Tôi thường giảng bài vào thứ Tư hàng tuần ở công ty hàng không Hughes. Một lần, tôi đến đó hơi sớm và, như thường lệ, đang chuyện phiếm với nhân viên tiếp tân, thì một nhóm khoảng năm hoặc sáu người bước vào – một người đàn ông, một người phụ nữ, và vài người khác. Trước đây tôi chưa bao giờ nhìn thấy họ. Người đàn ông hỏi: “Có phải giáo sư Feynman giảng bài ở đây không?”
“Đúng là ở đây,” nhân viên tiếp tân đáp lời. Người đàn ông hỏi liệu nhóm của ông ta có thể tham dự bài giảng không.
“Tôi không nghĩ là ông sẽ thích những bài giảng ấy lắm đâu,” tôi nói. “Chúng hơi chuyên sâu.”
Ngay lập tức, người phụ nữ, một người khá thông minh, đã phát hiện ra: “Tôi cuộc rằng ông chính là giáo sư Feynman!” hóa ra người đàn ông là John Lilly[1], người trước đó đã làm một số nghiên cứu về cá heo. Ông ấy và vợ đang tiến hành một số nghiên cứu về hiện tượng mất cảm giác, và đã chế tạo mấy cái thùng rất đặc biệt.
“Có đúng là ông đã có được ảo giác trong hoàn cảnh như vậy hay không?” tôi hỏi, rất tò mò.
“Đúng, đó là sự thật.”
Tôi đã từng luôn bị cuốn hút bởi các ảo ảnh trong các giấc mơ và những ảo ảnh khác, chúng xuất hiện trong đầu tôi mà không có nguồn cảm quan trực tiếp nào, cũng như cách thức chúng vận hành ở trong đầu, và tôi muốn thấy được ảo giác. Có lần tôi đã nghĩ đến việc dùng thuốc, nhưng rồi tôi đã e ngại cách này: tôi thích suy nghĩ, và không muốn làm rối tinh cái bộ máy (đầu não) của mình lên. Nhưng, với tôi, dường như việc chỉ nằm đâu đó trong một cái thùng mất cảm giác là không nguy hiểm gì về mặt sinh lý, vì thế tôi rất nóng lòng được thử việc ấy.
Tôi nhanh chóng nhận lời mời của nhà Lilly để thử những cái thùng mất cảm giác, một lời mời tốt bụng từ phía họ, còn họ cùng với những người khác trong nhóm thì đã đến nghe bài giảng của tôi.
Thế là, tuần tiếp theo, tôi đã đến để thử mấy cái thùng ấy. Ông Lilly giới thiệu với tôi về những cái thùng mà chắc là ông đã làm ra cùng những người khác. Có nhiều bóng đèn, giống như đèn nêon, trong có các loại khí khác nhau. Ông ấy chỉ cho tôi Bảng Tuần hoàn và bịa ra một mớ lí sự huyền bí về các loại ánh sáng khác nhau có các loại ảnh hưởng khác nhau. Ông ấy bảo tôi rằng để chuẩn bị cho bản thân một tư thế sẵn sàng chui vào thùng, bạn hãy nhìn vào chính mình ở trong một cái gương, đặt mũi áp sát vào nó – đủ trò bịa đặt, đủ thứ hổ lốn. Tôi chẳng coi trọng gì cái mớ hổ lốn đó, nhưng tôi đã làm mọi việc vì tôi muốn được chui vào những cái thùng ấy, và tôi cũng nghĩ rằng có lẽ những chuẩn bị như thế có thể làm ta dễ có được ảo giác hơn. Vì vậy, tôi thực thi mọi việc theo chỉ dẫn của ông ấy. Chỉ có một việc khó là việc chọn ánh sáng màu mà tôi thích, nhất là khi bên trong những cái thùng này rất tối.
Thùng mất cảm giác giống như là một cái bồn tắm to, nhưng có nắp đậy xuống. Bên trong thùng tối như bưng, và vì nắp đậy rất dày nên chẳng có âm thanh nào lọt vào được. Có một cái bơm nhỏ để bơm không khí vào, nhưng thực ra thì bạn cũng không phải lo về điều này vì khối không khí trong thùng là khá lớn, mà bạn chỉ ở trong đó hai hay ba giờ, và thực tế là bạn không ngốn nhiều không khí lắm khi bạn thở bình thường. Ông Lilly bảo rằng đặt những cái bơm ở đó để làm cho mọi người yên tâm. Tôi nghĩ đó chỉ là vấn đề tâm lý, nên đã yêu cầu ông ấy tắt cái bơm đi, vì nó hơi ồn.
Nước ở trong thùng có muối Epsom làm nó nặng hơn nước thường, nên bạn nổi trong đó khá dễ dàng. Nhiệt độ được giữ ở nhiệt độ cơ thể, hoặc 94 độ F, hoặc đại khái thế – ông ấy đã tính toán tất cả. Khi nắp đã đậy xuống, trong thùng không ánh sáng, không âm thanh, không cảm giác nóng lạnh, không gì hết! Thi thoảng bạn có thể bị dạt sang một bên và va nhẹ vào thành bình, hoặc do ngưng tụ ở trần thùng một giọt nước có thể nhỏ xuống, nhưng những xáo động nhẹ này là rất hiếm.
Tôi chắc là đã thử cả chục lần, mỗi lần trải nghiệm khoảng hai tiếng rưỡi trong cái thùng đó. Lần đầu tiên tôi không có được bất kỳ ảo giác nào, nhưng sau khi đã từng ở trong cái thùng đó rồi, ông bà Lilly giới thiệu tôi với một người đàn ông được quảng cáo như là một bác sĩ. Ông này nói với tôi về một loại thuốc có tên là ketamine được dùng như một chất gây mê. Tôi luôn quan tâm đến những vấn đề liên quan đến điều gì xảy ra khi bạn đi ngủ, hoặc điều gì xảy ra khi bạn bị mất hết cảm giác. Vì thế họ đã cho tôi xem những giấy tờ liên quan đến loại thuốc đó và cho tôi dùng một phần mười của liều thông thường.
Tôi đã có một cảm giác kỳ lạ mà tôi không bao giờ có thể hiểu được mỗi khi tôi gắng phác họa xem hiệu ứng đó là gì. Chẳng hạn, thuốc đó tác dụng khá mạnh lên khả năng nhìn của tôi; tôi cảm thấy mình không thể nhìn rõ. Nhưng khi tôi nhìn chăm chú vào cái gì đó, thì lại ổn. Nó giống như khi bạn không để tâm nhìn những thứ đó; bạn đang làm việc này việc kia một cách cẩu thả, cảm giác như chóng mặt buồn nôn, nhưng ngay khi bạn nhìn và tập trung thì mọi thứ lại ổn cả, ít nhất là trong một khoảnh khắc. Tôi cầm lấy một cuốn sách hóa học hữu cơ và nhìn vào một cái bảng đầy những chất phức tạp, và rất ngạc nhiên là tôi có thể đọc chúng.
Tôi làm các loại thử nghiệm khác, chẳng hạn như đưa hai bàn tay lại gần nhau từ một khoảng cách xa để xem những ngón tay có chạm vào nhau không. Mặc dù tôi có cảm giác hoàn toàn mất phương hướng, cảm giác không có khả năng làm hầu như mọi việc, nhưng tôi không bao giờ gặp một việc cụ thể nào mà tôi không thể làm được.
Như tôi đã kể trước đây, lần đầu tiên ở trong thùng tôi đã không có được ảo giác nào, và lần thứ hai cũng không. Nhưng ông bà Lilly là những người rất thú vị; tôi rất, rất thích họ. Họ thường mời tôi bữa trưa, và vân vân, và sau một lát chúng tôi đã thảo luận những chuyện ở mức độ khác với câu chuyện về các bóng đèn trước đây. Tôi nhận ra là những người khác xem cái thùng mất cảm giác này là cái gì đó đáng sợ, nhưng với tôi thì nó là một phát kiến khá thú vị. Tôi không sợ vì tôi biết nó là cái gì: nó chỉ là một cái thùng nước muối Epsom.
Ở lần thứ ba, có một người đàn ông đến thăm – tôi đã gặp nhiều người thú vị ở đó – người này được biết đến với cái tên Baba Ram Das, đến từ Harvard. Anh ta đã đến Ấn Độ, rồi viết một cuốn sách được nhiều người thích có tiêu đề Hãy Đến Đây Ngay. Anh ta thuật lại những điều mà một giáo sĩ hindu ở Ấn Độ đã kể về cách để có “Trải nghiệm hồn lìa khỏi xác” (những từ mà tôi thường thấy viết trên bảng thông báo): Tập trung vào hơi thở của bạn, vào cách thức không khí đi vào và đi ra khỏi mũi khi bạn thở.
Tôi tính là mình sẽ thử bất kỳ cái gì để có được ảo giác, và đã chui vào cái thùng. Ở một giai đoạn của trò chơi này tôi đột nhiên nhận ra – rất khó giải thích – rằng tôi đang lệch về một bên khoảng 2,54cm. Nói cách khác, vị trí hơi thở của tôi đi vào và ra, vào và ra, không tập trung: Bản ngã của tôi hơi lệch về một bên, khoảng 2,54cm.
Tôi nghĩ: “Hiện tại bản ngã đang nằm ở đâu?” Tôi biết mọi người đều nghĩ là trung tâm của hành vi suy nghĩ nằm ở não bộ, nhưng làm thế nào mà họ biết được điều đó?” Tôi đã biết từ trước nhờ đọc các tài liệu rằng điều này không phải là hiển nhiên với mọi người trước khi rất nhiều nghiên cứu tâm lý học được thực hiện. Chẳng hạn, người Hy Lạp đã từng cho rằng trung tâm của hành vi suy nghĩ nằm ở gan. Tôi băn khoăn: “Phải chăng trẻ em biết được vị trí của bản ngã khi nhìn thấy người ta chỉ tay lên đầu mỗi khi nói ‘Để tôi nghĩ đã’? Do đó, ý tưởng cho rằng bản ngã nằm ở đó, phía sau đôi mắt, có thể chỉ có tính ước lệ!” Tôi nghĩ rằng nếu tôi có thể dịch chuyển bản ngã của mình đi 2,54cm sang một bên, thì tôi cũng có thể dịch chuyển nó xa hơn. Đó là bước khởi đầu cho những ảo giác của tôi.
Tôi đã thử và sau một hồi tôi đã làm cho bản ngã của mình đi qua cổ xuống giữa lồng ngực. Khi một giọt nước nhỏ xuống và rơi trúng vai tôi, tôi cảm thấy nó ở “Trên đó”, trên cái chỗ mà “Tôi” đã ở. Mỗi khi một giọt nước rơi xuống, tôi hơi giật mình, và bản ngã của tôi lại nhảy ngược lên qua cổ tới vị trí thông thường. Thế là tôi lại phải làm cho nó xuống. Lúc đầu việc đó cần nhiều công sức, nhưng rồi dần dần dễ hơn. Tôi có thể đưa chính mình xuống tận hông, sang một bên, nhưng đó là nơi xa nhất mà tôi có thể đi tới trong suốt một thời gian.
Một lần khác, khi đang nằm trong thùng, tôi đã quyết rằng nếu tôi có thể dịch chuyển chính bản thân mình xuống tận hông thì chắc cũng phải có khả năng đưa nó ra hẳn bên ngoài cơ thể mình. Thế là tôi có thể “Ngồi sang một bên”. Điều này rất khó giải thích – tôi có thể dịch chuyển hai bàn tay mình và khuấy động nước, và mặc dù tôi không nhìn thấy chúng, tôi vẫn biết chúng đang ở đâu. Nhưng không giống trong cuộc sống thực, nơi mà mỗi bàn tay ở một bên, tách ra ở phía dưới, bây giờ cả hai bàn tay lại ở cùng một bên! Cảm giác ở những ngón tay tôi cũng như mọi thứ khác đều giống hệt như bình thường, chỉ có bản ngã của tôi là đang ở bên ngoài: “Đang quan sát” tất cả những thứ này.
Từ đó trở đi hầu như lần nào tôi cũng có được ảo giác, và tôi có thể dịch chuyển ngày càng xa bên ngoài cơ thể mình. Sự việc đã tiến triển đến mức khi tôi di chuyển hai bàn tay của mình thì tôi có thể nhìn thấy chúng như các bộ phận cơ khí đang đi lên đi xuống – chúng không phải là da thịt; chúng là máy móc. Nhưng tôi vẫn có khả năng cảm nhận được mọi thứ. Những cảm nhận đó phù hợp chính xác với chuyển động, tuy nhiên tôi cũng có cảm giác “Đó là anh ta”. Rốt cục: “Tôi” thậm chí đi ra khỏi phòng, đi lại loăng quăng, đi khá xa đến những nơi, ở đó đã xảy ra những chuyện mà tôi đã nhìn thấy trước kia vào một ngày nào đó.
Tôi đã có nhiều loại trải nghiệm hồn lìa khỏi xác. Chẳng hạn, một lần tôi có thể “Nhìn” thấy phía sau của cái đầu mình với hai bàn tay tôi đang tựa vào nó. Khi tôi cử động những ngón tay của mình, tôi nhìn thấy chúng chuyển động, nhưng tôi lại nhìn thấy cả bầu trời xanh giữa những ngón tay và ngón cái. Tất nhiên điều đó là không đúng; nó chỉ là một ảo giác. Nhưng quan trọng là khi tôi cử động những ngón tay của mình, thì chuyển động của chúng phù hợp chính xác với chuyển động mà tôi tưởng tượng là mình đang nhìn thấy. Một hình tượng trọn vẹn có thể xuất hiện và phù hợp với cái mà bạn đang cảm thấy và đang làm, việc này rất giống như khi bạn chầm chậm tỉnh giấc vào buổi sáng và chạm vào cái gì đó (mà bạn không biết đó là cái gì), và rồi đột nhiên trở nên rõ ràng cái đó là gì. Vậy là, một hình tượng trọn vẹn có thể đột ngột xuất hiện, ngoại trừ việc nó không bình thường, theo cái nghĩa bạn thường tưởng tượng bản ngã nằm ở phía trước của phần sau đầu, chứ không phải như bạn có nó ở phía sau phần sau đầu.
Về mặt tâm lý, một điều luôn làm tôi lo lắng trong khi tôi đang có ảo giác là việc tôi có thể ngủ thiếp đi và do đó có lẽ chỉ còn là mơ ngủ. Tôi đã có nhiều trải nghiệm với những giấc mơ rồi, và tôi muốn có một trải nghiệm mới. Nó như một dạng phê thuốc, vì khi bạn có ảo giác, và những trạng thái kiểu như thế, thì bạn không còn tinh nhanh lắm, nên bạn làm những việc ngốc nghếch mà bạn bắt đầu óc của mình phải làm, như là kiểm tra xem mình có đang mơ ngủ. Vậy là tôi thường xuyên kiểm tra xem mình có đang mơ ngủ không bằng cách – bởi vì hai bàn tay tôi luôn để ở sau gáy – chà hai ngón tay cái vào nhau, chà đi chà lại, để cảm nhận chúng. Tất nhiên cũng có thể là tôi đã mơ thấy điều đó, nhưng tôi không mơ: tôi biết đó là thật.
Trong khoảng thời gian ngắn ban đầu, sự hứng khởi của việc có được ảo giác đã làm cho nó “Nhảy ra”, hay thôi không xảy ra nữa, sau đó tôi đã có khả năng thư giãn và có những ảo giác dài.
Khoảng một hoặc hai tuần sau, tôi đã nghĩ rất nhiều về việc so sánh giữa cách thức hoạt động của bộ não và cách thức hoat động của máy tính – nhất là cách thức lưu trữ thông tin. Một trong những vấn đề quan trọng trong lĩnh vực này là các kí ức được lưu giữ trong bộ não như thế nào: Bạn có thể tìm ra chúng từ quá nhiều phía so với một cái máy tính – bạn không buộc phải truy cập trực tiếp với một địa chỉ chính xác tới bộ nhớ. Nếu tôi muốn tìm từ “thuê”, chẳng hạn, tôi có thể điền vào ô đố chữ, tìm kiếm một từ có bốn chữ cái bắt đầu bằng t và kết thúc bằng ê; tôi có thể nghĩ về các kiểu thu nhập, hay các hoạt động như mượn hoặc cho mượn; điều này đến lượt mình có thể dẫn tới tất cả các thể loại thông tin và kí ức khác có liên quan. Tôi đã nghĩ về cách tạo ra một cái “Máy bắt chước”, nó có thể học ngôn ngữ như là một đứa trẻ đang làm: bạn sẽ nói chuyện với cái máy. Nhưng tôi không thể nghĩ ra cách lưu trữ thông tin theo một cách có tổ chức để cho cái máy có thể lấy nó ra phục vụ những mục đích của chính mình.
Khi tôi vào trong cái thùng ở tuần lễ đó, và có được ảo giác, tôi đã gắng nghĩ về những ký ức xa xưa. Tôi luôn tự bảo mình: “Trước nữa; Trước nữa” – tôi không bao giờ thỏa mãn rằng những ký ức đó đã là đủ xưa cũ. Khi tôi nhận được một ký ức rất xưa – chẳng hạn về thị trấn quê nhà Far Rockaway của tôi – thì ngay lập tức xuất hiện toàn bộ chuỗi những ký ức, tất cả đều về thị trấn Far Rockaway. Nếu sau đấy tôi nghĩ đến cái gì đó của một thành phố khác – Cedarhurst[2], hay gì đó – thì toàn bộ những thứ liên quan đến Cedarhurst sẽ hiện ra. Và thế nên tôi đã nhận ra là các kí ức được lưu giữ theo địa điểm, mà ở đó bạn đã có những trải nghiệm ấy.
Tôi đã cảm thấy hài lòng về khám phá này, ra khỏi thùng, tắm rửa, mặc quần áo, vân vân và bắt đầu lái xe đến công ty hàng không hughes để đọc bài giảng hàng tuần của mình. Thế nên khoảng bốn mươi phút sau khi ra khỏi cái thùng, tôi đột nhiên nhận ra lần đầu tiên rằng mình không có một ý niệm dù là nhỏ nhất nào về việc các kí ức được lưu giữ trong bộ não như thế nào; tất cả những gì tôi đã có chỉ là một ảo giác về cách thức các kí ức được lưu trữ trong bộ não! Những gì tôi đã “Khám phá” chẳng có liên quan gì đến cách thức các kí ức được lưu trữ trong bộ não cả; nó chỉ liên quan đến cách tôi đang bày trò với chính mình.
Trong nhiều thảo luận của chúng tôi về ảo giác ở những chuyến viếng thăm trước của mình, tôi đã luôn gắng giải thích với Lilly và những người khác rằng, điều tưởng tượng rằng các sự việc là thật không thể hiện một thực tế đúng đắn. Nếu bạn thấy những quả cầu vàng, hoặc cái gì đó, vài lần, và chúng nói chuyện với bạn trong lúc bạn có ảo giác và bảo bạn rằng chúng là một thực thể thông minh khác, thì điều đó không có nghĩa rằng chúng là một thực thể thông minh khác thật; mà chỉ có nghĩa là bạn đã có cái ảo giác đặc biệt này. Thế mà tôi đã có cảm giác rất mạnh về việc khám phá ra cách thức lưu giữ các kí ức, và thật ngạc nhiên là phải mất đến bốn mươi lăm phút tôi mới nhận ra cái sai sót mà mình đã cố giải thích với những người khác.
Một trong những vấn đề mà tôi đã suy nghĩ là liệu những ảo giác, giống như các giấc mơ, có bị chi phối bởi những gì bạn đang có trong đầu mình không – từ những trải nghiệm khác mà bạn có trong ngày hay trước đó, hoặc từ những thứ bạn mong chờ được nhìn thấy. Tôi tin rằng sở dĩ tôi đã có được trải nghiệm thoát xác là vì chúng tôi đã trao đổi về những trải nghiệm thoát xác ngay trước khi tôi chui vào trong cái thùng. Và sở dĩ tôi đã có được ảo giác về cách thức kí ức được lưu trữ trong bộ não, tôi nghĩ, là vì tôi đã nghĩ về vấn đề ấy trong suốt cả tuần.
Tôi đã trao đổi nhiều với những người khác nhau ở đó về tính chân thực của những trải nghiệm. Họ biện luận rằng, trong một thí nghiệm khoa học, một kết quả được cho là có thực nếu kết quả đó có thể lặp lại được. Thành ra, khi có rất nhiều người nhìn thấy những quả cầu vàng nói chuyện với họ, hết lần này đến lần khác, thì những quả cầu vàng phải là có thật. Lập luận của tôi là trong những tình huống như thế, vì đã có ít nhiều thảo luận về các quả cầu vàng trước khi chui vào trong cái thùng ấy, nên khi một người chui vào thùng thì đầu anh ta đã sẵn đang nghĩ về các quả cầu vàng, thành thử khi có ảo giác anh ta sẽ nhìn thấy một dạng gần như các quả cầu – có thể chúng là xanh da trời, hay gì đó – anh ấy nghĩ là mình đang lặp lại trải nghiệm ấy. Tôi cảm giác là tôi có thể hiểu được sự khác nhau giữa loại đồng thuận của những người mà đầu óc của họ đã được cài đặt sẵn để đồng thuận và loại động thuận mà bạn có được trong thí nghiệm. Khá khôi hài là rất dễ dàng nói về sự khác nhau này – nhưng rất khó định nghĩa nó!
Tôi tin là không có cái gì trong ảo giác mà lại không dính dáng đến những thứ bên ngoài thuộc về trạng thái nội tâm của người có ảo giác đó. Nhưng dù sao thì cũng có nhiều trải nghiệm ở nhiều người, những người tin là có thực tại trong những ảo giác. Ý tưởng chung đó cũng có thể là duyên cớ vì sao những người giải thích giấc mơ đã có được một số thành công nhất định. Chẳng hạn, một số nhà tâm lý học giải thích các giấc mơ bằng cách nói về ý nghĩa của nhiều biểu tượng khác nhau. Và rồi, việc các biểu tượng này xuất hiện lại trong các giấc mơ sau không phải là hoàn toàn không thể. Vì thế tôi nghĩ là, có lẽ, lý giải các ảo giác và giấc mơ là một quá trình tự nảy sinh: ít nhiều, bạn sẽ có một thành công chung chung, nhất là nếu khi bạn thảo luận nó cẩn thận từ trước.
Thông thường tôi mất khoảng mười lăm phút để có được ảo giác, nhưng trong vài lần, khi tôi hít trước một ít cần sa[3] thì nó đến rất nhanh. Nhưng với tôi mười lăm phút cũng là đủ nhanh rồi.
Một điều thường xảy ra là khi ảo giác xuất hiện, thì những thứ mà bạn có thể mô tả như “Rác thải” cũng sẽ xuất hiện: đó đơn giản là những hình ảnh hỗn độn – những thứ vô dụng ngẫu nhiên hoàn toàn. Tôi đã cố ghi nhớ một số thứ vô dụng ấy để rồi có thể mô tả lại nó, nhưng nó cực kì khó ghi nhớ. Tôi nghĩ là tôi đang đến gần cái kiểu trạng thái mà nó xảy ra khi bạn bắt đầu chìm vào giấc ngủ: Có những kết nối logic rõ ràng, nhưng khi bạn cố gắng nhớ xem cái gì đã làm cho bạn nghĩ về điều mà bạn đang nghĩ, thì bạn không thể nhớ ra được. Thực tế là, bạn nhanh chóng quên mất cái mà bạn đang cố gắng nhớ lại là cái gì. Tôi chỉ có thể nhớ những thứ giống như một bảng hiệu màu trắng trên có vết ố, ở Chicago, và rồi nó biến mất.
Luôn là những thứ kiểu như vậy.
Ông Lilly có một số thùng khác nhau, và chúng tôi đã thử một số thí nghiệm khác. Dường như việc thay đổi thùng không tạo ra khác biệt đáng kể nếu chỉ quan tâm đến ảo giác, và tôi đã trở nên tin rằng cái thùng là không cần thiết. Giờ thì tôi đã thấy được việc cần làm, tôi đã nhận ra là tất cả những gì bạn cần làm là ngồi thật yên lặng – vì sao bạn lại phải bận bịu với tất cả cái trò siêu bịp bợm ấy?
Thế là khi về đến nhà tôi đã tắt đèn và ngồi thoải mái trên một cái ghế trong phòng khách, rồi thử đi thử lại – nhưng chẳng bao giờ có kết quả. Tôi chưa bao giờ có khả năng có được ảo giác ở bên ngoài những cái thùng. Tất nhiên tôi muốn làm được điều đó ở ngay nhà mình, và tôi không hề nghi ngờ rằng bạn có thể thiền và làm được điều đó nếu bạn luyện tập, còn tôi thì đã không tập luyện.
❀ ❀ ❀
[1] John Cunningham Lilly (1915-2001) là một bác sĩ, nhà phân tích tâm lý, triết gia, và người viết văn người Mỹ. Ông là nhà nghiên cứu mở đường trong việc tìm hiểu bản chất của ý thức. (ND)
[2] Một làng nhỏ gần Far Rockaway. (ND)
[3] Tên tiếng Anh là marijuana, một loại chất kích thích nhẹ hơn thuốc phiện. (ND)