Khi nói “Los Alamos nhìn từ bên dưới”[1], tôi ngụ ý chính cái nghĩa đen của cụm từ này. Cho dù giờ đây tôi là một người có chút tiếng tăm trong lĩnh vực của mình, ngày ấy tôi chỉ là một kẻ hoàn toàn vô danh tiểu tốt. Thậm chí, tôi còn chưa có cả bằng tiến sĩ khi bắt đầu tham gia dự án Manhattan. Nhiều người khác kể với bạn về Los Alamos - những người có cấp bậc cao – lo lắng về các quyết định quan trọng. Tôi thì chẳng lo lắng về quyết định quan trọng nào cả.
Tôi thường lượn lờ ở bên dưới.
Một hôm, khi tôi đang làm việc trong phòng của mình ở Princeton, thì Bob Wilson[2] bước vào và nói rằng anh ấy đã được cấp tiền để làm một công việc bí mật, và rằng đúng ra anh ấy không nên tiết lộ với bất kỳ ai, nhưng sẽ nói với tôi vì biết rằng, ngay khi hiểu công việc anh ấy đang làm, tôi sẽ thấy mình cần phải tham gia. Thế là anh ấy nói với tôi về việc tách các đồng vị khác nhau của urani[3] để chế tạo bom. Anh ấy đã có một qui trình tách các đồng vị của urani (khác với qui trình được dùng sau này) và rất muốn phát triển nó. Wilson kể với tôi về điều đó và nói: “Có một cuộc họp…”
Tôi trả lời rằng mình không muốn làm việc đó.
Anh ấy bảo: “Được thôi, nhưng có cuộc họp lúc 3 giờ. Sẽ gặp cậu ở đó.”
Tôi đáp: “Anh yên tâm, tôi sẽ không nói với ai về bí mật mà anh đã kể với tôi, tuy nhiên tôi sẽ không làm việc đó đâu.”
Thế là tôi trở lại với công việc luận án của mình – được khoảng ba phút. Rồi tôi bắt đầu chậm rãi đi lại trong phòng và suy nghĩ về việc này. Người Đức có Hitler và khả năng chế tạo bom nguyên tử thì đã rõ. Nguy cơ người Đức sẽ làm được bom trước chúng ta là hết sức đáng sợ. Vậy là, tôi đã quyết định tham gia cuộc họp vào lúc 3 giờ.
Khoảng 4 giờ tôi đã ngồi vào bàn và thử tính xem liệu cái phương pháp này có bị giới hạn bởi tổng lượng dòng thu được ở một chùm ion hay không, và vân vân. Tôi không đi vào chi tiết. Nhưng tôi có bàn làm việc, có giấy bút, và tôi làm việc cật lực và nhanh nhất có thể, để các đồng nghiệp, những người đang lắp đặt thiết bị, có thể tiến hành thí nghiệm ngay tại đây.
Những gì đang diễn ra giống như bức tranh di động, ở đó bạn nhìn thấy một bộ phận thiết bị được lắp vào ruuuuup, ruuuuup, ruuuuup. Cứ mỗi lần ngước mắt lên, tôi lại thấy hệ thiết bị to hơn. Và điều không thể khác là, tất cả bọn tôi đều đã quyết định dừng công việc nghiên cứu khoa học của mình để tham gia dự án này. Trong chiến tranh, toàn bộ khoa học đã dừng lại, trừ cái phần nho nhỏ được thực thi ở Los Alamos. Mà cái phần ấy thì không hàm chứa nhiều khoa học lắm, nó chủ yếu mang tính kỹ thuật.
Tất cả các bộ phận của những đề án nghiên cứu khác nhau được ráp nối lại thành một thiết bị mới để thực thi thí nghiệm – cố gắng tách các đồng vị của urani. Với cùng lí do, tôi cũng đã dừng công việc riêng, cho dù sau đó ít lâu tôi đã lấy một kì nghỉ sáu tuần và đã viết xong luận án của mình. Và tôi đã kịp nhận bằng tiến sĩ ngay trước khi đến Los Alamos - nghĩa là, tôi không đến nỗi ở nấc thang quá thấp bên dưới, như đã làm cho các bạn tin như thế.
Một trong những trải nghiệm thú vị đầu tiên của tôi trong dự án này ở Princeton là được gặp những con người vĩ đại. Trước đó, tôi chưa bao giờ gặp nhiều tên tuổi lớn như thế. Ấy là vì có một hội đồng đánh giá, luôn song hành hỗ trợ, và giúp chúng tôi đưa ra quyết định cuối cùng về phương pháp tách urani. Hội đồng này gồm những người như Compton[4], Tolman, Smyth, Urey, Rabi, và Oppenheimer. Sở dĩ tôi có mặt ở đấy vì tôi am hiểu nguyên lý hoạt động của qui trình tách đồng vị mà chúng tôi đang dùng. Thế là, họ đặt cho tôi những câu hỏi và thảo luận về qui trình đó. Một người nêu ý kiến, rồi Compton, chẳng hạn, giải thích một quan điểm khác. Ông khuyến nghị nên theo hướng này, và ông đã hoàn toàn đúng. Một người khác nói, vâng, có thể, nhưng có một khả năng khác nữa, mà chúng ta nên xem xét.
Vậy là, nhìn cả hội đồng, mỗi người một ý. Tôi lấy làm ngạc nhiên và lo lắng về việc Compton không nhắc lại và nhấn mạnh quan điểm của mình. Cuối cùng, Tolman, người chủ trì cuộc họp, lên tiếng: “Vâng, sau khi nghe tất cả những lập luận, tôi cho rằng phương án của Compton là tốt nhất. Và bây giờ, chúng ta phải xúc tiến thôi.”
Thật quá sốc với tôi khi chứng kiến một hội đồng, ở đó mọi người đề xuất rất nhiều ý tưởng, mỗi người nghĩ về một khía cạnh mới, trong khi vẫn ghi nhớ những gì người khác đã nói, để rồi cuối cùng, quyết định được đưa ra, ý tưởng nào là tốt nhất – tóm tắt nó – không cần nhắc lại đến lần thứ ba. Những con người này thực sự rất vĩ đại.
Cuối cùng lại có quyết định là dự án này không phải là dự án sẽ dùng để tách các đồng vị của urani. Chúng tôi được lệnh dừng lại, vì ở Los Alamos, New Mexico, người ta đã bắt đầu một dự án thực sự chế tạo bom. Tất cả chúng tôi phải tới đó để làm bom. Sẽ có những thí nghiệm chúng tôi phải tiến hành, và cả nghiên cứu lý thuyết nữa. Tôi nghiên cứu lý thuyết. Tất cả các chiến hữu khác nghiên cứu thực nghiệm.
Vấn đề là – Làm gì bây giờ? Los Alamos chưa được chuẩn bị. Trong số những việc gắng làm để tranh thủ thời gian, Bob Wilson cử tôi đi Chicago để tìm hiểu tất cả những gì có thể tìm hiểu được về bom cũng như những khó khăn cần giải quyết. Rồi, ngay trong các phòng thí nghiệm của mình, chúng tôi có thể bắt đầu tạo dựng thiết bị, máy đếm các loại, vv… – những thứ sẽ hữu ích khi chúng tôi tới Los Alamos. Nhờ thế, không lãng phí thời gian.
Tôi được cử đi Chicago với chỉ đạo là, hãy đến từng nhóm, nói với họ rằng, tôi sẽ làm việc với họ, hãy tìm cách để họ chỉ cho tôi biết về việc đang làm một cách chi tiết tới mức tôi có thể thực sự ngồi xuống và bắt đầu giải quyết việc đó. Ngay sau khi đã đạt được mục đích với người này, tôi phải chuyển qua người khác và hỏi về việc khác. Bằng cách ấy, tôi đã am hiểu cặn kẽ mọi việc.
Đó là một ý tưởng rất hay, nhưng lương tâm tôi bị cắn rứt đôi chút bởi vì, tất cả họ bỏ rất nhiều công sức để giải thích cho tôi mọi việc, còn tôi thì biến luôn chẳng giúp gì họ cả. Nhưng tôi đã rất may mắn. Khi một anh chàng đang giải thích một việc, tôi nói: “Sao anh không làm việc ấy bằng cách lấy đạo hàm dưới dấu tích phân?” Trong nửa giờ, anh ta đã giải quyết xong vấn đề, mà họ đã cầy cuốc suốt ba tháng ròng. Vậy là, tôi đã làm được một việc bằng cách sử dụng “Hộp công cụ khác lạ” của mình. Rồi tôi rời Chicago, quay về và trình bày những gì đã thu nhận được – năng lượng giải phóng ra là bao nhiêu, quả bom trông sẽ như thế nào, và vv…
Tôi nhớ là, sau đó, một người bạn cùng làm việc tên là Paul Olum, một nhà toán học, đã gặp tôi và nói: “Khi người ta làm phim về chuyện này, họ sẽ dựng một anh chàng quay về từ Chicago để báo cáo với những người ở Princeton về bom. Anh ta mặc com-lê và xách cặp tài liệu và vv… – còn ông thì sơ mi trần cáu bẩn và nói vo với chúng tôi tất cả những chuyện ấy, cho dù đó là công chuyện hết sức nghiêm túc và ấn tượng.”
Dường như vẫn còn chậm trễ, nên Wilson đã đến Los Alamos để tìm hiểu xem cái gì đang cản trở công việc. Khi tới nơi, ông ấy nhận thấy công ty xây dựng đang làm việc rất căng và đã hoàn thành việc xây dựng hội trường và vài tòa nhà khác, mà họ hiểu được công năng của chúng. Nhưng họ không có được những chỉ dẫn rõ ràng về việc xây phòng thí nghiệm như thế nào – bao nhiêu ống ga, bao nhiêu nước vv….. Vì thế, Wilson đã phải xem xét nơi này, nơi kia, và quyết định ngay tại chỗ và ngay lập tức, bao nhiêu nước, bao nhiêu ga, vv… Và chỉ đạo họ lập tức khởi công xây các phòng thí nghiệm.
Khi ông ấy quay về gặp chúng tôi, thì tất cả bọn tôi đã sẵn sàng và nóng lòng được lên đường ngay. Vì thế, tất cả đã họp và quyết định, chúng tôi cứ tới đó, cho dù mọi thứ ở đó chưa sẵn sàng.
Tiện đây nói thêm, Oppenheimer cùng mấy người khác đã rất kiên nhẫn khi chiêu mộ chúng tôi. Ông quan tâm đến khó khăn của từng người. Ông lo lắng về vợ tôi, cô ấy mắc bệnh lao, liệu ở đó có bệnh viện không, và nhiều thứ khác nữa. Đó là lần đầu tiên tôi nói chuyện với ông một cách riêng tư như vậy; ông là một người tuyệt vời.
Người ta yêu cầu chúng tôi phải rất cẩn trọng – chẳng hạn như không mua vé tàu ở Princeton. Ga Princeton rất nhỏ, nên nếu mọi người đều mua vé tàu đến Albuquerque[5], New Mexico, thì ở Princeton hẳn sẽ có những đồn thổi rằng, đang xảy ra điều gì đó. Thế là mọi người mua vé ở đâu đó, trừ tôi, bởi vì tôi biết rằng nếu tất cả mọi người đã mua vé ở nơi khác thì…
Thế là, khi tôi ra ga và nói: “Tôi muốn đến Albuquerque, New Mexico.” Người đàn ông bán vé bảo luôn: “Ồ, thế ra tất cả những thứ ấy là của ông!” Mấy tuần trước chúng tôi đã gửi những thùng gỗ lớn đầy các thiết bị đếm và hy vọng là người ta không để ý đến cái địa chỉ Albuquerque. Thành ra, chí ít tôi cũng đã phải giải thích vì sao chúng tôi đã gửi những thùng gỗ đó; tôi chuyển đến Albuquerque.
Nhưng khi chúng tôi đến nơi thì các tòa nhà, khu tập thể và những công trình kiểu như vậy vẫn chưa hoàn thành. Thực tế, ngay cả các phòng thí nghiệm cũng chưa sẵn sàng. Bằng việc đến sớm hơn dự kiến, chúng tôi đang hối thúc họ. Vì vậy, họ rất bấn và phải thuê những ngôi nhà tạm ở các nông trại lân cận. Lúc đầu, chúng tôi ở trong các ngôi nhà tạm như thế và buổi sáng lái xe đi làm. Cái buổi sáng đầu tiên lái xe đi làm của tôi thật ấn tượng. Với một người gốc ở phía Đông và chưa đi nhiều, thì phong cảnh xung quanh quả thật là tuyệt đẹp. Có những vách đá hùng vĩ, mà bạn có thể đã nhìn thấy trong tranh ảnh. Bạn đi từ phía dưới lên và ngạc nhiên khi bắt gặp quả núi cao, phẳng như mặt bàn này. Điều ấn tượng nhất với tôi là, khi đang đi lên, người ta nói rằng, rất có thể những thổ dân da đỏ đang sống ở đây. Anh chàng cầm lái dừng xe lại, bước ra, ngó ngàng xung quanh, rồi chỉ mấy cái hang của người da đỏ, mà nếu muốn bạn có thể khám phá. Thật là phấn khích.
Lần đầu tiên đến chỗ làm việc, tôi thấy một khu vực kỹ thuật đúng ra phải có hàng rào bao quanh cẩn thận, nhưng vẫn còn toang hoang. Hồi ấy, dự kiến là, chỗ này sẽ là một thị trấn, bao quanh là một hàng rào kiên cố. Nhưng họ vẫn còn đang xây dựng và anh bạn Paul Olum, đã từng là trợ lý của tôi, cầm kẹp hồ sơ đứng ngay ở cổng, kiểm tra xe tải ra vào và chỉ đường để họ chở vật liệu đến những điểm khác nhau.
Khi đến phòng thí nghiệm, tôi gặp những người mà tôi mới chỉ biết tên qua những bài báo của họ trên Physical Review, vv… Tôi chưa bao giờ gặp họ trước đó. “Đây là John Williams,” họ giới thiệu. Rồi, một anh chàng đứng bật dậy bên chiếc bàn phủ đầy các bản thiết kế, tay áo xắn cao, và hét qua cửa sổ để chỉ hướng đi cho cánh xe tải và các phương tiện chở vật liệu xây dựng. Bởi vì các nhà vật lý thực nghiệm chẳng có việc gì để làm cho đến khi phòng ốc và thiết bị thí nghiệm được hoàn tất, nên họ phải trực tiếp tham gia hoặc hỗ trợ xây dựng các tòa nhà.
Ngược lại, các nhà vật lý lý thuyết có thể làm việc ngay, nên người ta quyết định là, họ sẽ không sống ở các nhà trệt bên nông trại nữa, mà sống luôn ở đây. Chúng tôi bắt tay vào công việc ngay lập tức. Chẳng có cái bảng nào cả, ngoại trừ một cái có bánh xe, nên chúng tôi đã kéo nó đi khắp nơi. Robert Serber[6] giải thích cho chúng tôi mọi chi tiết về quả bom nguyên tử, về vật lý hạt nhân, và những thứ tương tự mà họ đã nghĩ đến khi còn ở Berkeley. Tôi không biết nhiều về những thứ đó. Tôi nghiên cứu những vấn đề khác. Vì vậy, tôi đã phải làm cả một núi công việc.
Hàng ngày tôi nghiên cứu và đọc, nghiên cứu và đọc. Đó quả là một thời sôi động. Nhưng tôi có chút may mắn. Tất cả những nhân vật quan trọng, ngoại trừ Bethe, đều đi vắng ở thời điểm đó. Mà, Bethe thì lại cần một ai đó để trao đổi và phản biện những ý tưởng của ông. Thế là ông ấy đã đến gặp cái cậu nhóc không tên tuổi này, tranh luận và lí giải các ý tưởng của mình. Tôi nói: “Không, không, bác lẩn thẩn rồi, phải thế này cơ.” Ông bảo: “Cứ đợi một lát,” rồi giải thích vì sao ông không hề lẩn thẩn, mà tôi mới là người lẩn thẩn. Chúng tôi cứ tiếp tục như vậy. Bạn thấy đấy, mỗi khi nghe về vật lý, tôi chỉ nghĩ đến vật lý, và không cần biết mình đang nói với ai. Thế nên tôi đã nói những lời ngu đần kiểu như “Không, không, bác sai rồi,” hoặc “Bác lẩn thẩn à.” Nhưng hóa ra đó lại chính là điều Bethe cần. Nhờ việc này mà tôi đã trở nên nổi trội và trở thành trưởng nhóm – trên tôi là Bether, còn dưới tôi có bốn người.
Như đã kể, khi tôi mới đến đây, khu nhà tập thể vẫn chưa xây xong. Dù vậy, các nhà vật lý lý thuyết cũng vẫn ở gần đó. Nơi đầu tiên mà họ để chúng tôi ở là tòa nhà cũ kỹ của một trường học – vốn là một trường dành cho học sinh nam. Tôi tá túc ở một chỗ có tên là Sảnh Cơ học. Tất cả chúng tôi bị nhồi chặt ở đó với những cái giường áp tường, thật bất tiện, vì Bob Christy và vợ cậu ta phải đi qua chỗ ngủ của chúng tôi để vào phòng tắm. Thật chẳng thoải mái chút nào.
Cuối cùng thì nhà tập thể cũng được xây xong. Tôi xuống nơi phân bố phòng và họ bảo là bạn có thể chọn phòng ngay bây giờ. Bạn biết tôi đã làm gì không? Tôi nhìn xem đâu là nhà tập thể nữ, rồi chọn một phòng nhìn thẳng sang đó – dù sau này tôi phát hiện ra là có một cây to xoè tán chắn ngay trước cửa sổ căn phòng đó.
Họ bảo tôi rằng, hai người ở chung một phòng, nhưng đó chỉ là tạm thời. Hai phòng chung nhau một nhà tắm và mỗi phòng có một giường hai tầng. Nhưng tôi thì lại không muốn hai người ở trong một phòng.
Vào cái đêm, khi tôi đến, ở đó chưa có ai cả, và tôi quyết định sẽ gắng chiếm căn phòng cho riêng mình. Vợ tôi bị bệnh lao và đang ở Albuquerque. Tôi có mấy hộp đồ dùng của cô ấy. Thế là tôi lấy ra mấy cái áo ngủ nữ, mở cái giường trên, và ném mấy thứ ấy lung tung lên đó. Tôi cũng lấy mấy đôi dép lê và rắc một ít bột phấn ra sàn nhà tắm. Tôi làm mọi thứ cứ như thể có ai đó nữa đang ở đấy. Vậy là, điều gì đã xảy ra? Đây là nhà tập thể nam, đúng không? Tối đó, tôi về phòng và thấy bộ đồ ngủ của mình được gấp gọn gàng để ở dưới gối, còn đôi dép của tôi thì được đặt ngay ngắn dưới gầm giường. Mấy cái áo ngủ nữ cũng được gấp gọn gàng ở dưới gối, giường được xếp lại, và đôi dép nằm nghiêm ở phía dưới. Bột phấn trong phòng tắm được lau sạch và chẳng có ai ngủ ở giường trên cả.
Tối hôm sau, vẫn như vậy. Khi thức dậy, tôi quấy đảo cái giường trên, ném lung tung lên đó mấy cái áo ngủ nữ, rắc bột phấn trong nhà tắm vv… Tôi làm như vậy trong bốn đêm, cho đến khi mọi người đã ổn định chỗ ở và không còn nguy cơ bị xếp thêm người nữa vào phòng. Hàng đêm, mọi việc được sắp xếp rất cẩn thận, cho dù đó là nhà tập thể nam.
Lúc ấy tôi không biết, chính cái mẹo vặt này đã làm tôi dính dáng đến chính trị. Tất nhiên là ở đó cũng có đủ kiểu bè phái – phái các bà nội trợ, phái cơ khí, phái kỹ thuật, vv… Cả cánh đàn ông chưa vợ và phụ nữ chưa chồng sống trong khu tập thể cũng thấy là họ phải có một phái, bởi vì một qui định vừa mới được ban hành: Không phụ nữ trong nhà tập thể nam. Điều này thật quá lố bịch! Dù sao, chúng tôi là những người đã trưởng thành. Phi lý hết chỗ nói! Chúng tôi phải có hành động chính trị. Thế là, chúng tôi tranh luận về việc này, và tôi đã được bầu làm đại diện cho những người sống trong khu tập thể tham gia hội đồng thị trấn.
Khi đã ở trong hội đồng ấy được khoảng một năm rưỡi, nhân nói với Hans Bethe một việc gì đó, tôi đã kể với ông về cái mánh dùng áo ngủ và dép lê của vợ. Ông cười lớn: “Vậy thì, đó là cái cách cậu nhảy vào hội đồng thị trấn.” Bethe luôn có chân trong hội đồng điều hành chủ chốt.
Hóa ra câu chuyện là như thế này. Người phụ nữ dọn phòng ở khu tập thể mở cửa phòng tôi và sửng sốt phát hiện rắc rối : ai đó đã ngủ với một trong các chàng trai! Cô ta báo cáo với bà tổ trưởng tổ lau chùi, bà này lại báo cáo lên viên trung úy, rồi viên trung úy lại báo cáo lên viên thiếu tá. Cứ thế báo cáo đi tiếp lên, qua mấy viên tướng, đến tận ủy ban của chính phủ.
Họ sẽ làm gì? Họ phải nghĩ xem chuyện này là như thế nào. Nhưng trước mắt, một chỉ đạo được chuyển xuống dưới qua các đại tá, xuống các thiếu ta, rồi các trung uý, bà tổ trưởng, và cô lau nhà : “Hãy để mọi việc như cũ, lau dọn sạch và xem điều gì sẽ xảy ra.” Hôm sau, vẫn báo cáo như vậy. Trong bốn ngày, họ lúng túng không biết phải làm gì. Cuối cùng, bọn họ đã ban hành qui định: Không phụ nữ trong nhà tập thể nam! Và điều này đã gây ra căng thẳng đến mức cư dân ở đây đã phải bầu một người đại diện cho…
Tôi muốn kể với các bạn về chuyện kiểm duyệt ở chỗ chúng tôi. Người ta quyết định làm một việc hoàn toàn phi pháp - kiểm duyệt thư tín của mọi người bên trong nước Mỹ – điều mà họ không có quyền làm. Thế là, mọi việc được bố trí thật tinh vi cứ như thể việc này là tự nguyện. Tất cả chúng tôi phải tự nguyện không dán kín phong bì các bức thư gửi ra bên ngoài, và cũng không than phiền gì khi họ mở những bức thư từ ngoài gửi cho chúng tôi; chúng tôi tự nguyện chấp nhận điều đó. Chúng tôi cứ để mở các bì thư của mình và họ sẽ dán chúng lại nếu thấy không có vấn đề gì. Nếu theo họ, bức thư có vấn đề, thì họ sẽ trả nó lại cho chúng tôi, kèm theo ghi chú rằng, có vi phạm điều này điều nọ trong “Thoả thuận” của chúng ta.
Thế là, phải rất tinh tế với cái cộng đồng khoa học đầu óc phóng khoáng, cuối cùng cũng đã thiết lập được một hệ thống kiểm duyệt với rất nhiều qui định. Nếu muốn, chúng tôi được phép góp ý về thái độ của ban quan lý, chúng tôi có thể viết cho thượng nghị sĩ của mình, nói với ông ấy rằng, chúng tôi không thích điều này hay cách điều hành kia. Họ bảo sẽ thông báo cho chúng tôi nếu có bất kỳ rắc rối nào.
Vậy là mọi thứ đã được sắp xếp, và ngày đầu tiên với hệ thống kiểm duyệt bắt đầu: Điện thoại reeng! reeeng! Tôi hỏi: “Gì thế?”
“Anh làm ơn xuống đây.”
Tôi đi xuống.
“Cái gì đây?”
“Đó là thư của bố tôi.”
“Thế đây là cái gì?” một trang giấy có dòng kẻ và ở vài dòng có những dấu chấm – bốn chấm ở dưới, một ở trên, hai ở dưới, một ở trên, rồi một chấm nằm dưới một chấm…
“Đó là gì vậy?”
Tôi đáp: “Đó là mật mã.”
Họ nói: “Đúng, đó là mật mã, nhưng nội dung của nó là gì?”
Tôi đáp: “Tôi không biết.”
Họ hỏi: “Được, thế chìa khóa giải mã là gì, làm thế nào anh giải được nó?”
Tôi trả lời: “Tôi không biết.”
Họ lại hỏi: “Thế cái gì nữa đây?”
Tôi đáp: “Đó là thư của vợ tôi – thư viết TJXYWZ TW1X3.”
“Đó là gì?”
Tôi trả lời: “Một mật mã khác”
“Chìa khóa của nó là gì?”
“Tôi không biết.”
Họ nói: “Anh nhận được các mật mã mà lại không biết chìa khóa giải mã ư?”
“Đúng thế,” tôi trả lời. “Tôi có một trò chơi. Tôi thách họ gửi cho tôi một mật mã, mà tôi không thể giải được, anh thấy không? Vì thế họ nghĩ ra các mật mã ở ngoài đó và gửi chúng vào đây cho tôi, mà không cho biết chìa khóa giải mã là gì.”
Một trong các qui tắc kiểm duyệt là họ sẽ không động đến, nếu không có gì bất thường trong thư tín. Thế nên họ nói: “Thôi được, anh nói với họ hãy gửi cả chìa khóa mã nữa nhé.”
Tôi nói: “Nhưng tôi không muốn nhìn thấy khóa mã!”
Thế là họ bảo: “À, không sao, chúng tôi sẽ xóa khóa mã đi.”
Vậy là, chúng tôi đã thỏa thuận như thế. Tốt thôi. Không có vấn đề gì! Hôm sau, tôi nhận được một bức thư của vợ, thư viết rằng: “Thật khó viết, vì em cảm thấy –– đang nhìn trộm.” Có một vết xóa bằng thuốc tẩy mực ở chỗ của chữ đó.
Vì thế tôi đã xuống phòng kiểm duyệt và nói: “Dù không thích, các anh cũng không được phép động vào các thư gửi đến. Các anh có thể đọc, nhưng không được xóa bất kỳ chỗ nào.” Họ nói: “Đừng có ngớ ngẩn thế. Anh nghĩ là kiểm duyệt dùng chất tẩy mực ư? Họ lấy kéo cắt phăng đi ấy chứ.”
Tôi nói “Thôi được.” Rồi tôi viết lại cho vợ và hỏi “Em có dùng thuốc tẩy mực trong thư gửi anh không?” Cô ấy đáp lại: “Không, em không hề dùng thuốc tẩy mực trong thư của mình; hẳn đó là…” và có một lỗ cắt ở đó.
Thế là tôi quay lại than phiền với viên thiếu tá, người được cho là chịu trách nhiệm về tất cả những việc như thế này. Bạn thấy đấy, việc hơi mất thời gian một chút, nhưng tôi có cảm giác mình giống như một người đại diện chuyên tháo gỡ những rắc rối. Viên thiếu tá cố gắng giải thích với tôi rằng, những nhân viên kiểm duyệt đã được dạy phải làm như thế nào, nhưng họ không hiểu cách làm mới đòi hỏi phải rất tinh tế.
Thế rồi, ít ra anh ấy đã nói: “Chuyện là gì đây? Anh không nghĩ là tôi có thiện chí à?”
Tôi đáp: “Có, anh rất có thiện chí, nhưng tôi không nghĩ là anh có quyền lực.” Tôi nói vậy bởi vì như các bạn thấy đấy, anh ta đã giải quyết việc này ba hay bốn ngày.
Anh ấy nói: “Chúng ta sẽ thấy điều đó!” Anh ta nhấc điện thoại lên và tất cả xong luôn. Không còn chuyện thư bị cắt nữa.
Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề khác. Chẳng hạn, một hôm tôi nhận được thư của vợ, kèm với tờ ghi chú của nhân viên kiểm duyệt, viết rằng: “Trong thư có một mật mã mà không có chìa khóa, nên chúng tôi đã loại bỏ nó.”
Thế nên, khi tôi đến gặp vợ ở Albuquerque ngày hôm đó, cô ấy đã hỏi: “Thế những thứ của em đâu?”
Tôi hỏi lại: “Những thứ nào?”
Vợ tôi nói: “Litharge[7], gli-xê-rin, xúc xích, quần áo để giặt.”
Tôi ngờ ngợ: “Chờ một chút – đó là một danh sách à?” Cô ấy đáp: “Vâng.”
“Đó là một mật mã,” tôi nói. “Họ nghĩ đó là mật mã – Litharge, gli-xê-rin, vv.” (Cô ấy cần litharge và gli-xê-rin để làm bột, hàn cái hộp bằng mã não).
Tất cả những chuyện này đã diễn ra trong vài tuần đầu, trước khi chúng tôi giải quyết ổn thỏa với nhau. Một hôm, khi đang nghịch cái máy tính thì tôi phát hiện ra một điều đặc biệt. Nếu bạn lấy 1 chia cho 243 thì bạn nhận được 0,004115226337… Kết quả khá đẹp: nó hơi bị lệch một chút sau cụm số 559 nếu bạn tính tiếp, nhưng nó nhanh chóng tự điều chỉnh và lặp lại rất đẹp. Tôi thấy điều này cũng hay hay.
Nhưng, khi tôi viết điều đó trong thư, thì thư bị trả lại với một lưu ý nhỏ “Hãy xem mục 17B”. Mục 17B ghi: “Thư từ chỉ được viết bằng tiếng Anh, Nga, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Latinh, Đức, vv… Việc dùng bất kì ngôn ngữ nào khác phải được cho phép bằng văn bản”.
Và tiếp theo, mục này quy định “Không dùng mật mã.”
Vì thế, tôi viết lại cho nhân viên kiểm duyệt một ghi chú nhỏ, kèm theo lá thư của mình, với nội dung là, tôi cảm thấy rõ ràng đây không thể là một mật mã, vì nếu anh chia 1 cho 243 thì sẽ thực sự thu được tất cả những con số đó, và vì vậy, thông tin ở số 0,004115226337… Không nhiều hơn ở số 243 – nó khó mà chứa thông tin nào khác và vv… Do đó, tôi yêu cầu được phép dùng các chữ số Ảrập trong thư của mình. Và, yêu cầu của tôi đã được chấp thuận ngay.
Luôn có những phiền toái nào đó với các bức thư gửi qua gửi lại.
Chẳng hạn, vợ tôi nhắc đi nhắc lại rằng, cô ấy thấy không thoải mái khi viết mà có cảm giác là đang bị nhân viên kiểm duyệt theo dõi. Theo quy định, chúng tôi không được nhắc đến chuyện kiểm duyệt. Chúng tôi không nhắc đến, nhưng làm cách nào để họ có thể nói cho cô ấy biết điều đó? Thế là họ gửi tôi tin nhắn: “Vợ anh đã nhắc đến chuyện kiểm duyệt”. Đúng là vợ tôi nhắc đến kiểm duyệt. Vậy là, họ lại gửi tiếp: “Hãy bảo vợ anh đừng nhắc đến chuyện kiểm duyệt trong thư của chị ấy”. Vì thế, tôi mở đầu một lá thư: “Người ta yêu cầu anh nhắc em không nói đến chuyện kiểm duyệt trong thư”. Phoom, phoooom thư bị trả lại liền! Tôi viết cho họ: “Tôi được chỉ đạo phải báo vợ mình không được nhắc đến chuyện kiểm duyệt trong thư. Tôi phải làm việc ấy bằng cách quái nào đây? Ngoài ra, vì sao tôi lại phải báo cho cô ấy không nhắc đến chuyện kiểm duyệt? Các anh đang giấu tôi điều gì à?”
Thật thú vị là, chính tay nhân viên kiểm duyệt phải nhờ tôi nói để vợ tôi đừng viết cho tôi rằng cô ấy cảm thấy… Mà, họ đã có lời giải thích. Họ nói rằng, họ lo về việc thư tín có thể bị xem trộm trên đường từ Albuquerque, và rằng nếu ai đó đọc trộm thư, thì người ta có thể phát hiện ra là có việc kiểm duyệt thư tín. Vì vậy, họ mong là vợ tôi sẽ viết một cách tự nhiên hơn.
Vì thế, khi chuyện trò với vợ trong chuyến xuống Albuquerque tiếp theo, tôi đã nói: “Em này, đừng nhắc đến kiểm duyệt nữa nhé.” Nhưng chúng tôi đã gặp nhiều rắc rối đến nỗi cuối cùng phải nghĩ ra một mật mã, một việc không hợp lệ. Chỉ cần tôi đặt dấu chấm ở cuối chữ ký của mình là sẽ gặp phiền toái liền, vậy là vợ tôi phải chuyển sang phương pháp khác mà cô ấy đã chế tác ra. Vợ tôi bị ốm, phải ngồi ở đó suốt ngày, nên cần nghĩ ra việc để làm. Việc cuối cùng của cô ấy là gửi cho tôi một mẩu quảng cáo, mà theo cô ấy thì hoàn toàn hợp lệ. Nội dung của mẩu quảng cáo đó như sau: “Hãy gửi cho bạn trai của bạn một lá thư theo kiểu trò chơi ghép chữ. Đây là một bảng với các ô trống để bạn viết thư lên đó, rồi cắt rời các ô ra, cho vào một túi nhỏ, và gửi đi”. Tôi đã nhận được lá thư ấy cùng lời nhắc nhở: “Chúng tôi không có thời gian để đùa đâu. Hãy bảo vợ anh tự kiềm chế và viết những lá thư bình thường”.
Được thôi, chúng tôi đã sẵn sàng cho một lá thư khác với nhiều dấu chấm hơn, nhưng họ đã kịp phát hiện ra đúng lúc, nên chúng tôi không làm nữa. Lá thư mà chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng cho lần tiếp theo sẽ bắt đầu bằng câu: “Anh hy vọng là em nhớ mở lá thư này thật cẩn thận, vì anh gửi kèm bột pepto-Bismol[8] cho cái dạ dày của em, như mình đã thoả thuận”. Trong bì thư sẽ bỏ đầy bột. Chúng tôi kỳ vọng, ở chỗ kiểm duyệt họ sẽ mở lá thư đó thật nhanh, bột sẽ tung ra khắp sàn nhà, và họ chắc sẽ rất bực mình vì không nghĩ là, bạn làm như vậy. Họ sẽ phải thu gom tất cả chỗ bột pepto-Bismol…
Tuy nhiên, chúng tôi đã không phải dùng đến cách này.
Kết quả của tất cả những trải nghiệm với cánh kiểm duyệt là, tôi biết chính xác cái gì có thể qua, còn cái gì thì không. Không ai biết được tường tận như tôi. Vì thế, tôi đã kiếm được một ít tiền từ cá cược nhờ những trò ấy.
Một hôm, tôi phát hiện ra là, những công nhân sống xa bên ngoài, ngại đi vòng qua cổng chính, đã tự cắt một lỗ ở hàng rào để chui vào. Thế là tôi đi ra qua cổng, vòng đến chỗ cái lỗ và chui vào, lại đi ra qua cổng, và cứ như vậy cho đến khi viên trung sĩ gác cổng bắt đầu thắc mắc, không biết việc gì đang xảy ra. Làm sao mà cái tay này cứ đi ra mãi mà không thấy đi vào? Và, phản ứng tự nhiên của anh ta là báo cáo với viên trung úy và đòi tống giam tôi vì việc này. Tôi đã giải thích rằng, có một cái lỗ ở hàng rào.
Các bạn thấy đấy, tôi luôn gắng làm cho mọi người hiểu ra. Tôi đã cược với mấy người là, tôi có thể kể trong thư về cái lỗ hổng ở hàng rào và gửi lá thư đó ra ngoài. Và, chắc chắn là tôi đã làm như vậy. Tôi làm việc này bằng cách viết như sau: Bạn nên xem cách thức quản lý nơi này (đó là điều mà chúng tôi được phép nói). Có một cái lỗ ở hàng rào cách chỗ này chỗ nọ 71 feet, rộng chừng này chừng kia, và bạn có thể đi qua.
Giờ thì họ có thể làm gì nào? Họ không thể nói với tôi là không có cái lỗ như thế. Ý tôi là họ sẽ làm gì nhỉ? Việc có cái lỗ như thế là một lỗi nặng của chính họ. Họ cần bịt cái lỗ lại. Thế là giải quyết xong câu chuyện.
Tôi cũng gửi trót lọt một bức thư kể chuyện một đồng nghiệp trong nhóm của tôi, John Kemeny, đã bị đánh thức lúc nửa đêm và bị mấy tay ngu xuẩn trong quân đội rọi đèn vào mặt, vì họ phát hiện điều gì đó về bố cậu ta, ông được cho là một cộng sản hay gì đấy. Giờ thì Kemeny là một nhân vật nổi tiếng.
Còn nhiều chuyện khác. Giống như chuyện lỗ hổng ở hàng rào, tôi luôn gắng chỉ ra những chuyện ấy một cách gián tiếp. Một trong những chuyện mà tôi muốn chỉ ra là như thế này – ở giai đoạn khởi đầu ấy, chúng tôi có những bí mật tối quan trọng; chúng tôi đã phát hiện rất nhiều điều về bom, urani, và cách thức hoạt động của nó vv…; tất cả những phát hiện đó được lưu giữ dưới dạng văn bản trong các tủ đựng hồ sơ bằng gỗ với những cái khóa móc nhỏ, loại tầm tầm và phổ dụng. Tất nhiên, có nhiều thứ khác do xưởng làm, như một cái thanh chạy xuống dưới, được giữ bằng cái khóa móc, dù sao luôn chỉ là cái khóa móc. Không những vậy, bạn có thể lấy tài liệu ra, mà thậm chí không cần mở khóa. Bạn chỉ cần nghiêng tủ về phía sau. Ngăn kéo dưới cùng có một thanh nhỏ dùng để giữ giấy tờ lại với nhau, và có cả một khe rộng ở dưới gầm. Từ đó, bạn có thể kéo giấy tờ ra.
Thế là, tôi cứ mở những cái khóa ấy suốt và chứng tỏ là việc ấy rất dễ làm. Trong mỗi lần họp toàn thể nhân viên, tôi đều đứng lên và nói rằng chúng ta hiện có những bí mật quan trọng và không nên lưu giữ chúng trong những cái tủ như vậy; chúng ta cần những cái khóa an toàn hơn. Một lần, Teller đứng dậy trong buổi họp và nói với tôi “Tôi không cất những bí mật quan trọng của mình trong tủ đựng hồ sơ. Tôi cất chúng ở ngăn kéo bàn làm việc của mình. Như thế có tốt hơn không?”
Tôi nói: “Tôi không biết. Tôi chưa nhìn thấy cái ngăn kéo bàn làm việc của anh.”
Anh ấy đang ngồi sát phía trên phòng họp, còn tôi ngồi tít phía dưới. Thế là, khi cuộc họp vẫn đang tiếp diễn, tôi trốn ra và xuống xem cái ngăn kéo bàn làm việc của Teller.
Tôi thậm chí còn không phải mở khóa ngăn kéo bàn. Hóa ra là nếu bạn đặt tay vào phía sau, dưới gầm, bạn có thể rút giấy tờ ra, như rút cuộn giấy toilet vậy. Bạn rút ra một tờ, nó kéo theo một tờ khác, rồi một tờ khác nữa… Tôi vét sạch ngăn bàn, để mọi thứ sang một bên, rồi quay lại tầng trên.
Cuộc họp vừa kết thúc. Mọi người đi ra. Tôi hòa vào dòng người, rảo bước bắt kịp Teller và nói: “Này, tiện thể cho phép tôi xem cái ngăn tủ bàn làm việc của anh nhé.”
“Dĩ nhiên rồi,” anh ấy nói và chỉ cho tôi cái bàn.
Tôi ngắm nghía và nói: “Theo tôi, trông rất được. Cho phép tôi xem anh có gì trong đó nào.”
“Rất vui được chỉ cho cậu những thứ đó,” Teller trả lời, nhét chìa khóa vào, và mở ngăn kéo ra. “Nếu như,” Teller nói tiếp: “Cậu chưa tận mắt nhìn thấy.”
Cái dở khi lừa một người cực thông minh như Teller là khoảng thời gian từ lúc anh ấy thấy có gì đó không ổn tới khi anh ấy hiểu chính xác chuyện gì đã xảy ra, là quá ngắn ngủi để có thể mang đến cho bạn chút phấn khích!
Một vài chuyện độc mà tôi can dự ở Los Alamos khá là thú vị. Một chuyện liên quan đến sự an toàn của nhà máy ở Oak Ridge, Tennessee[9]. Los Alamos hướng tới chế tạo bom, còn ở Oak Ridge người ta đang cố gắng tách các đồng vị của urani – urani 238 và urani 235, đồng vị gây nổ. Họ chỉ mới bắt đầu thu được lượng rất nhỏ u-235 từ thí nghiệm, và đồng thời thực hành phương pháp hóa học. Ở đấy sẽ có một nhà máy lớn, họ sẽ có vô số thứ, rồi họ lấy vật liệu đã được làm sạch, làm sạch lại một lần nữa, để chuẩn bị cho công đoạn tiếp theo. (Bạn phải làm sạch qua vài công đoạn). Vậy là, một mặt họ thực hành, và mặt khác họ chỉ thu được chút xíu u-235 từ một trong các bộ phận thiết bị thí nghiệm. Họ đang cố gắng tìm cách phân tích để xác định xem lượng u-235 có trong đó là bao nhiêu. Mặc dù chúng tôi vẫn gửi cho họ những chỉ dẫn, nhưng họ chưa bao giờ làm theo cho đúng.
Thế là, cuối cùng, Emil Segrè cho rằng chỉ có một cách giúp họ tuân thủ các chỉ dẫn này là, đích thân ông ấy xuống đó và xem họ đang làm gì. Những người bên quân đội nói: “Không được, chủ trương của chúng ta là phải giữ tất cả thông tin của Los Alamos ở tại đây.”
Những người ở Oak Ridge không hề biết sản phẩm của họ sẽ được dùng vào việc gì; họ chỉ biết cái họ đang cố gắng làm. Ý tôi là, những người cấp bậc cao hơn biết rằng, họ đang tách các đồng vị của urani, nhưng không biết quả bom mạnh cỡ nào, hay nguyên tắc hoạt động của nó ra sao. Những người ở dưới thì hoàn toàn không biết họ đang làm gì. Quân đội muốn giữ kín thông tin theo cách đó. Không hề có trao đổi thông tin qua lại. Nhưng, Segrè nhất quyết rằng, họ sẽ không bao giờ có được các thử nghiệm đúng đắn, và tất cả sẽ tan thành mây khói. Bởi vậy, cuối cùng, Segrè đã xuống đó để xem họ đang làm gì. Khi đi thị sát, ông ấy thấy người ta đang đẩy một cái xe, chở một bình lớn chứa nước, nước màu xanh – đó là dung dịch urani nitrate.
Segrè hỏi: “Chà, các anh vẫn vận chuyển nó bằng cách này ngay cả khi đã được tinh chế à? Có đúng là các anh vẫn sẽ làm như vậy không?” họ trả lời: “Đúng thế, sao lại không?”
“Thế nó không nổ ư?” ông hỏi. Gớm! Nổ á?
Thế là người của bên quân đội nói: “Anh biết đấy! Chúng ta không được để lọt đến họ bất kỳ thông tin nào! Giờ thì tất cả bọn họ đang bối rối.”
Hóa ra là bên quân đội đã biết cần bao nhiêu vật liệu để chế tạo một quả bom – 20 kilôgam hoặc một con số nào khác, và họ biết là, một lượng lớn vật liệu như vậy, đã qua tinh chế, sẽ chẳng bao giờ có được ở nhà máy này, nên sẽ không nguy hiểm nào cả. Nhưng họ không hiểu một điều là, các nơtron sẽ hiệu quả hơn rất nhiều khi được làm chậm trong nước. Trong môi trường nước, chỉ cần một phần mười – không, một phần trăm – liều lượng thông thường cũng đủ để tạo phản ứng sinh phóng xạ. Nó sẽ sát hại những người xung quanh và vân vân. Điều đó cực kì nguy hiểm, nhưng họ hoàn toàn không quan tâm gì đến vấn đề an toàn cả.
Thế nên, Oppenheimer gửi cho Segrè một bức điện: “Kiểm tra toàn bộ nhà máy. Chú ý những nơi tập trung vật liệu theo qui trình họ đã thiết kế. Trong khi đó, chúng tôi sẽ tính xem, lượng vật liệu tối đa có thể gom lại tại một nơi là bao nhiêu, để không gây nổ.”
Hai nhóm bắt tay giải quyết vấn đề đó. Nhóm của Christie[10] tính cho dung dịch nước, còn nhóm của tôi tính bột khô chứa trong các hộp. Chúng tôi tính xem họ có thể tập trung bao nhiêu vật liệu mà vẫn an toàn. Christie sẽ đi xuống để nói với mọi người ở Oak Ridge về hiện trạng, bởi vì tất cả chuyện này đang hỏng bét cả, nên chúng tôi phải xuống đó và nói cho họ biết ngay. Tôi sẵn lòng cung cấp tất cả số liệu của mình cho Christie và nói, anh có tất cả số liệu cần thiết rồi, vậy hãy khởi hành thôi. Nhưng rồi Christie bị viêm phổi, nên tôi phải đi thay.
Trước đó, tôi chưa bao giờ đi máy bay. Họ gói các bí mật trong một cái đai nhỏ buộc vòng qua lưng tôi! Máy bay thời bấy giờ giống như chiếc xe buýt, chỉ có điều các bến ở cách xa nhau hơn. Bạn cứ phải dừng lại để chờ suốt.
Có một gã đứng cạnh tôi, vung vẩy cái dây chuyền, nói gì đó, đại loại “Thời buổi này thật khó bay được nếu không có ưu tiên.”
Không kiềm chế được, tôi nói : ‘’Vậy à, tôi không biết. Tôi có giấy ưu tiên”.
Một lúc sau, anh ta lại nói : “Có vài viên tướng xuất hiện. Họ sẽ loại mấy người số 3.”
“Không sao.” tôi nói, “Tôi số 2.”
Có lẽ anh ấy sẽ viết cho vị dân biểu của mình – nếu chính anh ta không phải là một nghị sĩ – rằng: “Họ đang làm gì, mà để những thằng nhóc đi lung tung với ưu tiên số 2 giữa lúc chiến tranh như thế này?”
Dù sao, tôi đã đến Oak Ridge. Việc đầu tiên là, yêu cầu họ đưa tôi đến nhà máy. Tôi không nói gì, chỉ quan sát mọi thứ. Tôi phát hiện ra, hiện trạng còn tệ hơn những gì Segrè báo cáo, vì ông mới thấy những hộp ở các ô lớn trong một phòng, mà chưa thấy rất nhiều hộp ở một phòng khác, phía kia của cùng một bức tường, cũng như các hiện tượng tương tự. Giờ thì, như bạn biết, nếu bạn có quá nhiều vật liệu tập trung một chỗ thì chúng sẽ phát nổ.
Bởi vậy, tôi đã thị sát toàn bộ nhà máy. Trí nhớ của tôi vốn rất tồi, nhưng khi làm việc tập trung, trí nhớ ngắn hạn lại rất tốt. Nhờ vậy, tôi có thể nhớ được mọi thứ linh tinh, ví như toà nhà 90-207, cái thùng số này số kia vv…
Trở về phòng tối hôm đó, tôi xem xét lại toàn bộ tư liệu, lý giải xem chỗ nào nguy hiểm, và những gì cần làm để khắc phục. Việc này khá dễ. Bạn bỏ cadmi vào dung dịch để hấp thụ bớt nơtron trong nước và tách các hộp ra xa theo một số quy tắc nhất định để chúng không quá tập trung ở một chỗ.
Một cuộc họp lớn được tổ chức vào ngày hôm sau. Tôi quên chưa kể là, trước khi rời Los Alamos, Oppenheimer đã căn dặn tôi: “Này, những người sau đây, về nguyên tắc, có thể đang ở Oak Ridge: ông Julian Webb, ông này ông nọ, vv… Tôi muốn cậu phải chắc chắn là những người đó sẽ có mặt trong cuộc họp, để cậu nói với họ cách đảm bảo an toàn cho toàn bộ nhà máy, sao cho họ thực sự hiểu.”
Tôi hỏi lại: “Thế nếu họ không tham dự cuộc họp thì sao? Tôi sẽ phải làm gì?” ông đáp: “Nếu thế thì cậu nói: Los Alamos không chịu trách nhiệm về sự an toàn của nhà máy Oak Ridge trừ phi….”
Tôi nói: “Ý ông là, tôi - thằng nhóc Richard, xuống đó và nói…?” ông đáp: “Đúng vậy, nhóc Richard, cậu hãy đi và làm việc đó.”
Tôi thực sự trưởng thành rất nhanh!
Khi tôi đến nơi, đây rồi các nhân vật chủ chốt và các nhân viên kĩ thuật mà tôi muốn có mặt, các vị tướng và tất cả những ai quan tâm đến vấn đề nghiêm trọng này. Điều này thật tốt, bởi vì nhà máy có thể bị nổ tung nếu không ai quan tâm đến vấn đề an toàn.
Viên trung uý tên là Zumwalt trợ giúp tôi. Anh ta nói rằng, ông đại tá bảo tôi không nên nói cho mọi người biết về cách thức hoạt động của các nơtron cũng như các chi tiết liên quan, bởi vì quân đội muốn giữ cho các thông tin tách biệt với nhau, nên chỉ nói cho họ biết những điều cần làm để bảo đảm an toàn thôi.
Tôi nói: “Theo quan điểm của tôi thì việc yêu cầu họ phải tuân thủ cả một đống những quy tắc là không có thể, trừ khi họ hiểu rõ mọi việc vận hành như thế nào. Theo tôi, công việc chỉ chạy, nếu tôi nói với họ, và Los Alamos không chịu trách nhiệm về sự an toàn của nhà máy Oak Ridge, trừ phi mọi người được thông tin đầy đủ về cách thức hoạt động của nó!”
Đó là một việc hệ trọng. Viên trung úy đưa tôi đến gặp ông đại tá và nhắc lại những nhận xét của tôi. “Đợi tôi 5 phút,” đại tá nói, rồi đi đến bên cửa sổ, dừng lại và suy nghĩ. Đó là việc mà họ là các bậc chuyên gia – đưa ra các quyết định. Tôi nghĩ, thật đáng nể, việc có tiết lộ hay không tiết lộ các thông tin liên quan đến cơ chế hoạt động của quả bom ở Oak Ridge cần được quyết định và có thể được quyết định chỉ trong 5 phút. Vì thế, tôi vô cùng khâm phục những người trong quân đội, tôi thì chẳng bao giờ quyết định được bất kỳ vấn đề quan trọng nào, dù khoảng thời gian dài bao lâu đi nữa.
Năm phút sau ông ấy nói: “Đồng ý, anh Feynman, hãy triển khai đi.”
Tôi ngồi xuống và nói cho họ về nơtron, chúng hoạt động ra sao, hiện có quá nhiều nơtron đang tập trung ở cùng một chỗ, các vị phải phân tán vật liệu ra, cadmi hấp thụ, nơtron chậm dễ kích hoạt hơn nơtron nhanh, vv… Tất cả những kiến thức này là sơ đẳng ở Los Alamos, nhưng người ở đây chưa bao giờ được nghe bất kì điều gì như vậy, nên trong mắt họ tôi cứ như là một thiên tài.
Kết quả là, họ quyết định lập những nhóm nhỏ, thực hiện các tính toán riêng của mình, để học cách làm. Họ bắt đầu thiết kế lại các phân xưởng. Tất cả các nhà thiết kế của nhà máy, các công trình kiến trúc sư, các kỹ sư, và các kĩ sư hóa học đều có mặt, nhằm xây dựng một nhà máy mới, đảm bảo vật liệu được phân tán ra.
Họ đề nghị tôi quay lại sau vài tháng, nên tôi đã quay lại khi các kỹ sư đã hoàn tất việc thiết kế lại nhà máy. Công việc của tôi lúc này là xem xét và đánh giá nhà máy ấy.
Làm thế nào mà bạn có thể xem xét và đánh giá một nhà máy, khi mà nó còn chưa được xây dựng? Tôi không biết. Trung úy Zumwalt luôn có mặt bên tôi, vì ở đâu tôi cũng cần có người bảo vệ. Anh ấy dẫn tôi vào một căn phòng có hai kỹ sư và một cái bàn dàààààài, trên có một chồng các bản thiết kế, vẽ các tầng khác nhau của nhà máy mới.
Đã từng học vẽ kĩ thuật ở trường phổ thông, nhưng tôi không thông thạo việc đọc các bản thiết kế. Thế rồi, họ mở chồng bản thiết kế ra và bắt đầu giải thích cho tôi, cứ nghĩ rằng tôi là một thiên tài. Giờ đây, một vấn đề mà họ cần tránh ở nhà máy mới là sự tích tụ vật liệu. Họ gặp những khó khăn, kiểu như khi một cái lò hơi đang vận hành, nó gắng gom hơi lại, nếu van bị tắc hoặc gặp một sự cố tương tự, thì hơi sẽ tích tụ quá nhiều, và gây nổ. Vì vậy, họ giải thích với tôi rằng, nhà máy mới được thiết kế sao cho bất kỳ một van nào đó bị kẹt, thì cũng không có chuyện gì xảy ra. Mỗi chỗ phải có ít nhất hai van.
Rồi họ lại giải thích về hoạt động của nhà máy. Carbon tetrachloride (CCl4) đi vào đây, urani nitrate từ đây đến đây, nó được đưa lên, rồi đưa xuống, đưa lên xuyên qua sàn, tiếp tục được đưa lên qua các ống dẫn, rồi từ tầng hai đi lên tiếp, tieeeeep – xuyên qua cả một chồng bản thiết kế, xuống-lên-xuống-lên. Họ nói rất nhanh, giải thích về một nhà máy hóa học vô cùng phức tạp.
Tôi hoa hết cả mắt. Tệ hơn, tôi không biết ý nghĩa của những kí hiệu trên các bản vẽ! Có vài kí hiệu, mà thoạt đầu tôi nghĩ là cửa sổ. Đó là một hình vuông có dấu gạch chéo nhỏ ở giữa, xuất hiện khắp nơi trên các bản vẽ chết tiệt này. Tôi nghĩ đó là cái cửa sổ, nhưng không, đó không thể là cửa sổ, vì không phải lúc nào nó cũng nằm ở đường biên ngoài. Tôi muốn hỏi họ xem đó là cái gì.
Bạn chắc là đã từng rơi vào tình huống kiểu này, khi bạn không hỏi người ta ngay từ đầu. Hỏi ngay thì ổn thôi. Còn bây giờ họ đã nói khá nhiều rồi. Bạn lưỡng lự quá lâu. Nếu bây giờ bạn hỏi, thì họ sẽ nói: “Anh làm phí thời giờ của chúng tôi để làm gì vậy?”
Tôi phải làm gì? Tôi nảy ra ý nghĩ, có lẽ đó là một cái van. Tôi đưa ngón tay chỉ đại vào một trong những dấu gạch chéo nhỏ bí ẩn nằm giữa một trong các bản thiết kế ở trang ba và nói: “Điều gì sẽ xảy ra nếu cái van này bị kẹt?” – dự tính là họ sẽ trả lời: “Đó không phải là cái van, thưa ngài, đó là một cửa sổ.”
Thế là, một anh chàng nhìn anh kia và nói: “Hừm, nếu cái van đó bị tắc –” rồi anh ta lần lên lần xuống trên bản vẽ, lên rồi xuống. Anh chàng kia cũng lần lên rồi xuống, lui rồi tiến, lui rồi tiến. Và, hai người nhìn nhau. Họ quay sang tôi, há hốc mồn như cá ngão, và nói: “Ngài hoàn toàn đúng.”
Thế rồi, họ cuốn bản vẽ lại và đi mất. Chúng tôi cũng rời khỏi phòng. Trung úy Zumwalt, người đi theo tôi, nói: “Anh là một thiên tài. Tôi đã nghĩ rằng, anh là một thiên tài, khi anh chỉ đi lướt qua nhà máy một lần, mà ngay sáng hôm sau đã có thể nói với họ về cái máy sấy khô C-21 ở tòa nhà 90-207.” Anh ta nói tiếp: “Nhưng, việc anh vừa làm quả thật quá tuyệt vời. Tôi muốn biết bằng cách nào anh có thể làm được việc đó.”
Tôi nói với anh ta là hãy thử tìm hiểu xem, đó có phải là một cái van hay không. Một loại công việc khác mà tôi làm thời gian đó là như thế này. Chúng tôi phải làm rất nhiều tính toán và chúng tôi thực hiện việc đó bằng những cái máy tính Marchant. Tiện đây, tôi muốn kể thêm, để các bạn hình dung được Los Alamos là như thế nào: Chúng tôi có những cái máy tính Marchant – máy tính tay và các con số. Bạn ấn máy và chúng sẽ thực hiện nhân, chia, cộng vv… Nhưng không dễ dàng như máy ngày nay. Đó là những thiết bị cơ học, thường xuyên hỏng hóc, và phải gửi trở lại nhà máy để sửa chữa. Chẳng mấy chốc, chúng tôi không còn cái máy nào cả. Vài người trong chúng tôi bắt đầu tháo vỏ máy ra. (Chúng tôi không được phép làm như vậy. Các qui định ghi: “Nếu bạn mở máy, chúng tôi sẽ không chịu trách nhiệm…”). Dù sao thì chúng tôi đã tháo vỏ máy ra và thu được nhiều bài học bổ ích trong việc sửa máy. Càng sửa nhiều, tay nghề càng lên. Nếu máy gặp sự cố quá phức tạp, chúng tôi mới gửi nó về nhà máy. Chúng tôi tự sửa các hỏng hóc đơn giản và giữ cho việc tính toán được thực hiện liên tục. Cuối cùng, thì tôi là người chịu trách nhiệm về những cái máy tính, còn một anh chàng ở xưởng máy phụ trách những cái máy chữ.
Dù sao, chúng tôi đã quyết định rằng, vấn đề quan trọng là xác định chính xác xem những gì xảy ra trong quá trình bom nổ, để bạn có thể biết chính xác năng lượng tỏa ra là bao nhiêu và vv. – việc này đòi hỏi một khối lượng tính toán lớn hơn rất nhiều so với khả năng của chúng tôi. Một anh bạn thông minh, tên là Stanley Frankel, nhận ra rằng vấn đề đó có thể giải quyết được bằng các máy tính IBM. Công ty IBM có những máy tính phục vụ mục đích thương mại, những máy cộng gọi là máy lập bảng cho các tổng liệt kê, và một máy nhân, bạn đưa các phiếu vào và máy sẽ lấy hai số trên một phiếu rồi nhân với nhau. Còn có các thiết bị đối chiếu, phân loại, và vv…
Frankel đã nghĩ ra một chương trình rất hay. Nếu có đủ những cái máy tính này trong phòng, chúng tôi có thể chạy các bìa phiếu theo một chu trình. Tất cả những ai làm công việc tính toán số thời nay đều hiểu chính xác những điều tôi đang nói, nhưng ở thời điểm ấy, điều này là thứ gì đó mới lạ: tính toán khối lượng lớn bằng máy. Chúng tôi đã thực hiện trên các máy cộng những việc kiểu như thế này. Thông thường bạn tự làm mọi việc từng bước một. Nhưng lần này thì khác – đầu tiên bạn làm với máy cộng, rồi máy nhân, rồi lại máy cộng, vv… Frankel đã thiết kế hệ thống này và đặt mua máy của IBM, vì chúng tôi cho rằng đó là cách khả quan để giải quyết các bài toán của mình.
Chúng tôi cần một người để sửa chữa và duy trì hoạt động của những cái máy tính. Bên quân đội vẫn cử sang một người của họ, nhưng anh ta thường xuyên đến trễ. Dạo ấy chúng tôi luôn rất vội. Chúng tôi cố gắng làm mọi việc nhanh nhất có thể. Trong trường hợp đặc biệt này, chúng tôi đã vạch ra tất cả các bước tính toán số mà máy tính sẽ thực hiện – nhân cái này, rồi làm cái nọ, và trừ đi cái kia. Thế rồi chúng tôi đã tạo ra được chương trình, nhưng lại chẳng có cái máy nào để thử nghiệm nó. Vì vậy, chúng tôi phải bố trí một phòng cho các cô gái. Mỗi cô có một máy marchant: cô này nhân, cô kia cộng. Một cô làm phép tính lập phương – tất cả những gì cô ấy làm chỉ là lấy lập phương của một số trên phiếu và chuyển kết quả sang cho cô khác.
Chúng tôi thực hành chu trình tính toán này cho đến khi tìm ra được tất cả các lỗi của chương trình. Hóa ra tốc độ tính toán theo cách này nhanh hơn nhiều so với cách cũ, khi mà mỗi người làm tất cả các công đoạn một cách riêng rẽ. Với qui trình này, chúng tôi đạt được tốc độ tính như dự đoán cho máy IBM. Cái khác duy nhất là các máy IBM chạy không mệt mỏi, và có thể làm việc ba ca. Còn các cô gái thì sau một lúc đã mệt nhừ.
Dù sao thì chúng tôi cũng đã loại bỏ được tất cả các lỗi của qui trình. Cuối cùng máy tính cũng về đến nơi, nhưng lại không có thợ sửa chữa. Đó là những máy tính với kỹ thuật phức tạp nhất thời ấy, những khối lớn tháo rời một phần được chuyển đến cùng với rất nhiều dây dẫn và các bản vẽ hướng dẫn những việc cần làm. Stan Frankel, tôi, cùng một người nữa đi xuống lắp ráp những cái máy này. Chúng tôi gặp một số rắc rối, mà mệt nhất là việc các sếp lớn liên tục đến và nói: “Không khéo các cậu lại làm hỏng bét cả!”
Trong quá trình lắp ráp các bộ phận với nhau, đôi khi chúng khớp nhau, đôi khi không. Cuối cùng, khi đang làm việc với cái máy nhân, tôi nhìn thấy một bộ phận ở bên trong bị cong đi, nhưng không dám kéo thẳng ra, vì sợ làm nó gãy – mà họ thì luôn nói là, chúng tôi chắc chắn sẽ làm hỏng cái gì đó. Khi thợ sửa chữa đến, anh ta sửa những cái máy, mà chúng tôi chưa làm xong, và tất cả đều ổn. Nhưng anh ta cũng gặp khó khăn với cái máy, mà tôi đã thấy có cái gì đó bị cong đi ở bên trong. Ba ngày sau anh ta vẫn loay hoay cái máy cuối cùng đó.
Tôi đi xuống và nói: “Ồ, tôi thấy cái đó bị cong.”
Anh ta đáp: “Ừ, đúng thế. Tất cả tại nó đấy!” Cong à! Được thôi, vậy thì là nó.
Nhưng rồi quý ông Frankel, người đã khởi động chương trình này, bắt đầu nhiễm một căn bệnh mà thời nay bất kỳ ai làm việc với máy tính đều biết. Nó là một căn bệnh trầm trọng, ảnh hưởng lớn đến công việc. Căn bệnh xuất hiện, khi bạn thích chơi với máy tính. Chúng quá tuyệt vời. Bạn có những nút điều khiển – nếu là một số chẵn, bạn ấn nút này, nếu là số lẻ, bạn ấn nút kia – và chẳng bao lâu sau bạn có thể làm được thêm nhiều việc phức tạp hơn trên cùng một cái máy, nếu bạn đủ thông minh.
Sau một thời gian ngắn, toàn bộ hệ thống đổ vỡ. Frankle không thèm để ý gì cả; anh ta cũng chẳng chỉ bảo cho ai. Hệ thống vận hành rất, rất chậm – trong lúc anh ấy ngồi ở một căn phòng nghĩ cách lập bảng tự động in ra arctang của X, và rồi nó cũng chạy, in ra các cột, tít, tít, tít, tính arctang một cách tự động và tạo ra toàn bộ bảng chỉ bằng một thao tác.
Hoàn toàn vô dụng. Đã có các bảng arctang rồi. Nhưng nếu bạn đã từng làm việc với máy tính thì bạn hiểu căn bệnh này – sự thích thú khi có thể biết được khả năng của mình đến đâu. Nhưng anh ấy mắc phải căn bệnh ấy lần đầu mà, anh bạn trẻ tội nghiệp, người đã phát kiến ra hệ thống này.
Tôi được lệnh tạm dời công việc mà tôi đang làm ở nhóm của mình để xuống quản lý nhóm IBM. Tôi cố gắng tránh căn bệnh ấy. Mặc dù họ đã chỉ giải quyết được ba vấn đề trong vòng chín tháng trời, nhưng tôi đã có một nhóm làm việc rất tốt.
Rắc rối thực sự ở đây là, không ai nói gì với các bạn trẻ này cả. Quân đội đã tuyển chọn họ từ khắp nơi trên đất nước cho một cái gọi là Biệt đội Kỹ sư – những cậu bé tốt nghiệp trung học phổ thông, thông minh, và có khả năng về kỹ thuật. Người ta gửi chúng tới Los Alamos, đưa chúng vào doanh trại, và chẳng giải thích gì.
Rồi, cứ thế chúng đến làm việc, và làm việc với những cái máy tính IBM – đục những cái lỗ, những con số mà chúng chẳng hiểu gì cả. Không ai nói với chúng đó là cái gì. Công việc tiến triển rất chậm. Tôi nói rằng, trước tiên, những kĩ sư đó phải biết chúng ta đang làm gì. Oppenheimer trao đổi với bên an ninh và nhận được một sự chấp thuận ngoại lệ. Nhờ thế, tôi đã có thể giảng giải một bài rất thú vị về công việc mà chúng tôi đang làm. Bọn trẻ rất phấn khích: “Chúng ta đang chiến đấu! Chúng ta biết đó là cái gì!” Chúng biết ý nghĩa của các con số. Nếu áp suất cao hơn, điều đó có nghĩa là nhiều năng lượng hơn sẽ được giải phóng ra vv… Chúng biết mình đang làm gì.
Thay đổi hoàn toàn! Chúng bắt đầu đề xuất các cách tốt hơn để giải quyết vấn đề. Chúng hoàn thiện sơ đồ tính toán. Chúng làm việc cả ban đêm. Chẳng cần ai phải giám sát chúng vào ban đêm cả; chúng không đòi hỏi gì cả. Chúng hiểu mọi việc. Chúng đã tạo ra mấy chương trình mà chúng tôi đã sử dụng.
Vậy là, các cậu bé của tôi đã thực sự hiểu công việc và tất cả những gì cần làm chỉ là nói cho chúng biết, chúng đang làm gì. Kết quả là, thay vì mất chín tháng để giải quyết ba vấn đề như trước kia, giờ đây chúng tôi đã giải quyết được chín vấn đề trong ba tháng, nhanh hơn gần mười lần.
Một trong những cách thức bí mật của chúng tôi trong giải quyết các vấn đề là thế này. Các vấn đề cần giải quyết gồm hàng đống bìa phiếu, tất cả phải chạy qua một chu trình. Đầu tiên là cộng, rồi nhân – cứ thế đi một vòng qua các máy tính trong phòng, chậm chạp, đi một vòng, rồi một vòng. Thế là chúng tôi nghĩ ra cách đặt các tập phiếu có màu khác nhau trong cùng một chu trình, nhưng lệch pha nhau.
Chúng tôi có thể giải quyết đồng thời hai hoặc ba vấn đề.
Nhưng cách này lại gây ra một rắc rối khác. Chẳng hạn, gần cuối cuộc chiến tranh, ngay trước vụ thử ở Alburquerque, câu hỏi là: Bao nhiêu năng lượng sẽ được giải phóng ra? Chúng tôi đã tính năng lượng giải phóng cho các thiết kế khác nhau, nhưng lại chưa tính cho chính thiết kế, mà cuối cùng đã được chọn để thực thi. Vì thế, Bob Christie đã xuống và bảo: “Chúng tôi muốn có kết quả cho biết thiết bị sẽ hoạt động thế nào, trong vòng một tháng” – hay một thời hạn rất ngắn, như ba tuần gì đó.
Tôi trả lời: “Điều đó là không có thể.”
Anh ấy nói: “Này, các ông giải quyết gần như hai vấn đề trong một tháng. Chỉ mất hai hoặc ba tuần cho một vấn đề thôi.”
Tôi trả lời: “Tôi biết. Thực sự cần nhiều thời gian hơn để giải quyết một vấn đề, nhưng chúng tôi đã giải chúng theo cách song song. Khi giải từng vấn đề, thì sẽ mất nhiều thời gian hơn, và không có cách nào để kết thúc nhanh hơn được.”
Anh ấy đi ra và tôi bắt đầu suy nghĩ. Liệu có cách nào làm cho nó chạy nhanh hơn không nhỉ? Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng tôi chẳng làm gì khác trên máy, nên không có gì bị chồng chéo cả? Tôi viết lên bảng một thách thức cho bọn trẻ – CHÚNG TA CÓ THỂ LÀM ĐƯỢC KHÔNG? Chúng đồng thanh hét lên: “Được, chúng ta sẽ làm ca đúp, chúng ta sẽ làm thêm giờ,” những lời kiểu như vậy. “Chúng ta sẽ làm được! Chúng ta sẽ làm được! ‘’
Và, nguyên tắc là: gạt tất cả các vấn đề khác ra. Chỉ còn một vấn đề và chỉ tập trung vào vấn đề đó. Thế là, chúng bắt tay vào việc.
Vợ tôi, Arlene đang bị ốm vì bệnh lao – bệnh rất nặng. Có vẻ như, tin xấu có thể đến bất cứ lúc nào, cho nên tôi đã thu xếp trước với một người bạn trong nhà tập thể, để mượn xe ô tô của anh ấy đi ngay đến Albuquerque trong tình huống khẩn cấp. Anh ấy tên là Klaus Fuchs[11].
Anh ta là một điệp viên và đã dùng chiếc xe đó để chuyển tài liệu mật về bom nguyên tử từ Los Alamos xuống Santa Fe[12]. Tuy nhiên, khi đó chưa ai biết việc ấy.
Tin khẩn đến. Tôi mượn xe của Fuchs và cho thêm hai người đi nhờ, phòng trường hợp xe hỏng trên đường đến Albuquerque. Và đúng y như vậy, ngay khi chúng tôi lái xe vào Santa Fe thì một chiếc lốp đã bị xịt. Hai anh chàng đi nhờ giúp tôi thay lốp. Nhưng khi vừa qua khỏi Santa Fe thì một lốp khác lại bị xịt. Chúng tôi phải đẩy xe vào một trạm xăng gần đó.
Anh chàng ở trạm xăng đang sửa xe cho một người khác và sẽ phải mất một thời gian cho đến khi anh ta có thể giúp chúng tôi. Tôi không còn đầu óc đâu mà nghĩ xem nên nói gì, nhưng hai anh chàng đi nhờ đã nói với người thợ sửa xe tình cảnh khẩn cấp của tôi. Ngay sau đó, chúng tôi có một chiếc lốp mới (nhưng không có lốp dự phòng – không dễ để kiếm được lốp xe trong thời gian chiến tranh).
Cách Albuquerque khoảng 30 dặm, chiếc lốp thứ ba bị bẹp. Để lại xe bên đường, chúng tôi vẫy xe đi nhờ chặng đường còn lại. Khi tới bệnh viện gặp được vợ, tôi đã điện cho một gara đến lấy chiếc xe.
Arlene ra đi vài giờ sau khi tôi tới nơi. Một y tá bước vào, điền giấy chứng tử, rồi đi ra. Tôi ở lại với vợ thêm một lát. Rồi, tôi nhìn thấy chiếc đồng hồ, mà tôi tặng Arlene bảy năm trước, khi cô ấy mới bị lao. Ở thời ấy, đây là một đồng hồ đẹp: một chiếc đồng hồ số mà những con số có thể thay đổi bằng xoay một cách cơ học. Chiếc đồng hồ này rất thanh lịch và dễ bị chết vì lý do này hay lý do khác. Tôi phải sửa nó suốt. Dù sao, tôi đã giữ được cho nó chạy trong từng ấy năm. Giờ đây một lần nữa nó dừng lại – lúc 9:22, đúng thời gian ghi trên giấy chứng tử!
Tôi nhớ, có lần khi tôi sống trong nhà nam sinh ở MIT, một ý nghĩ bất chợt xuất hiện trong đầu rằng, bà nội tôi mất. Ngay sau đó, chuông điện thoại reo, cứ như đúng là như vậy. Đó là điện thoại của Peter Bernays – không phải bà tôi mất. Thế là, tôi nhớ đến chuyện ấy, mỗi khi ai đó nói với tôi một chuyện, mà kết cục lại không đúng như tưởng tượng ban đầu. Tôi nhận ra là đôi khi những chuyện như thế có thể xảy ra nhờ may mắn – dù sao thì bà nội tôi cũng đã cao tuổi – nhưng người khác lại có thể nghĩ chuyện xảy ra do một kiểu hiện tượng siêu nhiên nào đó.
Arlene đã giữ chiếc đồng hồ này bên giường mình trong suốt thời gian bị ốm, và giờ đây nó dừng lại đúng lúc cô ấy ra đi. Tôi có thể hiểu được cách thức mà một người bán tin vào khả năng của những chuyện như vậy và không có đầu óc hoài nghi – nhất là trong hoàn cảnh như thế này - sẽ không ngay lập tức gắng tìm hiểu xem cái gì đã xảy ra, thay vì, lại giải thích rằng, chưa ai động đến cái dồng hồ, nên không thể xem đây là một hiện tượng bình thường. Đơn giản là, chiếc đồng hồ đã dừng lại. Câu chuyện có thể trở thành một ví dụ kịch tính về các hiện tượng không tưởng.
Tôi thấy ánh sáng trong phòng đã yếu đi, và rồi tôi nhớ là cô y tá đã cầm chiếc đồng hồ lên và quay mặt nó về phía ánh sáng để nhìn cho rõ. Việc ấy rất dễ làm cho nó ngừng chạy.
Tôi bước ra ngoài đi dạo một chút. Có thể tôi tự dối mình, nhưng tôi đã ngạc nhiên, làm sao mà mình không cảm nhận điều, mà mọi người thường cảm thấy trong tình cảnh như vậy. Tôi không thấy vui, nhưng cũng không thấy quá đau buồn, có lẽ bởi vì tôi đã biết trong suốt bảy năm qua rằng, việc như thế này rồi tất sẽ xảy ra.
Tôi không biết làm thế nào để đối mặt với tất cả bạn bè ở Los Alamos. Tôi không muốn mọi người với bộ mặt dài thuột nói với tôi về việc này. Khi tôi quay về (một chiếc lốp nữa đã bẹp trên đường đi) mọi người hỏi tôi về chuyện đã xảy ra.
“Cô ấy mất rồi. Thế, chương trình chạy ra sao?”
Mọi người ngay lập tức hiểu ra là, tôi không muốn nói nhiều về chuyện đó.
(Rõ ràng, tôi đã làm điều gì đó mang tính tâm lý với chính mình: thực tế quan trọng đến mức – tôi đã phải tìm hiểu xem về mặt sinh lý học thì điều gì thực sự đã xảy ra với Arlene – tôi đã không khóc cho đến tận vài tháng sau, khi đến Oak Ridge. Tôi đi bộ ngang qua một cửa hàng, nhìn quần áo trưng bày trong tủ kính, và tôi nghĩ có thể Arlene thích một trong số đó. Điều này là quá nặng với tôi.)
Khi quay lại làm việc với chương trình tính toán, tôi nhận thấy nó như một mớ hỗn độn: có những phiếu màu trắng, những phiếu màu xanh, những phiếu màu vàng, và tôi vội nói: “Các cháu không nên giải đồng thời nhiều vấn đề – chỉ một thôi!” Chúng trả lời “Chú hãy đi ra, đi ra, đi ra. Hãy đợi, chúng cháu sẽ giải thích mọi chuyện.”
Vì thế tôi đợi và sự việc là thế này. Khi những phiếu đục lỗ đi qua, đôi khi máy tính mắc lỗi, hoặc chúng nhập số sai. Thông thường khi xảy ra điều đó, chúng tôi phải quay về làm lại từ đầu. Nhưng bọn trẻ đã nhận thấy là, sai sót xảy ra ở một điểm nào đó trong một vòng lặp chỉ ảnh hưởng đến các số bên cạnh, vòng lặp tiếp theo lại ảnh hưởng đến các số bên cạnh, và vv.. Nếu bạn có 50 phiếu và có sai sót ở phiếu số 39, nó sẽ chỉ ảnh hưởng tới các phiếu 37, 38 và 39. Ở vòng tiếp, các phiếu bị ảnh hưởng là 36, 37, 38, 39 và 40. Ở vòng sau nữa, nó sẽ lan ra như dịch bệnh.
Vậy là, bọn trẻ phát hiện ra một yếu điểm ở cách làm trước và nảy ra ý tưởng mới. Chúng chỉ tính một tập nhỏ, chỉ mười phiếu xung quanh cái có lỗi. Bởi vì bộ mười phiếu chạy qua máy nhanh hơn bộ 50 phiếu, nên chúng có thể làm nhanh với bộ phiếu nhỏ, trong khi vẫn tiếp tục chạy bộ 50 phiếu với lỗi lan ra như dịch bệnh. Mà, tập nhỏ tính nhanh hơn. Sau đó chúng mới thâu tóm tất cả lại để chỉnh sửa. Cực kỳ thông minh.
Đó là cách mà bọn trẻ đã làm để tăng tốc độ tính. Chẳng có cách nào hay hơn. Nếu chúng phải dừng lại để gắng sửa lỗi, chúng tôi sẽ mất thêm thời gian. Chúng tôi không lấy đâu ra thời gian. Đó là việc mà bọn trẻ đang làm. Hẳn là bạn biết điều gì xảy ra, khi bọn trẻ làm theo cách như vậy. Chúng tìm ra một lỗi trong bộ phiếu màu xanh. Thế là, chúng dùng bộ màu vàng với ít phiếu hơn, nó chạy hết vòng nhanh hơn bộ màu xanh. Đúng lúc chúng đang làm việc cật lực – bởi vì sau khi sửa xong lỗi này, chúng phải sửa bộ phiếu trắng – thì sếp bước vào.
“Để chúng cháu yên,” bọn trẻ nói. Tôi đã không hề động đến chúng và mọi việc đã xong. Chúng tôi giải quyết xong vấn đề đúng thời hạn và đó cách thức làm việc của chúng tôi.
Ban đầu tôi chỉ là một nhân viên quèn. Sau đó tôi trở thành trưởng một nhóm. Nhờ thế, tôi đã được gặp một số nhân vật rất vĩ đại. Được may mắn gặp những nhà vật lý tuyệt vời này là một trong những trải nghiệm quan trọng của đời tôi.
Tất nhiên là có Erinco Fermi[13]. Một lần ông ấy từ Chicago đến, để tư vấn và hỗ trợ, nếu chúng tôi gặp khó khăn. Chúng tôi đã có một cuộc gặp mặt với ông ấy. Lúc đó tôi đang làm một số tính toán và đã có ít nhiều kết quả. Các tính toán này rất phức tạp và rất khó. Thường thì, khi đã là một chuyên gia về tính toán, tôi luôn có thể cho bạn biết kết quả sẽ như thế nào, hoặc khi đã có kết quả, tôi có thể giải thích tại sao lại như vậy. Nhưng vấn đề này quá phức tạp và tôi không thể giải thích vì sao kết quả lại như thế.
Vì vậy, tôi nói với Fermi rằng, tôi đang làm vấn đề này và định mô tả kết quả nhận được. Ông ấy nói: “Khoan, trước khi anh cho tôi biết kết quả, hãy để tôi nghĩ đã. Kết quả sẽ thế này (ông ấy đã đúng), rồi nó sẽ thế này, bởi vì như thế và như thế vv… Và, ông có một lý giải hết sức rõ ràng cho kết quả này.”
Ông đang giải quyết công việc, mà tôi được xem là thành thạo, nhưng ông làm mười lần tốt hơn. Đó thực sự là một bài học cho tôi.
Sau đó có John von Neumann, nhà toán học vĩ đại. Chúng tôi thường đi dạo vào Chủ nhật. Chúng tôi đi vào các hẻm núi, thường có cả Bethe và Bob Bacher. Đó thực sự là một vinh hạnh lớn. Von Neumann đã chia sẻ với tôi một quan niệm thú vị: bạn không phải chịu trách nhiệm về cái thế giới mà bạn đang sống trong đó. Nhờ lời khuyên của von Neumann, tôi đã hình thành một cảm giác mạnh mẽ về sự vô trách nhiệm về mặt xã hội. Quan niệm ấy làm tôi trở thành một người đàn ông rất hạnh phúc suốt từ thời gian đó. Chính von Neumann là người đã gieo hạt để nó nẩy mầm và lớn lên thành tính vô trách nhiệm hiện hữu của tôi!
Tôi cũng gặp cả Niels Bohr. Ngày ấy tên ông là Nicholas Baker. Ông đến Los Alamos cùng với con trai, Jim Baker, mà tên thật là Aage Bohr[14]. Họ đến từ Đan Mạch và, như các bạn biết, họ là những nhà vật lý rất nổi tiếng. Ngay cả đối với những nhân vật tầm cỡ, Bohr vẫn là một vị thánh vĩ đại.
Lần đầu tiên Bohr đến, chúng tôi được tham gia buổi gặp mặt và ai cũng muốn được nhìn thấy ông Bohr vĩ đại. Vì vậy, có rất nhiều người tham dự và chúng tôi thảo luận những vấn đề về bom nguyên tử. Tôi ngồi ở một góc đâu đó trong phòng. Ông ấy đến rồi đi; tất cả những gì mà tôi có thể nhìn thấy về ông là ở giữa những cái đầu của người khác.
Vào buổi sáng của cái ngày, mà ông lại sẽ đến, tôi nhận được một cú điện thoại
“Xin chào, Feynman đó hả?”
“Vâng.”
“Tôi là Jim Baker.” Đó là con trai ông ấy. “Cha tôi và tôi muốn được nói chuyện với anh.”
“Tôi ư? Tôi là Feynman, tôi chỉ là…”
“Đúng vậy. Tám giờ được không?”
Thế là vào lúc 8 giờ sáng, trước khi mọi người tỉnh giấc, tôi đã có mặt ở chỗ hẹn. Chúng tôi đi vào một phòng làm việc ở khu vực kĩ thuật và ông ấy nói: “Chúng tôi đang suy nghĩ làm thế nào để ta có thể chế tạo được quả bom hiệu quả hơn và chúng tôi có ý tưởng này.”
Tôi nói “Không, không được đâu. Không hiệu quả đâu… Ba-lô ba-la.”
Thế là ông ấy hỏi “Thế này, thế này được không?”
Tôi đáp: “Nghe thì có vẻ tốt hơn một chút, nhưng bên trong lại ẩn chứa điều ngớ ngẩn này.”
Mọi việc diễn ra trong khoảng 2 giờ đồng hồ, lật đi lật lại rất nhiều ý tưởng, tranh luận qua lại. Bohr cha đốt tẩu liên tục vì nó luôn bị tắt. Cái cách nói của ông ấy làm tôi không thể nào hiểu được – lẩm nhẩm lẩm nhẩm, rất khó để hiểu được. Con trai ông nói dễ hiểu hơn.
Cuối cùng, ông ấy nói “Tốt rồi,” châm tẩu: “Tôi nghĩ, bây giờ chúng ta có thể gọi những nhân vật chủ chốt vào.” Thế là, họ mời tất cả những người khác vào và cùng thảo luận.
Sau này, người con trai cho tôi biết chuyện đã xảy ra thế nào. Vào lần thăm ngay trước đó, Bohr đã nói với con trai: “Con có nhớ tên anh bạn trẻ ngồi phía sau ở góc kia không? Cậu ta là người duy nhất không sợ ta, và sẽ phản bác khi ta có một ý tưởng điên rồ. Vì vậy, lần tới, nếu muốn thảo luận các ý tưởng, chúng ta không thể làm việc đó với những người cái gì cũng vâng vâng, thưa tiến sĩ Bohr. Hãy mời cậu ấy và chúng ta sẽ nói với cậu ta trước.”
Tôi luôn ngu ngốc theo cách đó. Tôi không bao giờ biết mình đang nói với ai. Tôi luôn chỉ nghĩ đến vật lý. Nếu đó là một ý tưởng tồi, tôi sẽ nói, nó là tồi. Nếu đó là một ý tưởng hay, tôi sẽ nói nó hay. Một xác nhận giản đơn.
Tôi luôn sống theo cách đó. Nếu làm được điều ấy, bạn sẽ thấy dễ chịu và thoải mái. Tôi là người may mắn trong cuộc sống, vì tôi có thể làm điều ấy.
Sau khi chúng tôi đã làm những tính toán, việc tiếp theo, tất nhiên, sẽ là thử. Lúc đó tôi đang ở nhà giữa một kỳ nghỉ ngắn sau khi vợ tôi qua đời. Và vì thế, tôi đã nhận được một bức điện nói rằng: “Cục cưng được dự định vào ngày này ngày nọ.”
Tôi liền bay trở lại, và đến nơi đúng lúc xe buýt chuyển bánh, thế là tôi đi thẳng ra chỗ quan sát và chờ ở đó, cách nơi thử khoảng 20 dặm. Chúng tôi có một cái rađiô và họ sẽ thông báo cho chúng tôi, khi nào thì bom sẽ nổ. Nhưng, chiếc rađiô im tịt, nên chúng tôi chẳng bao giờ biết điều gì đang xảy ra. May mà, chỉ vài phút trước giờ ấn định cho vụ nổ, chiếc rađiô cất tiếng và họ thông báo còn 20 giây gì đó, đối với những người ở xa như chúng tôi. Một số khác ở gần hơn, khoảng 6 dặm. Họ phân phát những cặp kính đen để bạn có thể quan sát vụ nổ. Kính đen ư! Ở khoảng cách hai mươi dặm, bạn chẳng thể nhìn thấy cái quái gì khi mang kính đen cả. Tôi biết, thứ duy nhất có thể gây hại cho mắt của bạn là các tia tử ngoại (ánh sáng chói không bao giờ làm đau mắt bạn). Tôi đến đứng sau kính chắn gió của chiếc xe tải, vì tia tử ngoại không thể xuyên qua thủy tinh, thế là an toàn rồi, và có thể nhìn thấy cái sự cố kinh hoàng ấy.
Đúng giờ, ánh chớp khổng lồ lóe lên ở đó, sáng chói đến mức tôi chúi xuống và nhìn thấy một vết màu tía trên sàn xe. Tôi nói: “Không phải nó. Đó là một dư ảnh.” Vì vậy, tôi quay nhìn trở lại và thấy ánh sáng trắng chuyển sang vàng rồi sang da cam. Các đám mây hình thành và biến mất – do sự nén và giãn của sóng áp lực.
Cuối cùng, một quả cầu da cam lớn, tâm rực sáng, bắt đầu dâng lên, hơi cuộn sóng, viền ngoài đen đen, và rồi bạn nhìn thấy một quả cầu khói cực lớn, có những ánh chớp bên trong, và lò lửa ấy hắt nhiệt ra bên ngoài.
Tất cả xảy ra trong khoảng một phút. Đó là một chuỗi sáng rồi tối, và tôi đã nhìn thấy nó. Có lẽ tôi là người duy nhất đã thực sự nhìn thấy cái sự cố ghê gớm này – vụ thử Trinity thứ nhất. Những người khác đều mang kính tối màu, còn những ai ở khoảng cách sáu dặm thì không thể nhìn thấy gì, vì bị yêu cầu phải nằm rạp xuống sàn. Tôi có lẽ là người duy nhất nhìn vụ nổ bằng mắt trần.
Cuối cùng, sau khoảng một phút rưỡi, đột nhiên dội lên một tiếng nổ dữ – BANG, rồi ầm ầm rền vang như sấm – và tôi đã thực sự bị thuyết phục. Không ai nói một lời nào trong suốt vụ thử. Tất cả chúng tôi chỉ quan sát trong yên lặng. Rồi, âm thanh ấy đã giải toả cho mọi người, riêng tôi thấy nhẹ người, vì cái tiếng nổ chắc nịch ở khoảng cách ấy chứng tỏ là vụ thử đã thành công.
Người đàn ông đứng cạnh tôi hỏi “Cái gì thế?” Tôi trả lời: “Bom đấy.”
Người đàn ông đó là William Laurence. Anh ta ở đó để viết bài tường thuật lại toàn bộ vụ nổ. Tôi được giao nhiệm vụ đưa anh ta đi xem khắp nơi một lượt. Nhưng hóa ra, việc này là quá chuyên sâu đối với hiểu biết của anh ấy. Thế rồi sau đó, H. D. Smyth đến và tôi đã dẫn anh ấy đi một vòng. Chúng tôi đi vào một căn phòng, trong đó có một quả cầu nhỏ mạ bạc đặt ở cuối một bệ hẹp. Bạn có thể đặt tay lên quả cầu. Nó âm ấm. Quả cầu được làm bằng plutoni, một chất phóng xạ. Chúng tôi đứng ở cửa của căn phòng này, nói về chuyện đó. Đây là một nguyên tố mới, do con người tạo ra, chưa từng tồn tại trên Trái Đất, có chăng trừ khoảng thời gian rất ngắn ở kỉ sơ khai. Còn ở đây nó đã được tách ra, phóng xạ, và có những tính chất như thế. Chúng tôi đã tạo ra nó. Và vì thế nó là vô giá.
Mà, bạn biết, người ta thường làm gì khi tán chuyện – nghiêng người sang bên này, gạt chân sang bên kia. Anh ấy đã đá chân vào cục đệm cửa, bạn thấy đấy, và tôi liền nói: “À, một cái chặn cửa, rất phù hợp với cái cửa này.” Đó là một khối hình bán cầu 10 inch bằng kim loại có màu hơi vàng nhạt – bằng vàng thật đấy.
Chuyện là thế này. Chúng tôi cần làm thí nghiệm để xác định xem có bao nhiêu nơtron bị phản xạ lại trên các vật liệu khác nhau, nhằm tiết kiệm số nơtron, để không phải dùng quá nhiều nguyên liệu. Chúng tôi đã làm thí nghiệm với nhiều vật liệu khác nhau. Chúng tôi làm với platin, kẽm, đồng thau và vàng. Thế là, khi làm thí nghiệm với vàng, chúng tôi đã tạo cái mẫu vàng này, và rồi ai đó đã có sáng kiến dùng quả bóng vàng to bự ấy làm cái chặn cửa của căn phòng chứa plutoni.
Sau vụ thử thành công, mọi người ở Los Alamos đều rất phấn khích. Đâu cũng mở tiệc. Tất cả chúng tôi cứ chạy lòng vòng. Tôi ngồi đằng sau một chiếc xe jeep và đánh trống vv… Nhưng có một người, tôi nhớ là Bob Wilson, lại đang ngồi thẫn thờ ở đó.
Tôi hỏi: “Anh đang buồn về việc gì thế?”
Anh ấy trả lời: “Là cái thứ khủng khiếp mà chúng ta đã tạo ra.”
Tôi nói: “Nhưng, anh đã khởi đầu việc ấy. Anh lôi kéo chúng tôi vào cuộc.”
Thế đấy, sự thể xảy ra với tôi, sự thể xảy ra với tất cả những người còn lại là, chúng tôi bắt đầu với một mục đích tốt, rồi bạn làm việc cật lực để hoàn thành việc gì đó, và thật vui, thật phấn khích. Rồi bạn dừng suy nghĩ, bạn thấy đấy, đơn giản là dừng lại. Bob Wilson là người duy nhất vẫn tiếp tục suy nghĩ về việc đó ở thời điểm này. Một thời gian ngắn sau, tôi quay trở lại với thế giới văn minh, đến dạy ở Cornell, và ấn tượng đầu tiên của tôi rất lạ. Tôi không hiểu được nó, nhưng cảm nhận rất rõ. Chẳng hạn như, tôi ngồi trong một nhà hàng ở New York, quan sát các tòa nhà và bắt đầu nghĩ, bạn biết đấy, về bán kính tàn phá của quả bom ở Hiroshima là bao xa và vv… Khoảng cách từ đây đến phố 34? Tất cả các toà nhà ấy, tất cả nát vụn, vv… Rồi tôi tiếp tục đi và thấy người ta đang xây một cây cầu, một con đường mới, và tôi nghĩ họ thật ngốc, chỉ là họ không hiểu, họ không hiểu. Họ xây cầu cống, nhà cửa mới để làm gì? Vô ích!
Nhưng, thật may, việc đó đâu có vô ích trong gần bốn mươi năm qua, có phải không? Vậy là, tôi đã sai khi nghĩ việc xây cầu là vô ích và tôi vui mừng thấy những con người đó có ý chí hướng về phía trước.
❀ ❀ ❀
[1] Phỏng theo bài nói chuyện trong những Bài giảng về Khoa học và Xã hội Thường niên lần thứ nhất tại Đại học California ở Santa Barbara năm 1975. “Los Alamos nhìn từ bên dưới” là một trong loạt 9 bài giảng được xuất bản trong tài liệu Hồi ức về Los Alamos, 19431945, do L. Badash và các cộng sự biên soạn, trang 105-132. Bản quyền năm 1980 thuộc Công ty Xuất bản D. Reidel, Dordrecht, Hà Lan.
[2] Robert R. Wilson (1914-2000), giải thưởng Nobel về vật lý năm 1978 do đã phát hiện ra bức xạ vi ba nền của vũ trụ.(ND)
[3] Urani có hai đồng vị phổ biến nhất, u238 và u235, trong đó chỉ có đồng vị u235 là nhiên liệu tạo ra phản ứng dây chuyền dùng cho bom nguyên tử. (ND)
[4] Arthur Holly Compton (1892-1962) - nhà vật lý người mỹ, đoạt giải Nobel vật lý năm 1927 cho công trình tán xạ, về sau được mang tên ông: hiệu ứng Compton. (ND)
[5] Albuquerque là thành phố lớn nhất của bang New Mexico, vùng Tây nam nước Mỹ. (ND)
[6] Robert Serber (1909-1997) - nhà vật lý người Mỹ, tham gia dự án Manhattan năm 1941. (ND)
[7] Một loại khoáng chất tự nhiên của chì(II) oxit. (ND)
[8] Tên một loại thuốc chữa đầy hơi, chướng bụng. (ND)
[9] Emilio Segrè (1905-1989), người đạt giải Nobel vật lý năm 1959 (cùng với Owen Chamberlain) vì đã phát hiện ra phản proton.
[10] Robert F. Christie (1916 -) nhà vật lý lý thuyết Mỹ, hiện là giáo sư danh dự của Viện Công nghệ California (Caltech). (ND)
[11] Klaus Fuchs (1911-1988) bị buộc tội làm gián điệp vì đã cung cấp những bí mật về bom nguyên tử cho Liên Xô cũ trong và ngay sau chiến tranh thế giới thứ II. (ND)
[12] Thủ phủ của bang New Mexico, Mỹ. (ND)
[13] Enrrico Fermi (1901-1954), nhà vật lý lỗi lạc người italia, giải Nobel về vật lý năm 1938 đã chứng minh được sự tồn tại của các chất phóng xạ mới được tạo ra bằng cách chiếu chùm nơtron và các công trình liên quan. Fermi cũng là người đầu tiên chịu trách nhiệm xây dựng lò phản ứng hạt nhân đỉều khiển được đầu tiên ở trường Đại học Chicago vào tháng 12 năm 1942.
[14] Aage Bohr (1922 -), nhà vật lý lý thuyết Đan Mạch, giải Nobel vật lý năm 1975 (cùng với Ben mottelson và James Rainwater) cho lý thuyết của họ về cấu trúc của hạt nhân nguyên tử.