Feyman: Chuyện Thật Như Đùa!

Lượt đọc: 520 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Kẻ Cắp, Bà Già Gặp Nhau

❊ ❊ ❊

Tôi đã học từ anh chàng Leo Lavatelli cách mở khóa bằng một sợi dây thép. Hóa ra việc mở loại khóa móc bình thường – như những cái khóa yale – là khá dễ dàng. Bạn thử quay ổ khóa bằng cách ghè cái tuốcnơvít vào lỗ khóa (bạn phải ghè từ bên cạnh để cho lỗ khóa vẫn còn hở ra). Ổ khóa không chịu quay vì có mấy cái chốt ở bên trong, để quay được, chúng cần được đẩy lên đúng độ cao (bằng chìa khóa). Vì việc chế tạo khóa thường thiếu hoàn hảo, nên luôn có một cái chốt chịu trách nhiệm chính trong việc giữ cho ổ khóa không bị quay. Bây giờ nếu bạn lấy một mẩu dây thép nhỏ – chẳng hạn, một cái kẹp giấy có đầu hơi vênh lên – đút vào trong lỗ khóa và đưa đẩy nhè nhẹ, tiến lui tiến lui, thì cuối cùng bạn sẽ đẩy được cái chốt chịu trách nhiệm chính ấy lên đến đúng độ cao cần thiết. Ổ khóa nhượng bộ, chỉ một chút thôi, nhờ thế cái chốt đầu tiên giữ nguyên ở vị trí đó – nó đã bị kẹt ở rìa. Bây giờ hầu hết trách nhiệm lại đặt lên vai một cái chốt khác, và bạn lặp lại cùng quá trình ngẫu nhiên như trên trong vài phút nữa, cho đến khi tất cả các chốt được đẩy lên.

Cái tuốcnơvít thường hay bị trượt đi và bạn nghe thấy tíc-tíc-tíc, điều đó có thể làm bạn khó chịu. Có mấy cái lò xo nhỏ đẩy những cái chốt xuống khi chìa khóa được rút ra, và bạn có thể nghe tiếng lách cách của chúng khi bạn nhả cái tuốcnơvít. (Đôi khi bạn chủ định nhả cái tuốcnơvít để xem mình đang đi đến đâu – có thể bạn đang đẩy sai chiều chẳng hạn). Quá trình này có gì đó giống như trong chuyện Sisyphus[1]: bạn luôn lăn trở lại xuống dưới chân đồi.

Đó là một quá trình đơn giản, nhưng việc luyện tập sẽ mang lại rất nhiều lợi ích. Bạn sẽ học được cách đẩy các vật mạnh đến cỡ nào – mạnh vừa đủ để những cái chốt sẽ không tụt xuống, chứ đừng mạnh đến mức để chúng sẽ không chạy lên ở ngay vị trí ban đầu. Có một điều mà hầu hết mọi người không đánh giá đúng mức, đó là việc họ luôn tự khóa mình bằng những cái khóa ở khắp mọi nơi, trong khi việc cạy chúng lại không khó lắm.

Khi chúng tôi bắt đầu làm việc cho dự án bom nguyên tử ở Los Alamos, mọi việc đều gấp gáp đến mức chẳng kịp chuẩn bị gì cả. Toàn bộ bí mật của dự án – mọi thứ về bom nguyên tử – được cất trong những cái tủ đựng hồ sơ, mà nếu có được khóa đi chăng nữa thì cũng là loại khóa móc có chỉ ba chốt: việc mở chúng dễ như mở gói bánh vậy.

Để tăng độ an toàn, nhà sản xuất gia cố mỗi tủ đựng hồ sơ này bằng một thanh dài đi thẳng xuống xuyên qua tay cầm của các ô kéo và được giữ chặt bằng một cái khóa móc.

Một anh chàng nói với tôi: “Hãy nhìn thanh gia cố mà nhà sản xuất mới làm thêm – bây giờ anh có thể mở được tủ nữa không?”

Tôi nhìn vào phía sau tủ và thấy những cái ô kéo không có đáy cứng. Trong mỗi ô có một cái rãnh với một cái thanh kim loại mảnh giữ một tấm trượt (cái này chặn giấy tờ lại bên trong ngăn tủ). Tôi chọc vào ô kéo từ phía sau, kéo tấm trượt ra sau, và bắt đầu lôi giấy tờ ra ngoài qua cái rãnh. “Xem này!” tôi nói. “Thậm chí tôi không cần phải mở khóa.”

Los Alamos là nơi đầy tinh thần hợp tác, và chúng tôi thấy có trách nhiệm phải chỉ ra những thứ cần được hoàn thiện. Tôi luôn phàn nàn rằng bảo quản tài liệu như vậy là thiếu an toàn, cho dù mọi người đều nghĩ thế là an toàn rồi, bởi vì đã có những thanh thép và những chiếc khóa móc, thực ra nó chẳng có nghĩa quái gì.

Để chứng tỏ rằng những cái khóa chẳng có ý nghĩa gì hết, bất cứ khi nào cần báo cáo của ai đó mà họ vắng mặt, tôi chỉ việc vào phòng làm việc của họ, mở tủ đựng tài liệu, và lấy nó ra. Khi dùng xong tôi trả lại cho chủ nhân: “Cảm ơn anh vì báo cáo này.”

“Cậu lấy nó ở đâu vậy?”

“Từ tủ đựng hồ sơ của anh.”

“Nhưng tôi đã khóa nó rồi cơ mà!”

“Tôi biết anh đã khóa tủ. Những cái khóa ấy chẳng ra gì.”

Cuối cùng, người ta mang đến một số tủ hồ sơ có khóa chữ, sản phẩm của hãng mosler Safe. Mỗi tủ có ba ô kéo. Thông qua một cái chốt, việc kéo ô trên cùng ra sẽ cho phép kéo ra cả những ô khác. Ô trên cùng được mở bằng cách quay bánh số sang trái, sang phải, và lại sang trái để phối hợp, rồi quay sang phải đến đúng số mười, nó sẽ hạ cái then ở bên trong xuống. Toàn bộ tủ tài liệu được khóa bằng cách đóng các ô kéo phía dưới trước, rồi đến ô trên cùng, rồi quay bánh số ra khỏi số mười, nó đẩy cái then lên.

Những tủ tài liệu mới này, rất tự nhiên, là một thách thức trực diện. Tôi vốn thích những thách đốmột kẻ cố làm ra một thứ gì đó để ngăn cản kẻ khác; chắc chắn phải có cách hạ thủ nó!

Trước tiên, tôi phải hiểu cái khóa này hoạt động như thế nào, nên tôi đã tháo tung cái ở trong phòng mình. Nguyên lý hoạt động của nó là thế này: có ba cái đĩa đồng trục, cái nọ sau cái kia, mỗi cái có một rãnh hình chữ V ở một vị trí khác. Ý tưởng là làm cho các rãnh này thẳng hàng với nhau, nhờ thế khi bạn quay bánh số về số mười, thì bộ phận truyền lực ít ma sát sẽ thả cái chốt xuống cái khe tạo bởi những rãnh chữ V của ba cái đĩa.

Để làm quay các đĩa, có một cái chốt nhô ra từ phía sau của bánh số, và một chốt nhô lên từ cái đĩa thứ nhất ở cùng bán kính. Trong một vòng quay của bánh số, bạn sẽ bắt được cái đĩa thứ nhất lên.

Ở mặt sau của đĩa thứ nhất lại có một chốt ở cùng bán kính như cái chốt ở mặt trước của đĩa thứ hai, nhờ thế, khi bạn quay bánh số thêm một vòng nữa thì bạn cũng bắt được cả đĩa thứ hai lên.

Tiếp tục quay bánh số, cái chốt ở mặt sau của đĩa thứ hai sẽ chạm vào cái chốt ở mặt trước của đĩa thứ ba, rồi bạn chuyển nó đến vị trí thích hợp với số đầu tiên của mã số khóa.

Bây giờ bạn sẽ phải quay bánh số theo chiều ngược lại đúng một vòng để bắt đĩa thứ hai từ phía khác, rồi tiếp tục quay đến số thứ hai của mã số để đặt đĩa thứ hai đúng vị trí.

Tiếp theo bạn quay ngược bánh số một lần nữa để làm cho đĩa thứ nhất vào đúng vị trí. Bây giờ thì tất cả các rãnh hình chữ V đã thẳng hàng, và chỉ việc quay bánh số về mười là bạn sẽ mở được tủ.

Thế đấy, tôi đã vật lộn với nó, mà chẳng đi đến đâu. Tôi mua hai cuốn sách chuyên về cạy khóa, mà chúng chẳng khác gì nhau. Ở phần đầu của cuốn sách có mấy câu chuyện về những thành công tuyệt vời của một tay chuyên cạy khóa, chẳng hạn như, một người phụ nữ bị nhốt trong một cái tủ lạnh bảo quản thịt và đang bị lạnh khủng khiếp, nhưng người cạy khóa, treo mình lộn ngược, đã mở nó chỉ trong vòng hai phút. Hoặc là có những bộ đồ lông thú quí giá, hay vàng thỏi ở dưới nước, tận đáy biển, và người cạy khóa đã lặn xuống và mở cái hòm.

Ở phần thứ hai của cuốn sách, họ nói về cách cạy một cái két. Có đủ các loại trò ngớ ngẩn, ngu ngốc, kiểu như “Vì nhiều người thích lấy mã số là ngày tháng, nên việc thử dùng ngày tháng để dò mã số có thể là một ý hay”. Hoặc “Hãy nghĩ về tâm lý của người chủ két và cái mà anh ta có thể lấy làm mã số”. Và “Thư ký thường lo là mình có thể quên mã số, nên cô ta có thể ghi nó lại ở một trong những vị trí sau – dọc theo cạnh ngăn kéo bàn của cô ấy, ở danh sách tên và địa chỉ…”, và vân vân.

Tuy nhiên, các cuốn sách này đã chỉ cho tôi một điều gì đó thật khôn ngoan về cách cạy các két thông thường, và điều đó khá dễ hiểu. Các két thông thường có một tay cầm phụ, nên nếu bạn ấn tay cầm đó xuống trong khi đang quay bánh số, thì tác dụng sẽ không đều (như ở khóa), lực của tay cầm, gắng đẩy cái chốt xuống các rãnh hình chữ V (không thẳng hàng), sẽ bị cản lại không đều bởi các đĩa. Khi rãnh chữ V ở một đĩa đến dưới cái chốt, thì sẽ có một tiếng tách nhẹ mà bạn có thể nghe được bằng một cái ống nghe, hoặc một sự giảm nhẹ về lực kháng mà bạn có thể cảm thấy (bạn không cần phải đánh nhẵn các đầu ngón tay của mình), và bạn biết “Đây là một số!”

Tuy bạn không biết liệu đó là số đầu tiên, thứ hai hay thứ ba, nhưng bạn có thể giải quyết tốt việc đó bằng cách kiểm tra xem bạn phải quay bánh số ngược lại bao nhiêu lần để nghe lại được cùng tiếng tách đó. Nếu ít hơn một lần một chút thì đó là đĩa đầu tiên; nếu ít hơn hai lần một chút thì đó là đĩa thứ hai (bạn cần tính đến hiệu chỉnh do độ dày của những cái chốt).

Cái mẹo hữu dụng này chỉ phát huy tác dụng với những cái két thông thường có tay cầm phụ, thành thử tôi vẫn rất lúng túng.

Tôi đã thử tất cả các kiểu mẹo bổ trợ với các loại tủ, như là tìm cách tháo mấy cái chốt ở các ô kéo dưới mà không cần mở ô trên cùng bằng cách tháo con ốc vít ở phía trước và dò bằng một mẩu dây thép có móc.

Tôi thử quay bánh số rất nhanh và rồi đưa đến số mười, như thế sẽ khởi phát một chút kháng lực, điều mà tôi hy vọng sẽ làm cái đĩa dừng lại ở đúng điểm theo một cách nào đó. Tôi đã thử mọi cách.

Tôi đã hết hy vọng.

Tôi cũng đã tiến hành một số đáng kể các nghiên cứu có tính hệ thống. Chẳng hạn, một mã số tiêu biểu là 69-32-21. Một số có thể lệch đi bao nhiêu khi bạn vẫn còn mở được két? Nếu số đó là 69 thì liệu 68 có được không? 67 có được không? Với những khóa mà chúng tôi có, câu trả lời là được cho cả hai số, nhưng 66 thì không. Bạn có thể lệch hai số theo cả hai phía. Điều đó nghĩa là bạn chỉ phải thử các số cách năm, như vậy bạn có thể thử số không, năm, mười, mười lăm, và vân vân. Với hai mươi con số như vậy trên một bánh số 100, thì chỉ có 8000 khả năng thay vì 1000000 nếu bạn phải thử từng số một.

Câu hỏi bây giờ là, sẽ mất bao lâu để tôi có thể thử 8000 tổ hợp số này? Giả sử tôi làm lộ ra hai số đầu tiên của mã số mà tôi đang gắng tìm. Chẳng hạn, các số đó là 69-32, nhưng tôi không biết, – tôi tìm ra chúng như là 70-30. Bây giờ tôi có thể thử hai mươi khả năng cho số thứ ba mà không cần phải đặt lại hai số đầu trong mỗi lần thử. Nhưng giả sử rằng tôi chỉ biết một số đầu tiên của mã số, thì sau khi thử hai mươi số ở đĩa thứ ba, tôi dịch bánh thứ hai đi chỉ một chút, rồi thử hai mươi số khác ở bánh thứ ba.

Tôi tập luyện liên tục với cái két của mình nên có thể hoàn tất quá trình này nhanh nhất có thể mà không bị lẫn lộn trong đầu về con số vừa thử và làm rối số đầu tiên. Giống như những tay luyện trò ảo thuật, tôi đạt đến sự nhịp nhàng tuyệt đối và có thể thử 400 số cũ tiềm năng trong thời gian ít hơn nửa giờ. Điều này có nghĩa là tôi có thể mở một cái két chậm nhất là trong tám tiếng đồng hồ – còn trung bình là bốn tiếng.

Có một người ở Los Alamos, tên là Staley, cũng rất quan tâm đến những cái khóa. Chúng tôi trao đổi suốt về việc này, nhưng cũng chẳng tiến được mấy. Sau khi có ý tưởng về cách mở két trong thời gian trung bình bốn tiếng, tôi muốn chỉ cho Staley biết cách làm đó, nên tôi đi vào phòng làm việc của một người bên phòng máy tính và hỏi: “Anh có thấy phiền nếu tôi sử dụng cái két của anh không? Tôi muốn chỉ cho Staley điều này.”

Trong khi đó mấy người ở phòng máy tính xúm đến và một người nói: “Này, mọi người đâu; Feynman đến chỉ cho Staley cách mở két, ha, ha, ha!” Thực sự thì tôi không định mở két; tôi chỉ muốn nói cho Staley biết cách thử nhanh hai số trước mà không phá mất vị trí hiện có của bạn và không phải đặt lại con số thứ nhất.

Tôi bắt đầu. “Giả sử rằng số đầu tiên là bốn mươi, và chúng ta đang thử mười lăm cho số thứ hai. Chúng ta lùi lại rồi tiến lên, mười; lùi thêm năm nữa rồi tiến, mười; và vân vân. Bây giờ chúng ta đã thử tất cả các khả năng của số thứ ba. Tiếp theo chúng ta thử hai mươi cho số thứ hai: chúng ta lùi rồi tiến, mười; lùi thêm năm nữa và tiến, TÁCH!” Tôi há hốc mồm: hai số đầu tiên ngẫu nhiên lại trúng!

Không ai thấy biểu hiện đó của tôi vì tôi đang quay lưng lại phía họ. Staley nhìn rất ngạc nhiên, nhưng cả hai chúng tôi nhanh chóng hiểu điều gì xảy ra, nên tôi vung tay lôi ô kéo trên cùng ra và nói: “Của anh đây!”

Staley nói: “Tôi hiểu ý anh; đó là một sự phối hợp tuyệt đẹp” – và chúng tôi đi ra. Mọi người đều sửng sốt. Đó hoàn toàn là gặp may. Giờ thì tôi thực sự nổi tiếng về mở két.

Tôi mất khoảng một năm rưỡi để đạt được trình độ đó (tất nhiên, tôi cũng làm việc cho dự án bom), dù sao tôi đã nhận ra mình có khả năng cạy két, theo nghĩa trong trường hợp thực sự khó khăn – ai đó mất tích, hoặc chết, mà không ai biết mã số trong khi những thứ trong tủ tài liệu lại rất cần – thì tôi có thể mở nó. Sau khi đọc những thứ ngớ ngẩn mà những tay phá két huyên thuyên thì tôi nghĩ đó là một thành công đáng nể.

Chúng tôi không có trò tiêu khiển nào ở Los Alamos và phải tự giải trí bằng cách này hay cách khác, nên táy máy cái khóa mosler ở tủ đựng hồ sơ của mình là một trong những trò tiêu khiển của tôi. Một hôm, tôi đã thấy một điều rất thú vị: Khi cái khóa đã được mở, ô kéo được kéo ra và bánh số vẫn đặt ở số mười (khi mở tủ tài liệu và đang lấy giấy tờ ra, mọi người đều làm như vậy) thì cái chốt vẫn ở phía dưới. Điều này có nghĩa là gì, việc cái chốt vẫn ở phía dưới? Nó có nghĩa là cái chốt đang ở trong khe tạo bởi ba cái đĩa vẫn đang xếp thẳng hàng. A ha!

Bây giờ nếu tôi quay bánh số ra khỏi số mười một chút thì cái chốt sẽ đi lên; nếu tôi ngay lập tức quay lại mười, thì cái chốt sẽ lại lui xuống, vì tôi không hề làm xáo trộn cái rãnh. Nếu tôi tiếp tục đi ra khỏi mười, mỗi bước năm số, thì tại một điểm nào đó cái chốt sẽ không hạ xuống trở lại khi tôi quay về mười: cái rãnh đã bị xáo trộn. Con số ngay trước, mà nó vẫn cho phép cái chốt hạ được xuống, chính là số cuối cùng của mã số khóa!

Tôi nhận ra là mình có thể làm đúng như thế để tìm số thứ hai: ngay sau khi biết số cuối cùng, tôi có thể quay bánh ngược lại và một lần nữa, mỗi bước năm số, đẩy cái đĩa thứ hai từng tí một cho đến khi cái chốt không thể hạ xuống. Con số ngay trước đấy sẽ là số thứ hai.

Bằng cách đó, nếu hết sức kiên nhẫn tôi có thể tìm được cả ba số. Nhưng, lượng công việc cần để tìm ra số thứ nhất của mã số khóa bằng hoạch đồ phức tạp này là lớn hơn rất nhiều so với việc thử hai mươi khả năng của số thứ nhất khi đã biết hai số còn lại trong trường hợp cái tủ đang đóng.

Tôi tập luyện và tập luyện cho đến khi có thể nhận ra hai số cuối ở một tủ tài liệu đang mở, hầu như không cần phải nhìn vào bánh số. Sau đó, khi đang thảo luận một vấn đề Vật lý ở trong phòng của anh chàng nào đó, tôi tựa vào cái tủ tài liệu đang mở của anh ta, và giống như người vô tình lắc lắc mấy cái chìa khóa khi đang nói chuyện, tôi vặn vặn cái bánh số tiến rồi lui, tiến rồi lui. Thỉnh thoảng, tôi đặt ngón tay vào cái chốt để chẳng cần nhìn mà vẫn biết nó có đi lên hay không. Bằng cách đó, tôi lấy được hai số cuối cùng trong mã số khóa của nhiều tủ tài liệu. Khi về lại phòng, tôi ghi hai con số ấy lên một mảnh giấy và để nó bên trong cái khóa tủ tài liệu của mình. Mỗi lần muốn lấy mảnh giấy ấy tôi phải tháo rời cái khóa ra - tôi nghĩ đó là nơi cực kỳ an toàn để giữ chúng.

Thời gian ngắn sau, danh tiếng của tôi bắt đầu nổi như cồn, bởi vì xảy ra những việc kiểu như: người nào đó nói: “Này, Feynman! Christy đang đi vắng mà chúng tớ cần tài liệu trong tủ của cậu ấy – cậu có thể mở nó không?” nếu đó là cái tủ mà tôi biết mình không có hai con số cuối cùng, thì tôi sẽ trả lời gọn lỏn: “Xin lỗi nhé, tớ không thể làm việc đó bây giờ; tớ đang có việc này phải làm.” Trong trường hợp ngược lại, tôi sẽ nói: “Được, nhưng tôi phải lấy một số dụng cụ.” Tôi chẳng cần dụng cụ nào cả, mà quay về phòng mình, tháo cái khóa ra và nhìn vào mảnh giấy nhỏ: “Christy – 35, 60”. Rồi, tôi cầm một cái tuốcnơvít đi sang phòng của Christy và đóng cửa lại. Hiển nhiên là không phải ai cũng được phép biết cách mở khóa này!

Tôi ở trong đó một mình và mở cái tủ trong vòng vài phút. Tất cả những gì tôi phải làm là thử con số đầu tiên nhiều nhất là hai mươi lần, sau đó ngồi loanh quanh, đọc tạp chí hay gì đó trong mười lăm hay hai mươi phút. Chẳng có lợi lộc gì khi cố làm cho công việc xem ra quá dễ dàng: ai đó sẽ nghĩ là trong đó chắc có điều gian tế! Sau một lát tôi mở cửa và nói: “Tủ mở rồi đấy.”

Mọi người nghĩ rằng tôi đã tiến hành việc mở khóa từ khâu đầu. Bây giờ tôi có thể duy trì ý nghĩ, bắt đầu từ sự tình cờ với Staley, rằng tôi có thể mở những cái két hắc búa. Không ai biết tôi đã lấy hai số cuối cùng từ cái két của họ, cho dù – có lẽ bởi vì – tôi đã làm việc này suốt, giống như một tay cờ bạc bịp cứ đi lòng vòng suốt với một bộ bài.

Tôi thường đến Oak Ridge để kiểm tra sự an toàn của nhà máy uranium. Cái gì cũng vội vã vì đó là thời chiến, và có lần tôi đã phải đến đó vào dịp cuối tuần. Đó là một ngày Chủ nhật và chúng tôi ở trong phòng làm việc của người đàn ông này – một vị tướng, một sếp hay một phó chủ tịch của một công ty nào đó, hai nhân vật cỡ bự quan trọng khác, và tôi. Chúng tôi tụ tập để cùng thảo luận về bản báo cáo đang nằm trong két của người đàn ông đó – một cái két bí mật - thế mà, đột nhiên ông ta nhận ra là mình không biết mã số khóa. Thư ký của ông ấy là người duy nhất biết nó. Ông ta gọi về nhà cô ấy, nhưng hóa ra cô ấy lại đang đi dã ngoại ở trên đồi.

Trong khi tất cả chuyện này đang diễn ra, tôi hỏi: “Ông có thấy phiền không nếu tôi nghịch cái két một chút?”

“Ha, ha, ha – cứ tự nhiên!” Thế là tôi đến chỗ cái két và bắt đầu tiêu phí thời gian.

Họ bắt đầu bàn xem làm thế nào có thể lấy một cái xe rồi thử đi tìm cô thư ký. Người chủ của cái két đó mỗi lúc một lúng túng vì đang bắt những nhân vật quan trọng này phải chờ đợi, còn ông ta thì ngốc đến mức không biết mở cả cái két của chính mình. Khi mọi người đều căng thẳng và bực mình với ông ấy, thì bỗng TÁCH! – cái két đã được mở.

Trong 10 phút tôi đã mở được cái két chứa toàn bộ tài liệu mật về nhà máy uranium. Bọn họ hết sức kinh ngạc. Rõ ràng những cái két này không an toàn. Cực sốc. Tất cả tài liệu “Chỉ được phép xem”, tuyệt mật ấy, được giữ trong một két bí mật cực xịn ấy, thế mà cái anh chàng này mở nó chỉ trong mười phút.

Tất nhiên, tôi mở được cái két ấy là nhờ thói quen cố hữu lấy hai số cuối của mình. Khi đến Oak Ridge một tháng trước đó, tôi đã ở trong chính văn phòng này khi cái két đang mở ra và đã lấy các số đó một cách vô tình – tôi luôn luôn thực hành cái điều đang ám ảnh mình. Mặc dù không ghi lại, tôi vẫn còn mang máng nhớ chúng. Đầu tiên tôi thử 40-15, rồi 15-40, nhưng không cặp nào đúng cả. Sau đó tôi thử 10-45 với tất cả những số thứ nhất có thể, và két đã mở ra.

Chuyện tương tự đã xảy ra ở một dịp cuối tuần khác, khi tôi thăm Oak Ridge. Tôi đã viết một báo cáo, nó đã được một đại tá duyệt và đang nằm trong két của ông ấy. Tất cả những người khác đều cất tài liệu trong những cái tủ giống như tủ ở Los Alamos, nhưng ông ấy là một đại tá nên có một cái két hai-cửa khác lạ hơn nhiều, với những tay cầm lớn, mà chúng kéo bốn cái chốt thép dày khoảng 2cm giật lùi khỏi cái khung. Những cánh cửa đồng thau lớn mở ra đồng bộ và ông ấy lấy ra bản báo cáo của tôi để đọc.

Chưa bao giờ có cơ hội nhìn thấy những cái két thực sự tốt nên tôi nói với đại tá: “Ông có bận tâm, nếu trong khi ông đọc báo cáo tôi xem qua cái két của ông?”

“Cứ tự nhiên đi,” ông ta đáp, tin rằng chẳng có gì để tôi có thể làm cả. Tôi nhìn vào phía sau của một trong các cánh cửa đồng thau chắc nịch và phát hiện ra là bánh số được nối với một cái khóa nhỏ nhìn giống y đúc cái ở tủ đựng hồ sơ của tôi ở Los Alamos. Cùng một hãng, cùng một cái chốt nhỏ, ngoại trừ một điều khi cái chốt này hạ xuống thì những tay cầm lớn trên két có thể làm mấy cái thanh dịch chuyển sang ngang, và nhờ một hệ đòn bẩy bạn có thể kéo lui lại tất cả những thanh thép khoảng 2cm này. Rõ ràng là, toàn bộ hệ thống đòn bẩy phụ thuộc vào cùng một cái chốt nhỏ như cái vẫn dùng để khóa các tủ hồ sơ.

Chỉ để hoàn thiện nghề nghiệp và để chắc chắn rằng đúng là vẫn cái chốt ấy, tôi lấy hai con số theo cách mà tôi đã làm với những cái tủ đựng tài liệu văn phòng.

Trong khi đó đại tá vẫn đang đọc báo cáo. Khi đọc xong ông ta nói: “Được, một bản báo cáo tốt.” Ông để bản báo cáo vào trong tủ, nắm lấy tay cầm và di chuyển đồng bộ các cánh cửa lớn bằng đồng thau. Xem ra chúng đóng vào rất ổn, nhưng tôi biết đó hoàn toàn là tâm lý thôi, vì nó vẫn chỉ là cái khóa vớ vẩn ấy.

Tôi không thể nhịn được việc châm chọc đại tá một chút (tôi thường hay sinh chuyện với các quân nhân, trong những bộ đồng phục tuyệt vời như vậy), nên tôi nói: “Với cái cách đóng két của ông, tôi có cảm giác là ông nghĩ mọi thứ trong đó là an toàn.”

“Tất nhiên.”

“Lý do duy nhất để ông nghĩ ở trong đó chúng được an toàn là bởi vì những người dân thường gọi nó là cái ‘két’.” (Tôi dùng từ “Dân thường” ở đây để làm có vẻ như là ông ta cũng từng là dân thường thôi.) ông ta rất tức giận. “Ý cậu muốn nói gì? Nó không an toàn?”

“Một tay phá két giỏi có thể mở nó trong vòng ba mươi phút.”

“Cậu có thể mở nó trong ba mươi phút không?”

“Tôi đã nói là một tay phá két giỏi. Tôi thì phải mất bốn lăm phút.”

“Được!” ông ta nói. “Vợ tôi đang đợi tôi về nhà ăn tối, nhưng tôi sẽ ở lại đây xem cậu làm. Hãy ngồi kia và làm cái việc chết tiệt ấy trong vòng bốn lăm phút. Có mà mở được!” ông ta ngồi xuống cái ghế bành to bọc da của mình, gác chân lên bàn, và đọc.

Hoàn toàn tự tin, tôi lấy một cái ghế, mang nó đến chỗ cái két và ngồi xuống phía trước. Tôi bắt đầu quay bánh số một cách ngẫu nhiên, chỉ để làm vài động tác.

Sau khoảng năm phút, một khoảng thời gian khá dài với một người ngồi và chờ đợi, ông ta đã hơi mất kiên nhẫn: “Thế nào, có tiến triển gì không?”

“Với những thứ như thế này thì hoặc là mở được, hoặc là không.”

Tôi tính là một hoặc hai phút nữa sẽ là đúng lúc, nên tôi bắt đầu làm việc nghiêm và hai phút sau, TÁCH – két đã mở ra.

Viên đại tá há hốc mồm, hai mắt trợn ngược.

“Đại tá,” tôi nói bằng một giọng nghiêm nghị: “Cho phép tôi nói với ông đôi điều về những cái khóa này: Khi cửa của cái két hoặc ô kéo trên cùng của tủ đựng hồ sơ để mở, người ta rất dễ dàng lấy được mã số. Đó chính là điều tôi đã làm, khi ông đọc bản báo cáo, chỉ là để minh họa sự mất an toàn. Ông nên bắt mọi người phải đóng các ô kéo tủ tài liệu của mình trong khi đang làm việc, bởi vì khi các ô này mở ra, thì chúng rất, rất không an toàn.”

“Được! Tôi hiểu ý cậu! Rất thú vị!” Dù sao chúng ta cũng ở cùng một bên.

Lần tiếp theo tôi đến Oak Ridge, tất cả các cô thư ký và những người biết tôi là ai, đều nói với tôi: “Đừng đến chỗ này! Đừng đến chỗ này!”

Viên đại tá đã gửi một thông báo lưu ý mọi người trong nhà máy với nội dung: “Trong lần viếng thăm vừa rồi, anh Feynman có khi nào vào văn phòng của các anh, đến gần hay đi qua văn phòng của các anh hay không?” một số người trả lời có; những người khác trả lời không. Những người trả lời có lại nhận được một lưu ý khác: “Hãy thay đổi mã số khóa két của anh”.

Đó là giải pháp của ông đại tá: tôi là một hiểm họa. Thế là, do tôi mà tất cả bọn họ phải thay đổi mã số khóa. Thật quá phiền toái khi phải thay đổi mã số khóa và phải nhớ mã số mới, vì thế, tất cả bọn họ đều rất ngán tôi và không muốn tôi đến gần: họ có thể phải thay đổi mã số khóa một lần nữa. Tất nhiên, tủ tài liệu của họ thì vẫn để mở tơ hơ ra trong khi họ đang làm việc!

Thư viện ở Los Alamos lưu giữ tất cả những tài liệu mà chúng tôi đã từng sử dụng trong công việc. Đó là một phòng bê tông rất chắc chắn với một cánh cửa to, đẹp có một cái bánh quay bằng kim loại – giống như hầm lưu giữ các đồ quí giá. Trong thời gian chiến tranh tôi đã thử xem xét nó khá kỹ. Tôi quen biết một cô thủ thư và đã năn nỉ cô ấy cho tôi nghịch nó một chút. Tôi đã bị nó mê hoặc: Đó là cái khóa lớn nhất tôi từng nhìn thấy! Tôi hiểu ra là tôi chẳng bao giờ có thể dùng phương pháp lấy hai số cuối của mình để thâm nhập vào đó được. Thực ra, trong khi quay quả đấm lúc cửa đang mở, tôi làm cho cái khóa sập lại, thế nên cái chốt khóa chìa ra và họ không thể đóng cửa lại cho đến khi cô thủ thư đến và mở khóa ra. Việc nghịch ngợm cái khóa đó của tôi kết thúc ở đây. Tôi đã không có thời gian để hiểu xem nó hoạt động như thế nào; điều đó vượt quá xa khả năng của tôi.

Trong mùa hè sau chiến tranh, tôi phải viết một số tài liệu và hoàn thành nốt công việc. Vì vậy tôi đã quay lại Los Alamos từ Cornell, nơi tôi đã giảng dạy suốt một năm. Giữa chừng công việc, tôi cần tra cứu một tài liệu mà mình đã viết trước đây nhưng không thể nhớ được, và nó ở dưới thư viện.

Tôi đi xuống để lấy tài liệu đó, và có một người lính mang súng đi tới đi lui. Hôm đó là thứ bảy; mà sau chiến tranh thư viện lại đóng cửa vào các ngày thứ bảy.

Rồi tôi nhớ tới những gì mà người bạn tốt của tôi, Frederic de Hoffman, đã làm. Cậu ấy ở bộ phận giải mật. Sau chiến tranh, quân đội nghĩ đến việc công khai một số tài liệu và cậu ấy phải đi đi lại lại đến thư viện rất nhiều lần – xem tài liệu này, xem tài liệu kia, kiểm tra cái này, kiểm tra cái kia – làm cậu ta phát điên! Vì thế, cậu ấy có bản sao của mọi tài liệu – tất cả bí mật của bom nguyên tử – trong chính cái tủ tài liệu ở phòng của mình.

Tôi đi xuống phòng cậu ấy và thấy đèn đang sáng. Dường như ai đó đã ở đấy – có lẽ là thư ký của cậu ta – và mới đi ra ngoài vài phút trước, nên tôi đã đợi. Trong khi chờ đợi tôi bắt đầu táy máy cái bánh số ở một trong các tủ hồ sơ. (À mà, tôi đã không có hai số cuối với các tủ của de hoffman, chúng mới được đặt ở đó sau chiến tranh, sau khi tôi đã dời đi).

Tôi bắt đầu xoay xoay một cái bánh số và nghĩ về những cuốn sách phá két. Tôi tự bảo: “Những mánh khóe mô tả trong mấy cuốn sách đó chưa bao giờ gây ấn tượng nào cho mình, nên mình chưa bao giờ thử chúng. Nhưng, hãy xem, liệu có thể mở được tủ của de hoffman bằng mấy mánh trong cuốn sách ấy hay không.”

Mẹo đầu tiên, thư ký: cô ấy sợ là mình sẽ quên mất mã số khóa nên ghi nó lại ở đâu đó. Tôi bắt đầu tìm kiếm ở những nơi được cuốn sách khuyến cáo. Ô kéo bàn đã bị khóa, nhưng đó là loại khóa bình thường giống như loại mà Leo Lavatelli đã dạy tôi cách mở – ping!

Tôi nhìn dọc theo cạnh của ngăn kéo: không có gì.

Rồi tôi lật xem những giấy tờ của người thư ký. Tôi tìm thấy một tờ giấy mà mọi thư ký đều có, với những chữ cái Hy Lạp được viết cẩn thận - để họ có thể nhận ra chúng trong những công thức toán học – và được đặt tên. Ở đó, dọc theo mép trên của tờ giấy, một dòng viết thiếu cẩn thận, pi = 3,14159. Này, đó là sáu con số, mà vì sao một người thư ký phải biết giá trị của số pi? Quá rõ ràng, không còn lý do nào khác nữa!

Tôi đi đến tủ hồ sơ và thử khả năng đầu tiên: 31-41-59. Không mở được. Rồi tôi thử 59-41-31. Cũng không được. Rồi 95-14-13. Vặn ngược, vặn xuôi, lộn lên, lộn xuống, quay theo chiều này, chiều kia – chẳng ăn thua gì!

Tôi đóng ô kéo bàn lại và bước ra khỏi phòng, nhớ lại về những cuốn sách phá két: lần sau, hãy thử phương pháp tâm lý. Tôi mẩm bụng: “Freddy de hoffman chính là loại người dùng một hằng số toán học làm mã số khóa.”

Tôi quay lại cái tủ đầu tiên và thử 27-18-28 – TÁCH! Tủ đã mở! (hằng số toán học quan trọng thứ hai sau số pi và cơ số của lô-ga-rít tự nhiên, e=2,71828…) Có chín cái tủ hồ sơ, và tôi đã mở được cái thứ nhất, nhưng tài liệu tôi cần lại ở cái tủ khác - chúng được sắp xếp theo thứ tự chữ cái của tên tác giả. Tôi thử tủ tài liệu thứ hai: 27-18-28 – TÁCH! Nó được mở với cùng mã số. Tôi nghĩ: “Thật tuyệt! mình đã mở được các bí mật của bom nguyên tử, nhưng nếu mình định một khi nào đó sẽ kể lại câu chuyện này, thì mình phải chắc chắn là mã số khóa ở tất cả các tủ thực sự là như nhau!” Có vài tủ nằm ở phòng bên cạnh, nên tôi đã thử 27-18-28 với một trong chúng và nó đã mở ra. Thế là tôi đã mở ba tủ – tất cả đều như nhau.

Tôi nghĩ thầm: “Bây giờ mình có thể viết một cuốn sách về cạy két, nó sẽ đánh bại tất cả những cuốn khác, bởi vì ở phần đầu tôi sẽ kể, làm thế nào mà tôi đã mở được những cái két chứa những thứ quan trọng hơn và giá trị hơn tất cả những thứ mà bất kỳ tay phá két nào ở bất kỳ nơi đâu đã từng mở được – ngoại trừ mạng sống con người, tất nhiên – chứ những thứ như áo lông thú hay thỏi vàng, thì tôi không thèm tính đến; Tôi đã mở những cái két chứa toàn bộ bí mật của bom nguyên tử: những kế hoạch sản xuất plutonium, các qui trình tinh chế, số lượng vật liệu cần thiết, quả bom hoạt động ra sao, nơ-trôn được tạo ra như thế nào, thiết kế, kích thước – toàn bộ thông tin đã có được ở Los Alamos: một tích hợp tổng thể của tất cả các vấn đề liên quan!”

Tôi quay lại cái tủ thứ hai và lấy ra tài liệu mà tôi cần. Rồi tôi lấy một cái bút chì màu đỏ và một mảnh giấy màu vàng ở trong phòng và viết: “Tôi mượn tài liệu số LA-4312 – Feynman kẻ phá két”. Tôi để lại tin nhắn ấy ở trên những tập giấy trong tủ và đóng nó lại.

Sau đó tôi đi đến cái tủ đầu tiên mà tôi đã mở và viết lên một tin nhắn khác: “Tủ này không khó mở hơn cái tủ kia – Kẻ Láu lỉnh” và đóng nó lại

Đến một tủ khác, ở phòng bên kia, tôi viết: “Khi các mã số khóa là như nhau, thì không có tủ nào khó mở hơn các tủ khác – Vẫn Kẻ Đó” và tôi đóng nó lại. Tôi quay về phòng làm việc của mình và viết báo cáo.

Tối hôm đó tôi đến quán ăn tự phục vụ dùng bữa tối. Freddy de hoffman cũng ở đó. Cậu ấy nói là chuẩn bị về phòng để làm việc, nên chỉ để đùa tôi đã đi theo cậu ta.

Freddey de Hoffman bắt đầu làm việc, và lát sau cậu ta đi sang phòng kia để mở một trong những tủ tài liệu ở đó – điều tôi không tính đến – và thế là ngay đầu tiên cậu ta đã mở cái tủ mà tôi đã để lại trong đó lời nhắn thứ ba. Cậu ta mở ô kéo ra và nhìn thấy ở đó một vật lạ – mảnh giấy màu vàng sáng trên đó nguệch ngoạc cái gì đó bằng nét chì màu đỏ tươi.

Tôi đã đọc trong sách rằng khi ai đó sợ hãi thì mặt họ tái xám đi, nhưng tôi chưa bao giờ chứng kiến điều đó. Đúng, tuyệt đối đúng. Mặt cậu ấy chuyển sang xám, vàng xanh – Thật sợ phải nhìn cảnh đó. Cậu ta cầm mảnh giấy lên, tay giật giật: “Nh-nh-nhìn này!” cậu ấy nói với giọng run run.

Tin nhắn nói: “Khi các mã số khóa là như nhau, thì không có tủ nào khó mở hơn các tủ khác – Vẫn Kẻ Đó”.

“Điều đó có nghĩa gì nhỉ?” Tôi hỏi.

“Tất cả m-m-mã số khóa của các tủ tài liệu của tớ là nh-ư-như nhau!” cậu ta lắp bắp.

“Đó không phải là ý hay.”

“G-giờ thì t-t-tớ biết rồi!” cậu ấy nói, người run bần bật.

Một động thái khác của việc máu chạy khỏi khuôn mặt chắc hẳn phải là việc não không còn hoạt động bình thường. “Hắn ta ký tên là gì! Hắn ta ký tên là gì!” cậu ta nói.

“Gì cơ?” (Tôi không viết tên mình lên mẩu giấy đó.)

“Đúng rồi,” cậu ấy nói: “Chính là gã đã tìm cách đột nhập vào Tòa nhà Omega!”

Trong suốt thời gian chiến tranh, thậm chí là cả sau đó, đã có những tin đồn không dứt như thế này: “Một người nào đó đã cố gắng đột nhập vào Tòa nhà Omega!” Bạn biết đấy, trong thời gian chiến tranh, người ta đã làm những thí nghiệm về bom, họ muốn gom lại một lượng vật liệu tới hạn vừa đủ để phản ứng dây chuyền bắt đầu xảy ra. Họ thả nhỏ giọt một cục vật liệu xuyên qua một cục khác, và khi nó đi xuyên qua, phản ứng dây chuyền khởi phát và họ có thể đo số nơ-trôn thu được. Cục vật liệu đó sẽ rơi qua nhanh đến mức không có cái gì được tích tụ để mà nổ. Tuy nhiên, một lượng vừa đủ của phản ứng sẽ bắt đầu, nên họ có thể nói rằng mọi thứ khởi phát chuẩn xác, rằng các tỷ lệ là đúng, và mọi thứ đều diễn ra đúng như dự đoán. Một thí nghiệm rất nguy hiểm!

Tất nhiên, người ta không làm thí nghiệm ấy ở ngay giữa Los Alamos, mà cách đó vài dặm, trong một cái hẻm giữa mấy quả núi mặt bàn, hoàn toàn biệt lập. Tòa nhà Omega này có hàng rào xung quanh với những tháp canh bảo vệ. Vào nửa đêm khi tất cả đều yên ắng, vài con thỏ chui ra khỏi bụi cây và húc vào hàng rào gây ra tiếng động. Lính canh nổ súng. Viên trung úy trực đi lòng vòng. Lính canh sẽ nói gì – rằng đó chỉ là một con thỏ? Không. “Một người nào đó đã tìm cách đột nhập vào Tòa nhà Omega và tôi đã làm hắn hoảng sợ phải bỏ đi!”

Vì thế de Hoffman đã tái mặt và run sợ, và cậu ấy không nhận ra rằng có một kẽ hở trong lô-gic của mình: nó không rõ ràng là cái “Vẫn kẻ đó” đã tìm cách đột nhập vào Tòa nhà Omega lại cũng là cái vẫn kẻ đó đang đứng cạnh cậu ta.

Cậu ấy hỏi tôi nên làm gì.

“À, hãy xem có tài liệu nào bị mất không.”

“Có vẻ ổn cả,” cậu ấy đáp: “Tôi không thấy bị mất gì.”

Tôi muốn lái cậu ta về phía cái tủ mà tôi đã lấy tài liệu ra khỏi đó. “À, ừ, nếu tất cả mã số khóa là như nhau thì có lẽ hắn đã lấy cái gì đó ở một ô tủ khác.”

“Đúng!” cậu ta nói, quay lại phòng mình, mở cái tủ tài liệu đầu tiên và thấy mảnh giấy thứ hai mà tôi đã viết: “Tủ này không khó mở hơn cái tủ kia – Kẻ Láu Lỉnh.”

Đến lúc ấy thì việc đó là “Vẫn Kẻ Đó” hay là “Kẻ Láu Lỉnh” chẳng có gì khác nhau nữa: Với cậu ta thì hoàn toàn rõ ràng đó chính là kẻ đã tìm cách đột nhập vào Tòa nhà Omega. Vì thế, thuyết phục cậu ấy mở cái tủ tài liệu trong có tin nhắn đầu tiên của tôi là hơi bị khó, và tôi không nhớ mình đã nói thế nào để cậu ấy làm điều đó.

Khi cậu ấy bắt đầu mở cái tủ thì tôi cũng đi ra ngoài hành lang. Tôi hơi sợ là khi cậu ta phát hiện ra ai đã gây ra chuyện đó cho mình, thì cái cổ họng của tôi sẽ không còn nguyên vẹn nữa!

Đúng thế, cậu ấy chạy ra hành lang đuổi theo tôi, nhưng thay vì tỏ ra bực mình, cậu ta lại gần như ôm choàng lấy tôi vì đã được giải toả hoàn toàn: cái gánh nặng khủng khiếp của việc làm mất những bí mật bom nguyên tử hóa ra chỉ là một trò quậy của tôi.

Vài ngày sau de Hoffman bảo tôi rằng cậu ấy cần một thứ gì đó ở trong tủ của Kerst. Donald Kerst[2] đã quay trở về Illinois và rất khó liên lạc. “Nếu cậu đã mở tất cả các tủ của tớ bằng biện pháp tâm lý,” de hoffman nói (tôi đã kể cho cậu ấy cách tôi mở tủ): “Thì rất có thể cậu cũng mở được tủ của Kerst bằng cách đó.”

Đến lúc này thì câu chuyện đã được nhiều người biết, nên vài người đã đến để xem cái việc kì cục: tôi mở khóa tủ của Kerst – ghê đấy. Tôi không nhất thiết phải làm một mình. Tôi không có hai số cuối cùng của cái tủ của Kerst, còn để dùng biện pháp tâm lý thì tôi cần sự trợ giúp của những người quanh đây quen biết Kerst.

Tất cả chúng tôi đến phòng làm việc của Kerst và tôi đã kiểm tra các ô kéo bàn làm việc để tìm manh mối; chẳng có gì cả. Rồi tôi hỏi họ: “Kerst ưa dùng loại mã số nào – một hằng số toán học?”

“Ồ, không!” de Hoffman nói. “Có lẽ Kerst dùng một cái gì đó rất đơn giản thôi.”

Tôi thử 10-20-30, 20-40-60, 60-40-20, 30-20-10. Không trúng..

Sau đó tôi hỏi tiếp: “Các anh có nghĩ là anh ấy ưa dùng ngày tháng?”

”Đúng đấy!” mọi người đáp. “Anh ấy chính là týp người ưa dùng ngày tháng.”

Tôi thử một số ngày tháng khác nhau: 8-6-45, khi quả bom thả xuống[3]; 86-19-45; ngày này; ngày kia; khi dự án bắt đầu. Không cái nào đúng cả.

Đến lúc đó thì hầu hết mọi người đều đã tản ra. Họ không có đủ kiên nhẫn để xem tôi làm việc này, nhưng cách duy nhất để giải quyết một vấn đề như thế lại chính là sự kiên nhẫn!

Rồi tôi quyết định thử tất cả ngày tháng từ khoảng năm 1900 đến nay. Nghe có vẻ là rất nhiều, nhưng thực ra thì không phải: con số đầu tiên là tháng, từ một đến mười hai, và tôi có thể tiến hành phép thử đó chỉ dùng ba số: mười, năm, và không. Số thứ hai là ngày, từ một đến ba mốt, tôi có thể thử nó với sáu số. Số thứ ba là năm, ở thời điểm đó chỉ có bốn mươi bảy số, nên tôi có thể thử với chín số. Thành thử, 8000 tổ hợp đã rút xuống chỉ còn 162, số lượng phép thử mà tôi có thể làm trong mười lăm hoặc hai mươi phút.

Thật không may là tôi đã bắt đầu từ phía các con số lớn dành cho tháng, vì cuối cùng khi tôi đã mở được thì mã số là 0-5-35.

Tôi quay ra hỏi de Hoffman: “Điều gì đã xảy ra với Kerst khoảng ngày 5 tháng 1 năm 1935?”

“Con gái anh ấy sinh năm 1935,” de hoffman trả lời. “Đó chắc là ngày sinh của cháu.”

Giờ đây tôi đã mở được hai cái két. Tôi trở nên điêu luyện. Bây giờ tôi đã trở thành một tay chuyên nghiệp.

Cũng mùa hè sau chiến tranh đó, một người ở bộ phận quản lí tài sản muốn lấy lại một số thứ mà chính phủ đã mua, để bán lại vì không dùng đến nữa. Một trong những thứ đó là cái két của viên Đại úy. Tất cả chúng tôi đều biết về cái két này. Khi đến đây vào thời kỳ chiến tranh, đại uý đã quyết định là, những tủ đựng tài liệu không đủ an toàn cho những bí mật mà ông sẽ bảo quản, nên ông ấy phải có một cái két đặc biệt.

Phòng làm việc của Đại úy nằm ở tầng hai của một trong những tòa nhà gỗ giản đơn, tất cả chúng tôi đều có phòng làm việc ở đó, còn cái két mà ông ta đặt về thì lại bằng thép rất nặng. Công nhân đã phải hạ các bậc gỗ xuống và dùng những cái kích đặc biệt để đưa nó lên. Vì chẳng có mấy trò tiêu khiển, tất cả bọn tôi đã đến xem cái két khủng này, nó đang được nhích lên về phòng đại uý bằng một nỗ lực lớn, và tất cả bọn tôi đều trêu đùa về những những loại siêu tối mật mà ông ta sẽ giữ trong đó. Một anh chàng bảo chúng ta phải để những tài liệu của bọn mình trong cái két của ông ấy, còn hãy cho ông ấy để đồ đạc của mình trong tủ của chúng ta. Vì thế tất cả mọi người đều biết về cái két đó.

Anh chàng ở bộ phận quản lý tài sản muốn bán lại cái két đó, nhưng trước tiên cần bỏ hết đồ đạc bên trong ra, thế mà chỉ có hai người biết mã số khóa, đó là viên Đại úy và Alvarez. Viên Đại úy thì đang ở Bikini, còn Alvarez thì đã quên mất mã số rồi. Anh ta đã nhờ tôi mở nó.

Tôi đến cái văn phòng cũ kĩ của anh ây và nói với cô thư ký: “Sao cô không điện thoại cho ông Đại úy và hỏi ông ấy về mã số?”

“Tôi không muốn làm phiền ông ấy,” cô thư ký đáp.

“Thế à, cô sắp làm phiền tôi trong có lẽ là tám giờ đồng hồ đấy. Tôi sẽ không làm trừ khi cô gọi thử cho ông ấy.”

“Được rồi, Được rồi!” cô thư kí nói. Cô nhấc điện thoại lên còn tôi đi sang phòng kia để xem cái két. Nó đây rồi, một cái két bằng thép khổng lồ, và cửa của nó đang mở toang ra.

Tôi quay lại chỗ cô thư ký. “Cái két vẫn mở.”

“Kỳ lạ!” cô ấy thốt lên và bỏ điện thoại xuống.

“Không,” tôi nói: “Nó vẫn để mở.”

“Ồ! Tôi đoán là cuối cũng thì bộ phận quản lý tài sản cũng đã mở được nó ra.”

Tôi đi đến gặp anh chàng ở bộ phận quản lý tài sản. “Tôi đã đến chỗ cái két và thấy nó đã mở sẵn rồi.”

“Ồ, đúng thế,” anh ta nói; ” Tôi xin lỗi vì đã không nói với anh. Tôi đã bảo người thợ khóa của của chúng ta đến khoan phá cái két ra, nhưng trước khi khoan anh ta thử mở, và đã mở được.”

Thế à! Thông tin đầu tiên: Los Alamos bây giờ có một thợ khóa chuyên nghiệp. Thông tin thứ hai: người này biết khoan két, một việc mà tôi không biết gì. Thông tin thứ ba: Anh ta có thể mở một cái két cực hóc búa - trong vài phút. Đây đúng là một tay nhà nghề thực sự, một nguồn thông tin thực sự. Tôi cần phải gặp người này.

Tôi được biết anh ta là một thợ khóa được tuyển vào sau chiến tranh (khi họ không còn lo lắng nhiều về vấn đề an ninh nữa) để làm những việc như thế. Vì, chỉ mở khóa thôi thì không đủ việc cho anh ấy làm, nên anh ta cũng sửa chữa những cái máy tính Marchant[4] mà chúng tôi đã dùng. Trong thời gian chiến tranh, tôi cũng phải sửa những cái này suốt - nên tôi đã có cách để tiếp cận anh ta.

Cho đến nay tôi chưa bao giờ giấu diếm hay mưu mẹo gì trong việc gặp ai đó; Tôi đi thẳng đến và tự giới thiệu. Nhưng trong trường hợp này, việc gặp người thợ khóa ấy là rất quan trọng, và tôi biết rằng trước khi anh ta có thể nói với tôi bất kỳ bí quyết nào của mình về việc mở két, tôi phải tự chứng tỏ mình đã.

Tôi đã tìm được phòng của anh ta - ở dưới tầng hầm của bộ phận vật lý lý thuyết, nơi tôi làm việc – và tôi đã biết anh ta làm việc ban đêm, khi máy móc ngừng hoạt động. Bởi vậy, thoạt đầu, vào một buổi tối, tôi đi qua cửa phòng anh ấy trên đường đến phòng mình. Tất cả chỉ có thế; tôi chỉ đi qua thôi.

Vài đêm sau, chỉ đơn giản “Chào”. Sau một thời gian, anh ta thấy vẫn là anh chàng đó đi qua cửa, và cũng nói “Chào”, hoặc “Chúc buổi tối tốt lành”.

Mất vài tuần cho cái tiến trình chậm chạp ấy và tôi thấy anh ta đang phải sửa mấy cái máy tính marchant. Tôi không nói gì về chúng cả, vẫn chưa đến lúc.

Dần dần chúng tôi nói thêm một chút: “Chào! Anh làm việc tập trung thế!”

“Vâng, khá tập trung” - những đối đáp kiểu như vậy.

Cuối cùng, một đột biến: anh ta mời tôi ăn súp. Giờ thì mọi thứ diễn ra rất tốt. Mỗi buổi tối, chúng tôi lại cùng nhau ăn súp. Tôi bắt đầu trao đổi một chút về những cái máy cộng, mà anh ta cho tôi biết là đang gặp một vấn đề khó. Anh ấy đang thử đặt một chuỗi những cái bánh xe chịu tải lò xo trở lại cái trục, nhưng do không có dụng cụ phù hợp, hay cái gì đó, nên anh ta đã vật lộn với nó cả tuần nay rồi. Tôi nói với anh ấy rằng mình cũng đã từng làm việc với những cái máy này trong thời gian chiến tranh, và “Tôi muốn nói với anh là, tối nay anh đừng động đến cái máy này nữa. Ngày mai tôi sẽ xem xét nó”.

“Được thôi,” anh ta đồng ý bởi vì cũng đã hết hi vọng.

Hôm sau, tôi xem cái thứ bỏ đi ấy và thử lắp ráp nó bằng cách giữ tất cả các bánh xe trong tay mình. Nó cứ bật trở ra. Tôi nghĩ thầm: “Nếu anh ta đã thử cũng cách này trong cả một tuần, rồi mình thử, nhưng vẫn không được, thì đó không phải là cách để làm việc này!” Tôi dừng lại và xem xét cái máy rất cẩn thận. Tôi nhận thấy mỗi bánh xe có một cái lỗ nhỏ – chỉ một lỗ nhỏ thôi. Thế là tôi hiểu ra: tôi tháo cái bánh xe thứ nhất ra, rồi luồn một đoạn dây thép qua cái lỗ nhỏ. Tiếp theo, tôi tháo cái thứ hai và luồn đoạn dây thép ấy qua nó. Rồi cái tiếp theo, cái tiếp theo nữa – giống như luồn chuỗi hạt vào một sợi dây. Tôi đã xâu được toàn bộ các bánh xe ngay ở lần thử đầu tiên, làm tất cả thành một đường, rút sợi dây ra, và mọi thứ đều ổn.

Tối hôm đó tôi chỉ cho anh ta cái lỗ nhỏ và cách giải quyết vấn đề của mình. Từ đó trở đi chúng tôi nói chuyện suốt về máy móc; chúng tôi trở thành những người bạn tốt. Lúc ấy, trong phòng anh ta có rất nhiều hộp nhỏ đựng những cái khóa đã bị tháo dở, và cả các mảnh vỡ của những cái két nữa. Ồ, những thứ đó rất hay! Nhưng tôi vẫn chưa nói một lời nào về khóa và két.

Cuối cùng, tôi nghĩ ngày đó đã đến, nên quyết định thử gợi chuyện về những cái két. Tôi sẽ kể cho anh ấy cái thuật đáng giá duy nhất mà tôi biết – đó là bạn có thể lấy được hai số cuối khi két đang mở. “A mà!” tôi nói, trong khi đang nhìn vào những cái hộp. “Tôi thấy anh đang làm việc với những cái két mosler.”

“Đúng thế.”

“Anh biết đấy, những cái khóa này rất xoàng. Nếu chúng đang để mở, anh có thể lấy được hai số cuối….”

“Anh làm được không?” anh ta hỏi, cuối cùng cũng thể hiện sự quan tâm.

“Có.”

“Chỉ cho tôi cách làm đi,” anh ta đề nghị. Tôi chỉ cho anh ta cách làm việc đó, và anh ấy quay lại hỏi tôi. “Anh tên gì vậy?” Suốt thời gian đó chúng tôi chưa bao giờ giới thiệu tên.

“Dick Feynman,” tôi đáp.

“Lạy chúa! Anh là Feynman à!” anh ta thốt lên với sự kính nể. “Nhà phá két siêu phàm! Tôi đã nghe về anh; Tôi đã muốn gặp anh từ lâu rồi! Tôi rất muốn học anh cách mở két.”

“Anh nói gì vậy? Anh cũng biết cách mở những cái két chết cơ mà.”

“Tôi đâu có biết.”

“Này, tôi đã nghe về cái két của viên Đại úy, và tôi đã phải làm việc khá chăm chỉ trong suốt thời gian vừa rồi bởi vì tôi muốn được gặp anh. Giờ anh lại nói với tôi là anh không biết cách mở một cái két chết.”

“Đó là sự thật.”

“Được rồi, anh hẳn phải biết cách khoan phá một cái két.”

“Tôi cũng không biết làm việc đó.”

“CÁI GÌ?” tôi hét lên. “Anh chàng ở bộ phận quản lý tài sản nói là anh đã lấy dụng cụ và đi lên khoan cái két của ông Đại úy cơ mà.”

“Giả dụ anh làm việc với vai trò một thợ khóa,” anh ấy nói: “Và một người đến đề nghị anh khoan một cái két. Anh sẽ làm gì?”

“Được,” tôi đáp: “Tôi sẽ làm một động thái không bình thường là gom những dụng cụ của mình lại, nhấc chúng lên và mang đến chỗ cái két. Rồi tôi sẽ đưa cái khoan lên và đặt vào một chỗ ngẫu nhiên nào đó trên cái két và tôi sẽ khoan vvvvvvvvvvv, như thế tôi sẽ giữ được việc làm.”

“Đó chính xác là điều tôi đã làm.”

“Nhưng anh đã mở nó! Anh phải biết cách mở két.”

“Ồ, vâng. Tôi đã biết là những cái khóa khi xuất xưởng được đặt mã số là 25-0-25 hoặc 50-25-50, nên tôi đã nghĩ, ‘Ai mà biết được; có thể ông ta đã không bận tâm đến chuyện đổi mã số’, và số thứ hai đã mở được.”

Thế là tôi đã học được một điều gì đó từ anh ấy - anh ta đã phá két bằng cùng những phương pháp huyền diệu mà tôi đã làm. Nhưng thậm chí hài hơn là cái ông Đại úy thích quan trọng hóa này yêu cầu phải có một siêu, siêu két, và mọi người đã phải rất vất vả để nâng nó lên phòng làm việc của ông ấy, thế mà ông ta thậm chí không thèm bận tâm đặt lại mã số khóa.

Tôi đi từ phòng này sang phòng khác của tòa nhà nơi tôi đang làm việc và thử hai mã số khóa xuất xưởng đó, và kết quả là cứ khoảng năm khóa thì có một chiếc mở được.

❀ ❀ ❀

[1] Tên vị thần trong Thần thoại Hy Lạp bị thần Dớt trừng phạt bằng hình phạt, ngày qua ngày, phải lăn một tảng đá nặng lên một triền dốc dài. Mỗi khi tảng đá được lăn đến đỉnh, nó lại lăn xuống, và Sisyphus phải bắt đầu lại từ đầu.

[2] Donald William Kerst (1911-1993) là nhà vật lý thực nghiệm người Mỹ, viện sĩ viện hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ. (ND)

[3] Quả bom nguyên tử đầu tiên thả xuống thành phố Hiroshima vào ngày 6 tháng 8 năm 1945. Người Mỹ viết tháng trước, ngày sau nên Feynman đã thử 8-6-45. (ND)

[4] Thời gian này là những năm đầu của thập niên 40 của thế kỷ XX, trước cả thời kỳ điện toán bán dẫn, nên máy tính còn rất thô sơ và nặng nề, thường chiếm cả một phòng lớn. (ND)

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.