rõ ràng. Nhưng vào năm 1937, một người đàn ông có tên Young đã thực hiện một thí nghiệm rất thú vị. Ông ta dùng một hành lang dài với nhiều cửa dọc theo một phía, nơi các chú chuột đi vào, và các cửa dọc theo phía kia, nơi có đặt thức ăn. Ông ta muốn xem, liệu có thể huấn luyện các con chuột đi vào cửa thứ ba, bất kể chúng được thả ra ở đâu. Không. Lũ chuột chạy ngay đến cái cửa, mà trước đó đã có thức ăn.

Câu hỏi đặt ra là, làm thế nào lũ chuột biết được rằng đó chính là cái cửa lần trước, bởi vì hành lang được xây rất đẹp và các cửa thì giống hệt nhau? Rõ ràng là có cái gì đó ở cửa này không giống với tất cả những cửa khác. Thế là ông bèn sơn các cánh cửa rất cẩn thận, sắp xếp các hoa văn ở mặt cửa hoàn toàn giống nhau. Nhưng lũ chuột vẫn nhận ra. Rồi ông nghĩ, có lẽ lũ chuột ngửi thấy mùi thức ăn, nên đã dùng hóa chất thay đổi mùi sau mỗi lần thử. Lũ chuột vẫn nhận ra. Sau đó, ông ấy nghĩ rằng, có lẽ lũ chuột nhận biết qua ánh sáng và cách bài trí trong phòng thí nghiệm, như bất cứ người bình thường nào. Vì vậy, ông đã bịt kín hành lang, nhưng lũ chuột vẫn nhận biết được.

Cuối cùng, ông ấy phát hiện ra rằng chúng có thể nhận biết nhờ tiếng động do sàn nhà phát ra, khi chúng chạy trên đó. Và ông ấy chỉ có thể xác định được điều đó, khi rải cát lên hành lang. Vậy là, ông ấy đã loại bỏ lần lượt tất cả các manh mối có thể, để rồi cuối cùng đã lừa được lũ chuột, và chúng phải học cách đi vào cửa thứ 3. Nếu ông nới lỏng một trong những điều kiện đó, thì lũ chuột sẽ nhận biết ngay.

Theo quan điểm khoa học, đó là một thí nghiệm thượng hạng. Chính thí nghiệm này làm cho tất cả các thí nghiệm cùng loại có ý nghĩa, bởi vì nó chỉ ra những manh mối mà lũ chuột đã thực sự dùng – không phải những thứ bạn nghĩ là chúng dùng. Và đây là thí nghiệm nói cho bạn biết chính xác các điều kiện bạn phải sử dụng để có được sự cẩn trọng và kiểm soát được mọi thứ trong thí nghiệm với các con chuột chạy.

Tôi theo dõi sát lịch sử tiếp sau của nghiên cứu này. Những thí nghiệm sau, rồi thí nghiệm sau nữa, không hề nhắc đến ông young. Họ chẳng hề sử dụng bất cứ tiêu chuẩn nào của ông ấy trong việc rải cát trên hành lang cũng như sự cẩn trọng cao độ của ông. Họ chỉ làm thí nghiệm với những con chuột chạy theo cách cũ và chẳng chú ý gì đến những khám phá vĩ đại của ông young. Và những bài báo của ông ấy không được nhắc đến, chỉ vì ông không phát hiện ra bất cứ điều gì về những con chuột. Thực ra, ông ấy đã khám phá ra tất cả những gì, mà bạn cần làm để có thể khám phá ra điều gì đó về những con chuột. Không để ý đến những thí nghiệm như vậy cũng là một đặc điểm của thứ ngụy khoa học.

Một ví dụ nữa là những thí nghiệm về ngoại cảm (ESP) của ông Rhine[5] và những người khác. Khi người ta phê phán – và bản thân họ cũng phê phán chính những thí nghiệm của mình – họ đã cải tiến một số kĩ thuật để cho các hiệu ứng nhỏ hơn, nhỏ hơn, và nhỏ hơn, cho đến khi chúng dần biến mất. Tất cả những nhà cận tâm lý học đang tìm kiếm một thí nghiệm nào đó có thể lặp lại – một thí nghiệm, mà bạn có thể lặp lại và thu được cùng kết quả – cho dù chỉ mang tính thống kê. Họ cho một triệu con chuột chạy – không, lần này là con người – họ làm rất nhiều thứ và thu được một kết quả thống kê nào đó. Lần sau, họ thử lại và không thu được kết quả đó nữa. Và giờ đây, bạn thấy một người nói rằng, chờ đợi một thí nghiệm có thể lặp lại là đòi hỏi không xác đáng. Đấy là khoa học ư?

Trong bài phát biểu miễn nhiệm khỏi chức Viện trưởng Viện nghiên cứu các vấn đề cận tâm lý, người này còn nói về một viện mới. Và, khi nói với mọi người về công việc tiếp theo, ông ta bảo rằng, một trong những việc mà họ phải làm là đảm bảo rằng, họ sẽ chỉ đào tạo những sinh viên đã thể hiện có khả năng thu được những kết quả ngoại cảm ở một mức độ chấp nhận được, không phí thời gian của họ với những sinh viên đam mê và có tham vọng, nhưng chỉ đạt các kết quả không chắc chắn. Thật là nguy hiểm khi có một chính sách như thế trong giảng dạy - chỉ dạy sinh viên làm thế nào để có được những kết quả nào đó, chứ không dạy cách làm thí nghiệm với sự trung thực khoa học.

Vì vậy, tôi chỉ có một cầu chúc cho các bạn – chúc các bạn may mắn neo đậu được ở một nơi, mà các bạn được tự do gìn giữ tính trung thực như tôi đã mô tả ở trên, nơi mà các bạn không cảm thấy bị thúc ép bởi nhu cầu giữ chỗ làm việc, hay tài trợ, hay gì đó, đến nỗi phải đánh mất tính trung thực của mình. Cầu mong cho bạn có được sự tự do đó.

❀ ❀ ❀

[1] Một địa điểm ở vùng duyên hải cách San Francisco 193 km về phía nam, bang California, Mỹ. (ND)

[2] Uri Geller (1946 -) - nhà ảo thuật người Israel gốc Anh, người đã tuyên bố rằng có thể bẻ cong thìa bằng năng lượng tinh thần. (ND)

[3] Robert Andrews Milikan (22/03/1868-19/12/1953) là nhà vật lý người mỹ, đạt giải Nobel Vật lý năm 1924 nhờ đo được điện tích của electron và công trình nghiên cứu về hiệu ứng quang điện. (ND)

[4] Còn gọi là hydrô nặng, ký hiệu là D. (ND)

[5] Joseph Banks Rhine (1895-1980) được xem là người tiên phong trong lĩnh vực ngoại cảm. Ông đã thành lập cả một phòng thí nghiệm về ngoại cảm tại trường đại học tư Duke, ở Durham, bang North Carolina, Mỹ. (ND)

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.