Sau chiến tranh, các nhà vật lý thường được mời đến Washington để tư vấn cho các bộ phận khác nhau của chính phủ, nhất là quân đội. Nguyên do của việc này, theo tôi, là ở chỗ các nhà khoa học đã chế tạo được bom nguyên tử, vũ khí tối quan trọng, nên giới quân sự cảm thấy chúng tôi có ích cho họ.
Có lần tôi đã được mời làm việc trong hội đồng đánh giá các vũ khí khác nhau cho quân đội, và tôi đã viết thư phúc đáp giải thích rằng tôi chỉ là một nhà vật lý lý thuyết, và tôi chẳng biết tí gì về vũ khí cho quân đội cả.
Thư phản hồi của quân đội nói rằng, theo kinh nghiệm của họ, các nhà vật lý lý thuyết đã giúp họ rất nhiều trong việc đưa ra các quyết định, vậy nên họ thiết tha đề nghị tôi nghĩ lại.
Tôi phúc đáp một lần nữa và nói rằng tôi thực sự không biết gì cả, nên không chắc có thể giúp ích cho họ.
Cuối cùng, tôi nhận được một lá thư từ ngài bộ trưởng lục quân đề xuất phương án thỏa hiệp: tôi sẽ tham dự buổi họp đầu tiên, ở đó tôi có thể lắng nghe và xem liệu mình có thể đóng góp được gì không.
Sau đó, tôi có thể quyết định có nên tiếp tục tham gia hay không.
Tất nhiên, tôi đã đồng ý. Tôi còn có thể làm gì khác nữa?
Tôi đến Washington và việc đầu tiên của tôi là tham dự bữa tiệc cocktail để gặp gỡ mọi người. Có các vị tướng và những nhân vật quan trọng khác của quân đội; mọi người chuyện trò. Bữa tiệc khá dễ chịu. Một người mặc đồng phục đến nói với tôi rằng quân đội rất mong được các nhà vật lý tư vấn vì quân đội có rất nhiều vấn đề. Một trong các vấn đề đó là việc xe tăng ngốn nhiên liệu quá nhanh nên không thể chạy đủ xa. Vì thế vấn đề là làm thế nào để tiếp nhiên liệu cho xe tăng khi chúng đang vận động. Lúc ấy vị này có ý tưởng là, vì các nhà vật lý có thể lấy năng lượng từ uranium, liệu tôi có thể tìm ra phương pháp cho phép sử dụng oxit silic – cát, bụi đất – như là một loại nhiên liệu. Nếu được như thế, thì tất cả những gì dân tăng cần làm chỉ là gắn một cái xẻng nhỏ ở gầm xe, khi xe chạy cái xẻng sẽ xúc bùn đất lên dùng làm nhiên liệu! Ông ta nghĩ rằng đó là một ý tưởng lớn, và rằng tất cả những gì tôi cần làm chỉ là giải quyết các chi tiết. Đó là một loại vấn đề mà tôi cho là chúng tôi sẽ thảo luận trong cuộc họp ngày hôm sau.
Tôi đến cuộc họp và nhận thấy rằng cái anh chàng đã giới thiệu tôi với mọi người trong bữa tiệc cocktail đã đang ngồi ngay cạnh mình. Anh ta rõ ràng là một kiểu nhân viên được giao nhiệm vụ luôn bám sát tôi. Ngồi cạnh tôi phía kia là một ông tướng cấp cao mà trước đó tôi đã nghe nói đến.
Ở phần đầu của cuộc họp, người ta nói về một số vấn đề có tính kỹ thuật và tôi đã đưa ra một vài nhận xét. Nhưng sau đó, ở gần cuối cuộc họp, họ bắt đầu thảo luận một vấn đề gì đó về hậu cần, mà tôi chẳng biết tí gì. Phải suy nghĩ xem bạn cần có bao nhiêu trang thiết bị ở những địa điểm khác nhau tại các thời điểm khác nhau. Mặc dù tôi đã cố ngậm cái miệng của mình lại, nhưng khi bạn rơi vào tình huống như tôi - ngồi cùng bàn với “Những người quan trọng” và thảo luận “Những vấn đề hệ trọng” - thì bạn không thể nào im lặng được, ngay cả khi bạn tuyệt nhiên chẳng biết gì cả! Vì thế tôi cũng đã đưa ra một vài nhận xét trong buổi thảo luận đó.
Trong giờ giải lao tiếp theo, anh chàng được giao nhiệm vụ chăm sóc tôi đã nói: “Tôi rất ấn tượng với những điều mà ngài đã nói trong phần thảo luận. Chúng chắc hẳn là một đóng góp quan trọng.”
Tôi sững lại và nghĩ về “Đóng góp” của mình cho vấn đề hậu cần, và nhận ra là một người kiểu như anh chàng đặt hàng cho lễ giáng sinh ở siêu thị Macy’s[1] cũng có thể tìm ra cách giải quyết các vấn đề như thế tốt hơn cả tôi. Vì thế tôi đã kết luận: a) nếu tôi đã có một đóng góp quan trọng, thì đó hoàn toàn là may rủi; b) Bất kỳ ai cũng có thể làm được như vậy, mà hầu như mọi người đều có thể làm tốt hơn, và c) sự tâng bốc này đánh thức tôi về một thức tế là tôi không có khả năng đóng góp được gì nhiều.
Ngay sau đó, họ đã quyết định, trong cuộc họp ấy, rằng họ có thể làm tốt bằng cách thảo luận việc tổ chức nghiên cứu khoa học (chẳng hạn như công tác phát triển khoa học nên giao cho bên công binh hay bên hậu cần?) hơn là các vấn đề mang tính kỹ thuật đặc thù. Tôi biết rằng nếu có một chút hy vọng về việc tôi có đóng góp thực sự, thì đóng góp đó chỉ có thể ở một vấn đề kỹ thuật cụ thể nào đó, và chắc chắn không phải ở cách tổ chức nghiên cứu trong quân đội.
Cho đến lúc ấy tôi chưa hề biểu lộ thái độ của mình về tình cảnh đó cho vị chủ tọa cuộc họp – một nhân vật quan trọng, người đã mời tôi từ ban đầu. Khi chúng tôi sắp xếp đồ đạc để về, ông ta đã nói với tôi, cười tươi: “Anh sẽ tham gia với chúng tôi chứ, vậy thì, cuộc họp sau nhé…”
“Không, tôi sẽ không tham gia nữa.” Tôi có thể thấy sự thay đổi đột ngột của nét mặt ông ấy. Ông đã hết sức ngạc nhiên thấy tôi có thể nói không, sau khi đã có những “Đóng góp” như vậy.
Trong những năm đầu của thập niên 60, rất nhiều bạn bè của tôi vẫn còn tư vấn cho chính phủ. Trong khi đó, tôi không còn có cảm nhận về trách nhiệm xã hội nữa và với tất cả khả năng có thể tôi từ chối những lời mời đến với Washington, một việc làm đòi hỏi có dũng khí nhất định vào thời gian ấy.
Cũng thời gian đó, tôi đang đọc một loạt bài giảng vật lý cho sinh viên năm thứ nhất, và sau một trong các bài giảng này, Tom Harvey, trợ lý giúp tôi sắp xếp các minh họa, đã nói: “Thầy nên xem điều gì đang xảy ra với môn toán trong sách giáo khoa phổ thông! Con gái em mang về nhà rất nhiều thứ điên rồ!” Tôi không để ý nhiều đến điều cậu ấy nói.
Nhưng hôm sau, tôi nhận một cuộc điện thoại từ ông norris, một luật sư khá nổi tiếng ở pasadena, lúc ấy đang ở trong uỷ ban giáo dục của bang. Ông ấy đề nghị tôi tham gia hội đồng chương trình giảng dạy của bang với nhiệm vụ là chọn ra các sách giáo khoa phổ thông mới cho bang California. Bạn thấy đấy, bang California có một đạo luật nói rằng tất cả các sách giáo khoa phổ thông dùng cho tất cả học sinh ở tất cả các trường công lập phải do uỷ ban giáo dục của bang lựa chọn, vì thế họ có một hội đồng để thẩm định sách và đề xuất với uỷ ban nên chọn những cuốn nào.
Hóa ra là có nhiều sách sử dụng một phương pháp mới để dạy số học, cái mà họ gọi là “Toán học mới”, và vì thường thì chỉ các giáo viên phổ thông và các nhà quản lý giáo dục thẩm định những cuốn sách ấy, nên họ nghĩ là sẽ rất bổ ích nếu có ai đó đang sử dụng toán trong khoa học, một người biết được sản phẩm cuối cùng của toán là gì và chúng ta đang gắng dạy toán vì mục đích gì, để trợ giúp trong việc đánh giá sách giáo khoa phổ thông.
Lúc đó chắc hẳn tôi lăn tăn về việc mình đã thiếu hợp tác với chính quyền, và bởi thế tôi đã nhận lời tham gia hội đồng này.
Ngay lập tức, tôi nhận được thư và điện thoại từ các nhà xuất bản. Họ nói đại loại như: “Chúng tôi rất mừng biết tin ngài tham gia hội đồng vì chúng tôi thực sự muốn có một nhà khoa học…” và “Thật tuyệt vời khi có một nhà khoa học trong hội đồng, vì sách của chúng tôi có định hướng khoa học…” họ còn nói những điều như: “Chúng tôi muốn giải trình với ngài rằng sách của chúng tôi là về…” và “Chúng tôi sẽ rất hân hạnh được trợ giúp ngài, bằng mọi cách trong khả năng của mình, để đánh giá sách của chúng tôi…” Với tôi, đó là một việc ngu xuẩn. Tôi là một nhà khoa học khách quan, và theo tôi, những cuốn sách là thứ duy nhất mà bọn trẻ ở trường học sẽ có được (thầy giáo có sách của thầy giáo, tôi cũng có sách ấy), bất kỳ lời giải thích thêm nào từ nhà xuất bản đều là sự bóp méo. Vì thế, tôi không muốn nói chuyện với bất kỳ nhà xuất bản nào và luôn trả lời rằng: “Các ngài không cần giải thích gì cả; tôi chắc chắn là những cuốn sách sẽ tự nói cho mình.”
Tôi đại diện cho một khu vực, gồm phần lớn vùng Los Angeles, trừ thành phố Los Angeles, nơi đã có bà Whitehouse, một người dễ mến của hệ thống trường học LA, làm đại diện. Ông Norris đề nghị tôi nên gặp bà ấy và tìm hiểu xem nhiệm vụ của hội đồng là gì và phương thức hoạt động ra sao.
Bà Whitehouse bắt đầu bằng việc nói với tôi về công việc mà họ sẽ thảo luận trong cuộc gặp tới (họ đã có một cuộc họp; tôi được bổ nhiệm muộn). “Họ sẽ bàn về các số đếm”. Tôi không biết đó là cái gì, nhưng hóa ra đó chính là cái mà tôi thường gọi là các số nguyên. Cái gì họ cũng có tên khác, thành thử tôi gặp khá nhiều phiền toái ngay từ ban đầu.
Bà ấy đã cho tôi biết cách thức các thành viên hội đồng thường làm để đánh giá những cuốn sách mới. Họ thường nhận được khá nhiều bản in của mỗi cuốn sách và họ gửi chúng tới các thầy giáo và những người quản lý giáo dục trong địa hạt của mình. Sau đó, họ nhận lại báo cáo cho biết những người này nghĩ gì các cuốn sách đó. Bởi vì tôi không quen biết nhiều giáo viên và các nhà quản lý giáo dục, và cũng vì tôi cảm thấy, bằng cách tự đọc các cuốn sách ấy, tôi có thể quyết định được chúng là như thế nào theo cách nhìn của tôi, nên tôi đã chọn cách tự đọc tất cả. (Có một số người trong địa hạt tôi phụ trách muốn tham gia thẩm định sách và muốn có cơ hội bày tỏ quan điểm của mình. Bà Whitehouse đề nghị chuyển các báo cáo của họ cho mình, để họ cảm thấy thỏa mãn và tôi cũng không phải bận tâm về những phàn nàn của họ. Họ được thỏa mãn, còn tôi cũng không bị rắc rối gì nhiều).
Vài ngày sau, một người ở kho sách điện thoại cho tôi và nói: “Chúng tôi đã sẵn sàng gửi sách cho ngài, thưa ngài Feynman; có tất cả khoảng 136 kg.”
Tôi choáng luôn.
“Xin ngài yên tâm, thưa ngài Feynman; chúng tôi sẽ kiếm một người giúp ngài đọc chỗ sách đó.”
Tôi không thể hình dung ra bạn làm việc đó bằng cách nào: hoặc là bạn đọc những cuốn sách đó, hoặc là bạn không đọc chúng. Thế là tôi có một giá sách đặc biệt đặt trong phòng làm việc ở tầng dưới (chỗ sách ấy chiếm mười bảy feet), và bắt đầu đọc tất cả các cuốn sẽ đưa ra thảo luận trong cuộc họp tới. Chúng tôi sẽ bắt đầu với sách bậc tiểu học.
Đó là công việc khá nặng nhọc, và tôi đã dành toàn bộ thời gian làm việc này ở dưới tầng hầm. Vợ tôi nói rằng thời gian đó giống như sống trên miệng một núi lửa. Yên ắng một chốc, rồi đột nhiên: “Buuuuummmmmm!!!” – cứ như có một vụ nổ lớn từ “Núi lửa” ở phía dưới.
Lý do là những cuốn sách đó quá thể là tệ. Chúng sai. Chúng được viết một cách cẩu thả. Người ta cố gắng tỏ ra chặt chẽ, nhưng họ lại thường dùng các ví dụ (như là các ô tô trên đường phố là ví dụ về “Các tập”) mà chúng gần như tạm được, nhưng trong chúng luôn có những điểm yếu khó nhận ra. Các định nghĩa không chính xác. Mọi thứ đều hơi hơi mù mờ – họ không đủ thông minh để hiểu “Chặt chẽ” nghĩa là gì. Họ ngụy tạo nó. Họ đang dạy những điều mà họ không hiểu, những điều mà thực tế là vô dụng đối với trẻ em ở thời điểm đó.
Tôi hiểu điều mà họ đang cố gắng làm. Nhiều người nghĩ rằng chúng ta đang chậm hơn người Nga sau vụ Sputnik[2], và một số nhà toán học đã được đề nghị tư vấn về cách thức dạy toán bằng sử dụng một số khái niệm toán học hiện đại khá thú vị. Mục đích là làm tăng hàm lượng toán cho những đứa trẻ không thích môn này.
Lấy một ví dụ: họ định nói về các hệ cơ số khác nhau – năm, sáu, và vân vân – để chỉ ra các khả năng có thể. Với một đứa trẻ có thể hiểu được cơ số mười thì việc đó có lẽ là thú vị – làm tâm trí nó vui hơn. Nhưng cái mà họ đã nhào nặn ra trong những cuốn sách này lại là tất cả bọn trẻ đều phải học một hệ cơ số khác! Và rồi điều đáng sợ thường trực xuất hiện: “Đổi những con số này, chúng đang được viết trong hệ cơ số bảy, sang hệ cơ số năm”. Đổi từ hệ cơ số này sang hệ cơ số khác là một việc hoàn toàn vô dụng. Nếu bạn có thể làm việc đó, thì có thể nó cũng vui vui; còn nếu bạn không thể làm việc đó, thì hãy quên nó đi. Nó chẳng có gì quan trọng cả.
Dù sao, tôi cũng xem xét tất cả chỗ sách này, tất cả chỗ sách này, và không một cuốn nào nói tí gì về việc sử dụng số học trong khoa học. Hoạ chăng có các ví dụ liên quan chút nào với ứng dụng của số học (hầu hết là trừu tượng vô nghĩa), thì chúng lại là về những thứ như mua các con tem.
Cuối cùng, tôi gặp một cuốn sách nói rằng: “Toán học được sử dụng trong khoa học theo nhiều cách. Chúng tôi sẽ lấy một ví dụ từ thiên văn học, môn khoa học của các vì sao.” Tôi lật trang sách, và thấy: “Các ngôi sao màu đỏ có nhiệt độ bốn nghìn độ, những ngôi sao màu vàng có nhiệt độ năm nghìn độ…” – cho đến đây, ổn cả. Sách viết tiếp: “Các sao màu xanh lá cây có nhiệt độ bảy nghìn độ, các sao màu xanh nước biển có nhiệt độ mười nghìn độ, còn các sao màu tím có nhiệt độ… (một con số rất lớn)”. Không có sao màu xanh lá cây và sao màu tím, còn các con số với các loại sao khác là tạm được. Nó ang áng đúng – nhưng đã sẵn chứa điều bất ổn! Mọi thứ đều như vậy: mọi thứ đều được viết bởi ai đó, anh ta viết mà chẳng biết mình nói về cái quái gì, cho nên luôn sai một chút, luôn như vậy! Và làm sao chúng ta có thể dạy tốt bằng việc sử dụng những cuốn sách được viết bởi những người không thực sự hiểu điều mà họ đang nói. Tôi không thể hiểu được. Tôi không biết vì sao, nhưng tất cả sách đều quá dở; DỞ TỔNG THỂ!
Dù sao, tôi cũng hài lòng với cuốn sách này, bởi vì nó có ví dụ đầu tiên về áp dụng số học vào khoa học. Tôi hơi buồn khi đọc về nhiệt độ của các loại sao, nhưng không quá buồn vì nó cũng gần gần đúng – chỉ đơn giản là một ví dụ về sai sót. Nhưng rồi xuất hiện một loạt vấn đề. Cuốn sách viết: “John cùng bố ra ngoài trời ngắm sao. John nhìn thấy hai ngôi sao màu xanh nước biển và một ngôi màu đỏ. Bố em nhìn thấy một ngôi sao màu xanh lá cây, một sao màu tím, và hai sao màu vàng. Tổng nhiệt độ của các ngôi sao mà John và bố em nhìn thấy là bao nhiêu?” – và khéo tôi nổi đoá lên vì ghê sợ.
Vợ tôi chắc là nói về cái núi lửa ở dưới tầng. Đó chỉ là một ví dụ: nó cứ mãi là như vậy. Một sự vô lý cứ đeo bám mãi! Việc cộng nhiệt độ của hai ngôi sao tuyệt nhiên chẳng để làm gì. Không ai có khi nào lại làm việc đó ngoại trừ, có thể là, tính nhiệt độ trung bình của các ngôi sao, chứ không phải tìm nhiệt độ tổng cộng của tất cả các ngôi sao! Thật là khủng khiếp! Tất cả chỉ là cái trò bắt bạn làm tính cộng, mà họ không hề hiểu là họ đang nói về cái gì. Nó giống như việc đọc các câu văn với vài lỗi đánh máy, mà rồi đột nhiên toàn bộ một câu được viết ngược lại. Toán học mà như thế. Thật hết hi vọng!
Rồi tôi đã đến dự buổi họp đầu tiên của mình. Các thành viên khác đã đưa ra một kiểu đánh giá nào đó về một số cuốn sách, và họ hỏi về các đánh giá của tôi. Đánh giá của tôi thường khác với của họ, và họ thường hỏi: “Vì sao ông đánh giá cuốn sách đó thấp thế?”
Tôi nói rằng cái dở của cuốn sách đó là thế này và thế này ở trang này và trang này – tôi có những ghi chép của mình.
Họ phát hiện ra là tôi giống như một mỏ vàng: tôi có thể nói với họ, một cách chi tiết, cái gì là hay và dở ở tất cả các cuốn sách đó. Mỗi đánh giá của tôi đều có lí lẽ cụ thể.
Tôi thường hỏi lại họ vì sao họ đánh giá cuốn sách này cao thế, và họ trả lời: “Hãy để chúng tôi nghe xem anh nghĩ gì về một cuốn sách như thế và như thế”. Tôi sẽ chẳng bao giờ biết được vì sao họ đã đánh giá mọi thứ theo cách mà họ đã làm. Thay vì, họ tiếp tục hỏi xem tôi nghĩ gì.
Chúng tôi xem đến một cuốn nào đó, một trong bộ ba cuốn sách tham khảo do cùng một công ty xuất bản, và họ lại hỏi xem tôi nghĩ gì về cuốn sách đó.
Tôi đã nói: “Kho sách không gửi cho tôi cuốn ấy, nhưng hai cuốn kia thì rất được.”
Ai đó cố lặp lại câu hỏi: “Ông nghĩ gì về cuốn sách đó?”
“Tôi đã nói là người ta không gửi cho tôi cuốn ấy, nên tôi chẳng có nhận xét nào về nó cả.”
Người của kho sách có mặt ở đó, và anh ta nói: “Xin thứ lỗi, tôi có thể giải thích việc này. Tôi chưa gửi cuốn đó cho ngài vì nó chưa được hoàn tất. Có một qui định là các ngài phải có tất cả các đầu mục sách trước một thời điểm nhất định, nhưng với cuốn sách đó nhà xuất bản đã chậm mất vài ngày. Thế nên nó được gửi đến cho chúng tôi chỉ có tờ bìa, còn bên trong hoàn toàn trống không. Công ty sách đã có lời xin lỗi và hy vọng bộ sách ba cuốn của họ vẫn được xem xét, cho dù cuốn thứ ba sẽ bị trễ.”
Hóa ra là cuốn sách bỏ trắng ấy đã vẫn được một số thành viên khác đánh giá. Họ không thể tin được là nó vẫn trống không, bởi vì họ đã có đánh giá rồi. Thật ra, cuốn sách còn thiếu này đã được đánh giá cao hơn hai cuốn kia một chút. Sự thật là cuốn sách đó rỗng không đã chẳng can sự gì đến việc đánh giá nó.
Tôi tin rằng nguyên nhân của tất cả chuyện này là ở chỗ hệ thống thẩm định sách hoạt động theo cách như sau: Khi bạn gửi sách đến mọi người ở khắp nơi, họ đang bận; họ không để ý; họ nghĩ “Ừ, nhiều người đang đọc cuốn này rồi, vậy việc đó chẳng có gì quan trọng nữa cả”. Và họ đặt vào đại loại như một con số – ít nhất là một số người; không phải là tất cả họ, mà một số người. Rồi khi nhận được các bản báo cáo đánh giá, bạn sẽ không biết vì sao riêng cuốn sách này lại có ít báo cáo hơn các cuốn khác – chẳng hạn như một cuốn có mười, mà cuốn này chỉ có sáu người gửi báo cáo – thế rồi bạn lấy trung bình đánh giá của những người đã báo cáo. Bạn không lấy trung bình theo những người không gửi báo cáo, nên bạn có một con số vừa phải. Quá trình lấy trung bình này luôn bỏ qua thực tế là, tuyệt đối chẳng có gì giữa hai tờ bìa của cuốn sách đó!
Tôi rút ra luận giải đó bởi vì tôi đã nhìn thấy những điều xảy ra trong hội đồng chương trình: với cuốn sách trống trơn, chỉ sáu trong mười thành viên có báo cáo, trong khi với những cuốn khác thì con số này là tám hay chín. Và khi họ lấy trung bình theo sáu cho cuốn sách đó, họ có một giá trị trung bình cũng tốt như khi họ lấy trung bình theo tám hay chín cho các cuốn khác. Họ đã rất ngượng khi nhận ra mình vẫn có đánh giá về cuốn sách ấy, và điều đó làm tôi tin tưởng thêm một chút. Hóa ra là các thành viên khác của hội đồng đã mất nhiều công trong việc gửi sách đi và thu báo cáo về, cũng như tham dự các buổi giới thiệu, ở đó các nhà xuất bản giải thích về những cuốn sách trước khi họ đọc chúng. Tôi là người duy nhất trong hội đồng đã đọc tất cả các cuốn sách và không nhận bất kỳ thông tin nào từ các nhà xuất bản, ngoại trừ những gì có trong chính các cuốn sách đó, những thứ rốt cục sẽ đến với các trường học.
Câu chuyện về việc cố gắng nhận ra một cuốn sách là tốt hay xấu bằng cách đọc nó cẩn thận hay bằng cách lấy báo cáo của nhiều người, những người đã đọc nó một cách qua quít, là giống như một câu chuyện cũ nổi tiếng này: Không ai được phép nhìn hoàng đế Trung hoa, và câu hỏi là cái mũi của ông ta dài bao nhiêu? Để tìm câu trả lời, bạn đi khắp đất nước để hỏi mọi người xem theo họ thì mũi hoàng đế Trung hoa dài bao nhiêu, rồi bạn lấy trung bình. Và kết quả có lẽ là rất “Chính xác” bởi vì bạn đã lấy trung bình theo rất nhiều người. Nhưng đó không phải là cách để tìm ra bất kỳ cái gì. Khi bạn có một diện rất rộng những người tham gia đóng góp mà không xem xét vấn đề một cách cẩn thận, thì bạn không cải thiện được hiểu biết của mình về tình cảnh đó bằng cách lấy trung bình.
Thoạt đầu chúng tôi không được yêu cầu bàn về giá của các cuốn sách. Người ta cho chúng tôi biết số lượng sách chúng tôi có thể chọn, vì thế chúng tôi đã thiết kế một chương trình có sử dụng rất nhiều sách tham khảo, bởi vì tất cả các cuốn sách giáo khoa mới đều có những khiếm khuyết kiểu này hay kiểu khác. Khiếm khuyết nghiêm trọng nhất là ở các cuốn “Toán học mới”: không có ứng dụng; không có đủ các bài tập miệng. Không nói về bán tem; thay vì lại nói rất nhiều về sự thay thế và những vấn đề trừu tượng mà không có sự chuyển đổi đầy đủ sang những tình huống của thế giới thực. Bạn làm gì: cộng, trừ, nhân, hay chia? Thế nên chúng tôi đề xuất một vài cuốn sách có chứa những nội dung như thế có thể dùng làm sách tham khảo – một hoặc hai cuốn cho mỗi lớp – bổ sung thêm vào cuốn sách giáo khoa dành cho mỗi học sinh. Sau nhiều thảo luận, chúng tôi đã giải quyết toàn bộ vấn đề bảo đảm sự cân bằng về mọi mặt.
Khi chúng tôi gửi những đề xuất của mình tới uỷ ban giáo dục, họ bảo chúng tôi rằng họ không có nhiều tiền như chúng tôi nghĩ đâu, vì thế, chúng tôi phải xem xét lại toàn bộ và cắt bớt cái này và cái kia, mà bây giờ thì phải tính đến cả chi phí nữa, và phải từ bỏ một chương trình khá là cân bằng, trong đó có nhiều cơ hội cho giáo viên tìm được các ví dụ cần có về các đối tượng khác nhau.
Lúc này họ đã thay đổi qui định về số lượng sách có thể đề xuất và chúng tôi không còn cơ hội để tạo sự cân bằng nữa, đó là một chương trình dở. Khi uỷ ban ngân sách Thượng viện xem xét, thì chương trình lại bị cắt bớt nữa. Bây giờ thì nó thực sự là rất dở. Tôi được đề nghị có mặt trước Thượng viện khi họ thảo luận vấn đề này, nhưng tôi đã từ chối: Đến lúc đó, tôi đã tranh cãi việc này quá nhiều, và tôi đã mệt mỏi rồi. Chúng tôi đã chuẩn bị các đề xuất của mình cho Ủy ban giáo dục, và tôi biết nhiệm vụ của uỷ ban là trình nó lên Thượng viện – việc này đúng về luật pháp, nhưng không lành mạnh về chính trị. Lẽ ra tôi không nên bỏ cuộc sớm như thế, nhưng tôi đã phải làm việc cật lực và thảo luận rất nhiều về tất cả những cuốn sách này để đưa ra được một chương trình tương đối cân bằng, thế mà cuối cùng toàn bộ bị xóa sạch - thật nản! Toàn bộ công việc là một nỗ lực không cần thiết. Đáng lẽ nó nên đổi hướng và làm theo cách ngược lại: bắt đầu bằng giá của những cuốn sách và hãy mua những cuốn trong khả năng của bạn.
Cái chốt làm tôi cuối cùng đã từ chức, đó là việc năm tiếp theo chúng tôi thảo luận những cuốn sách khoa học. Tôi đã nghĩ có thể sách khoa học sẽ khác, nên tôi đã xem xét một vài cuốn.
Vẫn một tình trạng như vậy: thoạt đầu là gì đó có vẻ ổn, nhưng rồi hóa ra thật khủng khiếp. Chẳng hạn, có một cuốn sách bắt đầu bằng bốn bức tranh: đầu tiên là một đồ chơi có lò xo; rồi một chiếc ô tô; rồi một cậu bé đi xe đạp; và rồi một cái gì đó nữa. Dưới mỗi bức tranh viết: “Cái gì làm nó chạy?”
Tôi nghĩ: “Tôi biết đó là cái gì: họ muốn nói về cơ học, những cái lò xo hoạt động như thế nào bên trong bộ đồ chơi; về hóa học, động cơ của ô tô hoạt động như thế nào; và về sinh học, các cơ của người hoạt động ra sao”.
Đấy là một loại đề tài mà bố tôi đã thường nói đến: “Cái gì làm nó di chuyển? Mọi vật di chuyển được là nhờ mặt trời đang chiếu sáng.”
Và rồi chúng tôi thảo luận chuyện đó rất vui:
“Không, cái đồ chơi ấy chạy được là vì cái lò xo bị nén,” tôi nói.
“Cái lò xo ấy bị nén lại như thế nào?” bố tôi hỏi.
“Con ép nó lại.”
“Thế nhờ đâu con có thể cử động để ép nó lại?”
“Nhờ ăn uống ạ.”
“Lương thực chỉ phát triển được là vì mặt trời đang chiếu sáng. Thế nên chính nhờ mặt trời đang chiếu sáng mà tất cả mọi vật chuyển động được.” Điều đó đưa đến một khái niệm xuyên suốt rằng chuyển động chỉ đơn giản là sự biến đổi năng lượng của mặt trời.
Tôi lật sang trang sau. Câu trả lời là, với bộ đồ chơi có lò xo: “Năng lượng làm nó chuyển động”. Và với cậu bé đi xe đạp: “Năng lượng làm nó chuyển động”. Với mọi thứ: “Năng lượng làm nó chuyển động”.
Điều này chẳng có nghĩa gì cả. Giả như nó là “Wakalixes”. Thế thì nguyên lý tổng quát sẽ là: “Wakalixes làm nó chuyển động”. Chẳng mang lại tí kiến thức nào. Bọn trẻ chẳng học được gì hết; đó chỉ là một từ ngữ mà thôi![3] Việc họ nên làm là xem xét cái đồ chơi, nhìn những cái lò xo ở bên trong, tìm hiểu về những cái lò xo, tìm hiểu về những cái bánh xe, và quên “Năng lượng” đi. Sau này, khi bọn trẻ đã biết một chút về thực ra bộ đồ chơi đó hoạt động như thế nào, thì họ có thể thảo luận những nguyên lý khái quát hơn về năng lượng.
Thậm chí còn sai khi nói “Năng lượng làm nó chuyển động”, bởi lẽ khi nó dừng lại, bạn cũng hoàn toàn có thể nói “Năng lượng làm nó dừng lại”. Điều họ đang nói đến năng lượng cô đặc được biến đổi thành các dạng loãng hơn, một khía cạnh rất tinh tế về năng lượng. Trong các ví dụ này năng lượng không tăng mà cũng không giảm; nó chỉ thay đổi từ dạng này sang dạng khác. Khi các vật đó dừng lại, năng lượng được chuyển thành nhiệt, thành sự hỗn loạn toàn cục.
Nhưng đây là hiện trạng của tất cả các cuốn sách đó: họ nói những điều vô dụng, rối rắm, tối nghĩa, dễ nhầm lẫn, và có đôi phần chính xác. Làm sao mà ai đó có thể học được khoa học từ những cuốn sách như thế? Tôi không biết, bởi vì đó không phải là khoa học.
Thế nên, khi nhìn thấy tất cả những cuốn sách khủng khiếp này với cùng kiểu rắc rối như ở những cuốn sách toán mà tôi đã thẩm định, tôi thấy cái núi lửa trong tôi lại phun trào trở lại. Vì tôi đã kiệt sức do đọc tất cả các cuốn sách toán, và đã quá nản vì tất cả nỗ lực đều là vô ích, tôi không thể đối mặt với việc đó thêm một năm nữa, và cần phải từ chức.
Một thời gian sau, tôi nghe nói cái cuốn sách năng-lượng-làm-nó-chuyển-động ấy đã được hội đồng chương trình giới thiệu lên cho uỷ ban giáo dục, nên tôi đã cố một lần cuối. Trong mỗi cuộc họp của hội đồng, người dân được quyền đóng góp ý kiến, nên tôi đã đứng dậy và nói vì sao tôi nghĩ đó là cuốn sách tồi.
Người đã ngồi thay vị trí của tôi trong hội đồng nói: “Cuốn sách đó đã được sáu mươi lăm kỹ sư ở hãng hàng không này-và-này chấp thuận!”
Tôi không nghi ngờ gì việc công ty đó có một số kỹ sư giỏi. Nhưng lấy tới sáu mươi lăm kỹ sư tức là lấy một khoảng rất rộng về trình độ – và chắc là bao gồm cả một số người yếu kém! Lại một lần nữa đó là bài toán lấy trung bình chiều dài cái mũi của hoàng đế, hay là trung bình các đánh giá về một cuốn sách chẳng có gì giữa hai tờ bìa. Nếu công ty đó chọn ra các kỹ sư giỏi hơn và yêu cầu họ thẩm định cuốn sách đó, thì tốt hơn rất nhiều. Tôi không khẳng định rằng tôi thông minh hơn sáu mươi lăm người kia – nhưng so với trung bình của sáu mươi lăm người đó, thì chắc là tôi hơn!
Tôi không thể làm cho người đó hiểu, và cuốn sách đã được uỷ ban thông qua.
Khi còn ở trong hội đồng, tôi đã phải đến San Francisco dự họp vài lần. Lần quay về Los Angeles sau chuyến đi đầu tiên, tôi đã dừng lại ở văn phòng hội đồng để nhận công tác phí.
“Chuyến đi hết bao nhiêu, thưa ông Feynman?”
“À, tôi đã bay đến San Francisco, nên tiền vé máy bay này, cộng với tiền gửi xe lại ở sân bay.”
“Ông có vé máy bay không?” may là tôi có.
“Ông có hóa đơn gửi xe không?”
“Không, mà tôi gửi xe hết 2,35 đô la.”
“Nhưng chúng tôi cần hóa đơn.”
“Tôi đã nói với anh là tôi gửi xe hết bao nhiêu rồi. Nếu anh không tin tôi, thì vì sao anh lại để tôi bảo với các anh rằng, theo tôi những cuốn sách giáo khoa đó là tốt hay xấu?”
Việc ấy đã được hầm rất kĩ. Thật không may, tôi đã thường đọc bài giảng cho các công ty, trường đại học hay cho những người bình thường, chứ không phải cho chính quyền. Tôi đã quen nghe: “Các chi phí của ngài là bao nhiêu?” – “Từng-này-và-từng-này” – “Của ngài đây, thưa ngài Feynman”.
Rồi tôi đã quyết định sẽ không đưa cho họ hóa đơn về bất kỳ cái gì.
Sau chuyến đi thứ hai tới San Francisco, họ lại hỏi tôi về vé và các hóa đơn.
“Tôi không có gì cả.”
“Thế thì không thể giải quyết được, thưa ngài Feynman.”
“Khi nhận lời làm việc trong hội đồng, tôi được thông báo là các anh sẽ trả cho tôi toàn bộ chi phí.”
“Nhưng chúng tôi cho là phải có hóa đơn để chứng minh cho các chi phí đó.”
“Tôi chẳng có gì để chứng minh cả, nhưng anh biết là tôi sống ở Los Angeles và tôi đến các thành phố kia; anh nghĩ tôi đến được đó bằng cách quái nào?”
Họ không chịu thua, và tôi cũng vậy. Tôi cảm nhận là khi bạn ở vào tình cảnh như thế, khi mà bạn chọn nhất quyết không tuân theo hệ thống, bạn phải trả giá nếu việc không thành. Thế nên tôi hoàn toàn thỏa mãn, cho dù tôi không bao giờ nhận được tiền thanh toán cho các chuyến đi.
Đó là một trong các trò mà tôi đang chơi. Họ muốn một cái hóa đơn? Tôi không đưa cho họ cái hóa đơn. Rồi bạn sẽ không nhận được tiền. Không sao, thì tôi không lấy tiền. Họ không tin tôi? Cần quái gì; họ không phải trả tiền cho tôi. Tất nhiên, điều đó thật lố bịch! Tôi biết đó là cách thức làm việc của chính quyền; ừ, cái chính quyền chết tiệt! Tôi cảm nhận là con người cần cư xử với nhau như những con người. Và trừ phi tôi sẽ được đối xử như là một con người, tôi sẽ không có bất kì cái gì dính dáng đến họ cả! Họ có cảm thấy tệ không? Họ cảm thấy tệ. Tôi cũng cảm thấy tệ. Chúng ta sẽ để mặc nó thế. Tôi biết họ đang “Bảo vệ người đóng thuế”, nhưng hãy xem người đóng thuế đang được bảo vệ tốt như thế nào trong tình huống sau đây.
Có hai cuốn sách mà chúng tôi không thể đi đến quyết định sau nhiều thảo luận; chúng cực kì sít sao. Vì thế, chúng tôi để mở cho uỷ ban giáo dục quyết định. Bởi vì uỷ ban lúc này tính đến cả giá thành, và vì hai cuốn là hết sức ngang bằng, nên uỷ ban quyết định mở thầu và sẽ lấy cuốn có giá thấp hơn.
Sau đó một câu hỏi phát sinh: “Các trường sẽ nhận được sách vào thời gian thông thường hay họ có thể nhận được sách sớm hơn một chút, kịp cho học kỳ tới?” người đại diện của một nhà xuất bản đứng lên và nói: “Chúng tôi rất vui vì các ngài đã chấp nhận giá thầu của chúng tôi; chúng tôi có thể xuất bản cuốn sách kịp cho học kỳ tới.”
Người đại diện của nhà xuất bản không trúng thầu cũng có mặt ở đó và đứng lên nói: “Vì giá bỏ thầu của chúng tôi được đưa ra dựa trên thời hạn muộn hơn, tôi nghĩ là chúng tôi cần được có cơ hội bỏ thầu lại cho thời hạn sớm hơn, bởi lẽ chúng tôi cũng có thể đáp ứng thời hạn sớm hơn này.”
Ông Norris, một luật sư của Pasadena, ở trong uỷ ban, hỏi người đại diện của nhà xuất bản kia: “Thế thì chúng tôi phải trả bao nhiêu để nhận được sách của các ông ở thời hạn sớm hơn?” Anh ta đưa ra một con số: giá thấp hơn!
Người đại diện của nhà xuất bản đầu tiên đứng lên: “Nếu ông ấy thay đổi giá thầu, tôi cũng có quyền được thay đổi giá thầu của tôi!” – và giá của anh ta lại vẫn thấp hơn! Ông Norris hỏi: “Quái, thế là thế nào – chúng tôi nhận được sách sớm hơn mà giá lại rẻ hơn?”
“Đúng vậy,” một người nói. “Chúng tôi có thể dùng phương pháp in offset đặc biệt mà bình thường chúng tôi không dùng…” – một lý do vì sao giá thành rẻ hơn.
Người kia đồng tình: “Khi các ngài làm nó nhanh hơn, nó sẽ ít tốn kém hơn!”
Đó thực sự là một cú sốc. Cuối cùng là hai triệu đô la rẻ hơn! Ông Norris tức điên lên vì sự thay đổi đột ngột này.
Tất nhiên, vấn đề ở đây là việc không xác định về thời hạn đã mở ra khả năng để hai người này có thể đọ giá với nhau. Bình thường, nếu những cuốn sách được đề nghị chọn mà không tính đến giá thành, thì chẳng có lý do gì để hạ giá cả. Các nhà xuất bản có thể đặt bất kì giá nào mà họ muốn. Việc cạnh tranh bằng cách hạ giá thành chẳng có lợi gì cả; cách để cạnh tranh là tạo ấn tượng với các thành viên của hội đồng chương trình.
Tiện đây kể thêm, mỗi khi hội đồng của chúng tôi họp, luôn có các nhà xuất bản chăm sóc các thành viên hội đồng chương trình bằng cách mời họ ăn trưa và nói với họ về sách của mình. Tôi không bao giờ đi cả.
Giờ thì sự việc dường như là hiển nhiên, nhưng tôi đã từng không biết điều gì đang xảy ra lần tôi nhận được một gói nho khô và mấy thứ linh tinh do Western union chuyển đến cùng một tấm thiệp viết rằng: “Gia đình chúng tôi chuyển tới gia đình ngài lời chúc Lễ tạ ơn an lành – gia đình Pamilio”.
Gói quà đến từ một gia đình ở Long Beach[4] mà tôi chưa bao giờ nghe tới. Rõ ràng là ai đó muốn gửi gói này đến gia đình bạn anh ta, nhưng đã bị nhầm tên và địa chỉ, vì thế tôi nghĩ tốt nhất là mình làm rõ mọi chuyện. Tôi đã gọi đến Western Union hỏi số điện thoại của người đã gửi cái gói ấy, và tôi đã gọi cho họ.
“A lô, tên tôi là Feynman. Tôi nhận được một gói…”
“Ồ, xin chào, ông Feynman. Tôi là Pete Pamilio” và ông ta nói một cách thân thiện đến mức tôi nghĩ là mình phải biết ông ấy là ai! Tôi vẫn thường tối dạ đến mức không thể nhớ được ai với ai cả.
Vì thế tôi đã nói: “Tôi xin lỗi, ông Pamilio, tôi không thể nhớ được ông là ai…” hóa ra ông ta là đại diện của một trong các nhà xuất bản có sách mà tôi phải đánh giá ở hội đồng chương trình.
“Tôi hiểu. Nhưng việc này có thể gây hiểu lầm.”
“Đó chỉ là việc giữa hai gia đình thôi mà.”
“Vâng, nhưng tôi đang đánh giá một cuốn sách mà các ông xuất bản, và có thể ai đó sẽ hiểu lầm lòng tốt của ông!” Tôi biết điều gì đang xảy ra, nhưng tôi làm ra vẻ như mình là một thằng ngu đặc.
Một chuyện khác tương tự như thế đã xảy ra khi một trong các nhà xuất bản đã gửi cho tôi một cái cặp da trên đó có tên của tôi được viết rất đẹp bằng vàng. Tôi đã đáp lại họ cũng theo cách đó: “Tôi không thể nhận nó; tôi đang đánh giá một số cuốn sách mà các ông xuất bản. Tôi không nghĩ là các ông hiểu điều ấy!”
Một thành viên của hội đồng, người có thâm niên cao nhất ở đó, cho biết: “Tôi chưa bao giờ nhận quà cáp; nó làm tôi rất khó chịu.
Thế mà chuyện đó vẫn cứ tiếp diễn”.
Nhưng tôi đã thực sự bỏ lỡ một cơ hội. Nếu nhanh trí hơn, tôi đã có thể có một chuyện rất hay về hội đồng ấy. Tôi đến một khách sạn ở San Francisco vào một buổi tối để tham dự cuộc họp đầu tiên của mình vào ngày hôm sau, và tôi quyết định ra ngoài đi dạo phố và ăn gì đó. Tôi đi ra khỏi thang máy và trong khi tôi đang ngồi trên chiếc ghế dài ở tiền sảnh khách sạn, thì hai người xuất hiện và nói: “Chúc buổi tối tốt lành, ngài Feynman. Ngài đang đi đâu vậy? Liệu có cái gì mà chúng tôi có thể đưa ngài đi xem ở San Francisco này không?” họ là người của một công ty xuất bản, và tôi không muốn dính dáng gì đến họ cả.
“Tôi ra ngoài để đi ăn.”
“Chúng tôi có thể đưa ngài đi ăn tối ở ngoài.”
“Ồ không, tôi muốn đi một mình thôi.”
“Vâng, chúng tôi có thể giúp bất kỳ việc gì ngài muốn.”
Tôi không chịu được nữa. Tôi nói: “Chà, tôi sẽ ra ngoài để chuốc rắc rối vào mình đây.”
“Tôi nghĩ là chúng tôi cũng có thể giúp ngài cả việc đó.”
“Ồ không, tôi nghĩ là tôi sẽ tự chăm lo mình.” Rồi tôi nghĩ: “Thật sai lầm! Đáng lẽ cứ để tất cả chuyện đó diễn ra và ghi nhật ký đều đặn, để nhân dân bang California có thể biết được những nhà xuất bản ấy sẽ đi xa đến đâu!” Và khi tôi đã biết về chênh lệch hai triệu đô la, thì Chúa mới biết áp lực là gì!
❀ ❀ ❀
[1] Một hệ thống cửa hàng bán đồ may mặc ở Mỹ. (ND)
[2] Tên vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người do Liên Xô phóng thành công năm 1957 (ND).
[3] Wakalixes là từ do Feynman bịa ra, chẳng có nghĩa gì, ở đây ngụ ý “Năng lượng” cũng như “Wakalixes” chỉ là một từ, chẳng có ý nghĩa gì! - ND
[4] Một thành phố ở phía nam bang California, gần Los Angeles