Loạt bài giảng về vật lý của tôi đã được công ty Addison-Wesley xuất bản thành một cuốn sách, và một lần trong bữa trưa chúng tôi thảo luận xem bìa của cuốn sách nên như thế nào. Tôi nghĩ, vì các bài giảng đó là một sự kết hợp của thế giới thực và toán học, nên có lẽ cũng hay nếu có hình một cái trống và phía trên là một vài biểu đồ toán học – những đường tròn và các đường mô tả các nút của mặt trống dao động, những thứ đã được viết trong cuốn sách.
Cuốn sách được in ra có bìa trơn màu đỏ, mà vì một lý do nào đó, ở phần lời nói đầu lại có bức hình của tôi đang chơi trống. Tôi nghĩ, họ đặt bức hình ấy ở đó vì họ cho rằng “Tác giả muốn có một cái trống ở đâu đó”. Dù thế nào, mọi người thắc mắc vì sao bức ảnh tôi đang chơi trống ấy lại nằm ở lời nói đầu cuốn những Bài giảng của Feynman, bởi lẽ trên bức hình ấy chẳng có biểu đồ nào, cũng chẳng có cái gì khác có thể làm cho nó rõ nghĩa. (Đúng là tôi thích chơi trống, nhưng đó là chuyện khác).
Ở Los Alamos luôn căng thẳng vì quá nhiều việc, và chẳng có cách nào để tự giải trí: không phim ảnh hay trò gì tương tự. Nhưng tôi đã phát hiện ra mấy cái trống của một trường nam sinh vốn đã từng ở đó: Los Alamos nằm giữa bang New Mexico, ở đây có nhiều làng da đỏ. Thế là tôi tự giải trí – đôi khi một mình, đôi khi với một anh bạn khác – chơi mấy cái trống này chỉ là để gây tiếng động. Tôi không biết một giai điệu nào, cho dù những giai điệu của người da đỏ khá đơn giản, mấy cái trống còn tốt, và tôi thích bày trò.
Đôi khi tôi mang trống vào rừng cách đấy một quãng, để không làm phiền ai, và có thể gõ bằng dùi và hát. Tôi nhớ một đêm, đi vòng quanh một cái cây, nhìn trăng, và gõ trống, giả bộ như tôi là một người da đỏ.
Một hôm có anh chàng đến gặp tôi và nói: “Vào dịp lễ tạ ơn không phải là anh đã đánh trống ở trong rừng đấy chứ?”
“Phải, tôi đã đánh trống ở đấy,” tôi trả lời.
“Ờ, vậy là vợ tôi đúng!” Rồi anh ta kể cho tôi nghe câu chuyện dưới đây.
Một buổi tối, anh ta nghe thấy tiếng nhạc trống từ xa, và đi lên tầng trên gặp một người khác - họ cùng sống trong một ngôi nhà hai căn hộ. Anh chàng này cũng nghe thấy tiếng nhạc trống. Nên nhớ là, cả hai anh chàng này đều đến từ bờ Đông. Họ không biết tí gì về những người da đỏ, và họ đã rất tò mò: chắc hẳn người da đỏ đang có lễ hội hay cái gì đó rất thú vị. Thế là hai anh chàng đó quyết định đi ra ngoài để xem đó là cái gì.
Khi họ tiến về phía trước, càng đến gần tiếng nhạc càng to hơn, và họ bắt đầu thấy căng thẳng. Họ nghĩ rằng có lẽ những người da đỏ có một đội trinh sát ở bên ngoài để kiểm tra sao cho không ai có thể quấy phá lễ hội của họ. Thế là hai anh chàng nằm xuống và bò dọc theo lối mòn cho đến khi, rõ ràng là, tiếng nhạc ở ngay quả đồi bên cạnh. Họ tiếp tục bò lên đồi và rất ngạc nhiên khi khám phá ra là chỉ có duy nhất một người da đỏ đang tự mình làm mọi nghi lễ – nhảy múa quanh một cái cây, đánh trống bằng một cái que, và hát nhạc lễ. Hai anh chàng lùi lại chầm chậm, vì họ không muốn quấy phiền người da đỏ ấy: người này có lẽ đang làm bùa mê, hay cái gì đó.
Hai anh chàng này đã kể với các bà vợ của mình những gì họ đã nhìn thấy, và các bà vợ nói: “Ồ, chắc đó là Feynman – anh ta thích đánh trống.”
“Đừng đùa thế!” những người đàn ông đáp lại. “Ngay cả Feynman cũng không thể điên rồ như vậy!”
Vì thế sang tuần sau, họ bắt đầu gắng tìm xem ai là người da đỏ kia. Có những người da đỏ sống trong khu vực dành riêng gần đó đang làm việc ở Los Alamos, nên hai chàng trai nọ đã hỏi một kỹ thuật viên người da đỏ ở khu vực kĩ thuật xem ai có thể là người đánh trống ấy. Anh chàng da đỏ này hỏi quanh, nhưng không người da đỏ nào biết người đó là ai, trừ một người da đỏ mà không ai có thể nói chuyện được. Ông ta là người da đỏ am hiểu chủng tộc của mình: ông ấy có hai bím tóc to buông xuống tận lưng và luôn ngẩng cao đầu. Bất kỳ lúc nào, đi ở bất kì đâu, ông ấy luôn đi với phong thái đĩnh đạc, một mình; và không ai có thể nói chuyện với ông ta. Bạn sẽ cảm thấy ngại gặp ông ấy và hỏi ông ấy điều gì đó; ông ta quá đĩnh đạc. Ông ấy là một thợ lò. Thế nên, chưa bao giờ ai có gan hỏi người da đỏ này, và mọi người quả quyết người đánh trống kia hẳn phải là ông ta. (Tôi thấy vui vì mọi người đã nghĩ rằng một người da đỏ điển hình, một người da đỏ tuyệt vời như thế lại có thể là tôi. Tôi thấy rất vinh dự là đã được nhầm với người đàn ông đó.)
Vì vậy, anh chàng ấy đến nói chuyện với tôi chỉ là để kiểm tra vào phút chót - các ông chồng luôn muốn chứng minh rằng vợ họ sai - nhưng anh ta đã ngộ ra, giống như bao ông chồng khác, vợ mình là hoàn toàn đúng.
Tôi đã trở thành một tay chơi trống kha khá và thường chơi khi chúng tôi có tiệc tùng. Tôi không biết là mình đã làm như thế nào; tôi chỉ tạo các nhịp điệu – và tôi đã trở nên nổi tiếng: mọi người ở Los Alamos biết tôi thích chơi trống.
Khi chiến tranh kết thúc, chúng tôi quay về thế giới “Văn minh”, và mọi người ở Los Alamos trêu chọc tôi rằng tôi sẽ không thể chơi trống nữa vì nó gây quá nhiều tiếng ồn. Và vì tôi đang gắng để trở thành một giáo sư đạo mạo ở Ithaca, tôi đã bán cái trống mà mình đã mua trong thời gian ở Los Alamos.
Mùa hè tiếp theo, tôi quay lại New Mexico để chuẩn bị cho một báo cáo, và khi thấy lại những cái trống, tôi không kìm mình được nữa. Tôi đã mua cho mình một cái khác và nghĩ: “Lần này mình sẽ mang nó về chỉ để được nhìn nó thôi”.
Năm đó ở Cornell tôi có một căn hộ nhỏ trong một ngôi nhà lớn. Ở đó tôi có một cái trống, chỉ để ngắm. Nhưng một hôm, không cưỡng lại được nữa: tôi tự bảo: “Chà, mình sẽ chơi rất khẽ thôi…”
Tôi ngồi lên một cái ghế tựa, để trống giữa hai chân, và gõ nhè nhẹ bằng mấy ngón tay: bup, bup, bup, binh bup. Rồi to hơn một chút – cuối cùng, nó đã cuốn hút tôi! Tôi chơi to hơn một chút và BOOM! – chuông điện thoại reo.
“A lô?”
“Tôi là chủ nhà của anh. Có phải anh đang chơi trống ở dưới đó không?”
“Phải ạ, tôi xin loô…”
“Nghe hay quá. Liệu tôi có thể xuống dưới đó để nghe cho rõ hơn không?”
Thế là từ đó trở đi, bà chủ nhà luôn xuống phòng tôi khi tôi bắt đầu chơi trống. Đó là quyền tự do, rất được. Từ đấy tôi đã có những khoảnh khắc rất dễ chịu mỗi khi chơi trống.
Khoảng thời gian đó, tôi gặp một phụ nữ đến từ Congo. Cô ấy đã đưa cho tôi mấy băng ghi nhạc dân tộc. Vào những ngày ấy, những băng nhạc như thế là rất hiếm, trong đó có nhạc trống của Watusi và các bộ lạc châu Phi khác. Tôi thực sự ngưỡng mộ những tay trống Watusi, rất, rất ngưỡng mộ. Tôi thường thử bắt chước họ – không chuẩn lắm, mà chỉ nghe giông giống họ thôi – và kết quả của việc này là tôi đã khai thác được rất nhiều giai điệu.
Một lần, trong phòng giải trí, tối muộn, khi không còn nhiều người, tôi cầm một cái sọt đựng rác lên và bắt đầu gõ vào cái đáy của nó. Một anh chàng từ tầng dưới chạy thẳng lên chỗ tôi và nói: “Này! Anh chơi trống à!” hóa ra anh chàng này thực sự biết chơi trống, và anh ta đã dạy tôi cách chơi trống bongo.
Một anh chàng ở khoa âm nhạc có một bộ sưu tập nhạc châu Phi, và tôi thường đến nhà anh ta chơi trống. Anh ta đã ghi âm tiếng trống của tôi, rồi sau đó trong các bữa tiệc của mình, anh ấy bầy một trò chơi mà anh ta gọi là “Châu Phi hay Ithaca?”. Nội dung của trò này là anh ấy mở một số băng ghi nhạc trống, rồi mọi người đoán xem bản trống họ đang nghe đã được ghi ở châu Phi hay là ở đây, Ithaca.
Vậy hẳn là, vào thời gian ấy tôi đã bắt chước khá tốt nhạc châu Phi.
Khi đến Caltech, tôi rất thường xuyên xuống khu Sunset Strip. Có lần, ở một hộp đêm, một nhóm các tay trống do một anh chàng to lớn người Nigeria, tên là Ukonu, chỉ huy đã chơi nhạc trống tuyệt hay – chỉ trống thôi. Nhân vật số hai của nhóm, người đặc biệt tốt với tôi, đã mời tôi lên sân khấu cùng họ và chơi chút ít. Thế là tôi lên đó với những anh chàng kia và chơi trống cùng họ một lúc.
Tôi hỏi anh chàng nhân-vật-số-hai xem Ukonu đã bao giờ dạy trống chưa, và anh ta trả lời là có. Thế là tôi thường xuống chỗ Ukonu, gần đại lộ Thế kỷ (nơi mà sau này đã xảy ra cuộc bạo loạn Watt[1]) để theo học trống. Các bài học không hiệu quả lắm: anh ta thường dừng giữa chừng, nói chuyện với người khác, và buổi học có thể bị gián đoạn bởi đủ loại lí do. Nhưng khi chơi trống thì họ rất phấn khích và tôi đã học được nhiều ở anh ấy.
Trong các buổi khiêu vũ gần chỗ Ukonu, thường chỉ có vài người da trắng, nhưng dễ chịu và thoải mái hơn ngày nay rất nhiều. Một lần họ có cuộc thi trống và tôi đã chơi không tốt lắm: họ bảo tiếng trống của tôi “Quá trí tuệ”, tiếng trống của họ rộn ràng hơn nhiều.
Một hôm, khi đang ở Caltech, tôi nhận được một cuộc điện thoại nghe rất trang trọng.
“A lô?”
“Tôi là Trowbridge, Thạc sĩ của Trường bách khoa.” Trường bách khoa là một trường tư nhỏ nằm xéo bên kia phố so với Caltech. Ông Trowbridge tiếp tục với giọng rất xã giao: “Tôi đang có một người bạn của ông ở đây và anh ấy muốn nói chuyện với ông.”
“Vâng.”
“Chào, Dick!” Đó là Ukonu! Hóa ra là ông thạc sĩ của trường bách khoa không xã giao như anh ta đã làm ra vẻ, mà là một cây hài hước. Ukonu đang thăm trường đó, chơi trống cho bọn trẻ, nên anh ấy mời tôi đến để cùng lên sân khấu và cùng chơi. Thế là chúng tôi cùng nhau chơi trống cho bọn trẻ: tôi chơi bongo (chiếc trống tôi có trong phòng làm việc) đáp lại chiếc tum-ba to đùng của anh ấy.
Ukonu có một công việc thường xuyên: anh ấy đến các trường học khác nhau, nói chuyện về những cái trống châu Phi, chúng có ý nghĩa như thế nào, và cả về âm nhạc nữa. Anh ấy có tính cách tuyệt vời và một nụ cười rạng rỡ; anh ấy là một người đàn ông rất, rất dễ mến. Anh ấy đơn giản là rất giỏi về trống – đã thu băng – và đang ở đây để học ngành y. Ukonu quay trở lại Nigieria khi ở đó bắt đầu xảy ra chiến tranh – hay trước chiến tranh – và tôi không biết điều gì đã xảy ra với anh ấy.
Sau khi Ukonu đi, tôi không còn chơi trống nhiều nữa, ngoại trừ thi thoảng trong các bữa tiệc để giải trí một chút. Có lần, trong bữa tiệc trưa ở nhà Leightons, cậu Ralph, con trai của Bob[2], và một cậu bạn hỏi tôi có muốn chơi trống không. Nghĩ rằng bọn trẻ yêu cầu tôi chơi một mình nên tôi đã nói không. Nhưng rồi chúng bắt đầu gõ nhịp lên mấy cái bàn gỗ nhỏ, và tôi không nhịn được: Tôi cũng vớ lấy một cái bàn, và ba chúng tôi chơi trên những cái bàn gỗ nhỏ này, tạo nhiều âm thanh thú vị.
Ralph và bạn của nó, Tom Rutishauser, thích chơi trống, nên chúng tôi bắt đầu gặp gỡ hàng tuần, chẳng có kế hoạch hay chuẩn bị gì, chỉ để khai thác các giai điệu, và luyện tập chúng cho thành thục. Hai bạn trẻ là những nhạc công thực thụ: Ralph chơi piano còn Tom chơi viôlôngxen. Tất cả những gì tôi làm chỉ là giai điệu; tôi không biết gì về âm nhạc; thứ mà trong tầm hiểu biết của tôi chỉ là gõ theo các nốt. Nhưng chúng tôi đã thành thục nhiều giai điệu hay và đã chơi vài lần ở mấy trường học để mua vui cho lũ trẻ. Chúng tôi cũng chơi các giai điệu cho một lớp khiêu vũ ở trường cao đẳng địa phương – những thứ tôi đã học được là rất thích thú khi tôi làm việc ở Brookhaven một thời gian ngắn – và chúng tôi tự đặt tên là Ban nhạc Ba hạt Quark, nhờ thế bạn có thể biết được đó là thời gian nào.
Một lần tôi đến Vancouver để nói chuyện với sinh viên ở đó, và họ đã có một buổi tiệc với một ban nhạc rock thực nóng - loại ban nhạc chơi ở dưới tầng hầm. Ban nhạc đó rất hay: họ có một cái chuông bò thừa ra nằm ở đó, và họ đã khuyến khích tôi chơi. Thế là tôi bắt đầu chơi một chút, và vì âm nhạc của họ rất nhịp nhàng (còn cái chuông bò chỉ là nhạc cụ đệm – bạn không thể làm rối nó lên), nên tôi đã rất “Nóng”.
Sau bữa tiệc, anh chàng phụ trách tổ chức bữa tiệc đó đã nói với tôi rằng trưởng ban nhạc bảo: “Tệ quá! Cái tay xuống đây và chơi cái chuông bò là ai vậy! Với cái ấy hắn ta có thể phá hỏng toàn bộ giai điệu! À mà, còn cái ông lớn mà bữa tiệc này nói là dành cho ông ta – anh biết đấy, thì lại chưa hề xuống đây; tôi chưa hề nhìn thấy ông ta là ai!”
Dù sao, Ở Caltech cũng có một nhóm kịch. Một số diễn viên là sinh viên Caltech; những người khác là từ bên ngoài. Khi có một cảnh phụ, chẳng hạn một viên cảnh sát bắt giữ một ai đó, họ thường lấy một giáo sư làm việc đó. Luôn thật tức cười – một giáo sư đi vào và bắt giữ ai đó, rồi lại đi ra.
Vài năm trước, nhóm này tập vở Các chàng trai và những con búp bê trong đó có cảnh anh chàng nhân vật chính đưa cô gái đến Havana, và họ ở trong một hộp đêm. Đạo diễn cho rằng nên có một người chơi bongo trên sân khấu của hộp đêm, và tôi được đề nghị vào vai đó.
Tôi đến buổi tập đầu tiên, cô đạo diễn vở kịch chỉ vào vị nhạc trưởng và nói: “Jack sẽ chỉ nhạc cho anh.”
Chà, câu nói đó làm tôi chết điếng. Tôi không biết đọc nhạc như thế nào; tôi đã nghĩ tất cả những gì tôi cần làm là đứng trên sân khấu và gây chút tiếng ồn.
Jack đang ngồi cạnh cái đàn dương cầm. Anh ta chỉ vào bản nhạc và nói: “Thế này, anh bắt đầu ở đây, anh thấy rồi chứ, và anh làm cái này. Rồi tôi chơi plonk, plonk, plonk” – anh ấy chơi một vài nốt trên dương cầm. Jack lật sang trang khác. “Sau đó anh chơi đoạn này, và bây giờ cả hai chúng ta tạm dừng cho lời thoại, anh thấy chứ, chỗ này” – rồi anh ta lật thêm mấy trang nữa và nói: “Cuối cùng anh chơi đoạn này.”
Anh ấy đã chỉ cho tôi cái “Bản nhạc” đó, nó được viết trên một khuông nhạc kiểu kì cục gì ấy với những chữ x nhỏ nằm trên những nét gạch ngang và những đường. Anh ấy tiếp tục nói với tôi về bản nhạc này, nghĩ rằng tôi là một nhạc công, và tôi hoàn toàn không thể nhớ được bất kỳ điều gì trong đó. May là, hôm sau tôi bị ốm, và không thể đến buổi tập tiếp theo. Tôi nhờ anh bạn Ralph đi giúp, và vì Ralph là một nhạc công, cậu ấy hẳn là biết tất cả những thứ này. Khi về Ralph bảo: “Cũng không tệ lắm. Trước hết, ở ngay khúc khởi đầu, anh phải chơi thật chính xác bởi vì anh bắt nhịp cho phần còn lại của dàn nhạc, họ sẽ khớp nhịp với anh. Nhưng khi dàn nhạc đã nhập cuộc, thì phần anh giống như đệm thêm vào thôi. Có những lúc chúng ta phải dừng lại cho lời thoại, nhưng tôi nghĩ chúng ta có thể nhận ra điều đó qua những dấu hiệu của nhạc trưởng.”
Trong khi đó, tôi đã làm cho đạo diễn nhận cả Ralph nữa, thế là cả hai chúng tôi sẽ ở trên sân khấu. Anh ấy sẽ chơi tumba, còn tôi chơi bongo – điều này làm mọi chuyện dễ dàng hơn rất nhiều cho tôi.
Rồi Ralph chỉ cho tôi cái nhịp đó là như thế nào. Nó chắc chỉ độ hai mươi hoặc ba mươi cái vỗ, nhưng phải chính xác như vậy. Tôi chưa bao giờ phải chơi cái gì thật chính xác cả, nên việc chơi đúng nhịp như thế là rất khó với tôi. Ralph kiên nhẫn giải thích: “Tay trái, rồi tay phải, rồi hai lần tay trái, rồi phải…” Tôi tập rất chăm, và cuối cùng, rất chậm, tôi đã bắt được nhịp chính xác. Để làm được việc đó, tôi đã mất một thời gian rất rất dài – nhiều ngày.
Một tuần sau chúng tôi lại đến tập và thấy có một tay trống mới ở đó – tay trống chính thức đã bỏ ban nhạc đi làm việc khác - và chúng tôi đã tự giới thiệu mình với anh ta:
“Xin chào. Chúng tôi là những người sẽ lên sân khấu trong cảnh diễn Havana.”
“Ồ, xin chào. Để tôi tìm cảnh đó ở đây…” và anh ta giở tới trang có cảnh diễn của chúng tôi, rút ra cái dùi trống của mình, và nói “Ồ, các anh bắt đầu cảnh bằng…’’ rồi với cái dùi áp vào thành trống của mình anh ta chơi bing, bong, ban g-a-bang, bing-a-bing, bang, bang với tốc độ rất cao, trong khi vẫn nhìn vào bản nhạc! Đó là một cú sốc lớn với tôi. Tôi đã tập luyện chăm chỉ bốn ngày để chơi đúng cái giai điệu trời đánh ấy, còn anh ta cứ thế gõ nó ra!
Dù sao, sau luyện đi luyện lại, cuối cùng tôi cũng làm được và đã chơi trong buổi diễn. Khá thành công: ai cũng thích thú thấy một giáo sư đang chơi bongo trên sân khấu, và nhạc chơi không tồi. Phần đệm, mỗi cảnh một khác, khá dễ; nhưng phần khởi đầu, phần phải thật chuẩn xác, thì rất khó.
Ở cảnh diễn hộp đêm Havana, một số sinh viên phải làm vài điệu múa, việc này cần được biên đạo. Vì thế, đạo diễn đã mời vợ của một người ở Caltech, cô ấy lúc đó là một biên đạo múa đang làm việc ở trường quay Universal[3], đến để dạy múa cho mấy cậu sinh viên ấy. Cô biên đạo thích tiếng trống của chúng tôi, nên khi các buổi diễn đã xong, cô ấy hỏi xem liệu chúng tôi có muốn chơi trống cho một vở ba lê ở San Francisco không.
“Gì cơ?”
Đúng vậy. Cô ấy đang chuyển đến San Francisco và biên đạo một vở ba lê cho một trường ba lê nhỏ ở đó. Cô ấy có ý định dựng một vở ba lê trong đó âm nhạc chỉ là bộ gõ. Cô ấy muốn Ralph và tôi đến nhà mình trước khi cô chuyển đi, chơi các giai điệu khác nhau mà chúng tôi biết, rồi từ đó cô ấy sẽ dựng một cốt chuyện phù hợp với các giai điệu.
Ralph có một chút nghi hoặc, nhưng tôi đã khuyến khích cậu ấy dấn vào cuộc phiêu lưu này. Tuy nhiên, tôi đã yêu cầu dứt khoát là cô ấy không được nói với bất kỳ ai ở đó rằng tôi là có một giáo sư vật lý, người đoạt giải Nobel, hoặc những chuyện vớ vẩn khác. Tôi đã không muốn chơi trống, cho dù tôi đang chơi nó, bởi vì, như Samuel Johnson đã nói: “Nếu bạn nhìn thấy một con chó đi bằng hai chân sau, thì việc nó đi có chững chạc hay không chẳng quan trọng gì mấy, vì ít ra nó đi được như thế.” Tôi không muốn chơi trống chút nào với tư cách một giáo sư vật lý chơi trống; chúng tôi chỉ là những nhạc công nào đó mà cô ấy đã tìm được ở Los Angeles, những người sẽ tới và chơi những điệu trống mà họ đã soạn ra.
Thế là chúng tôi đến nhà cô ấy và chơi những giai điệu khác nhau mà chúng tôi đã sáng tạo ra. Cô ấy làm vài ghi chép, và ngay sau đó, cũng trong tối hôm ấy, cô đã hình thành câu chuyện trong đầu và nói, “Ổn rồi, tôi muốn năm mươi hai lần lặp lại của nhịp này; bốn mươi lần nhịp kia; bao nhiêu nhịp này, kia, này, kia…”
Chúng tôi về nhà, và tối hôm sau chúng tôi làm một băng ghi âm ở nhà Ralph. Chúng tôi chơi tất cả các giai điệu trong vài phút, rồi Ralph làm một số công đoạn cắt và ghép trên cái máy ghi âm của cậu ta để có được những trường đoạn khác nhau như mong muốn. Cô ấy mang theo một bản sao cuốn băng của chúng tôi khi chuyển đi, và bắt đầu luyện các vũ công ở San Francisco với cuốn băng ấy.
Trong khi đó chúng tôi đã phải tập luyện những gì ghi ở trong cuốn băng ấy: năm mươi hai lần đoạn này, bốn mươi lần đoạn kia, và vân vân. Chúng tôi phải tập chơi chính xác những gì mình đã tự ý làm (và ghép lại) trước đó. Chúng tôi phải bắt chước cuốn băng chết tiệt của chính mình!
Vấn đề quan trọng là đếm nhịp. Tôi nghĩ, chắc là Ralph biết làm việc đó như thế nào vì cậu ấy là một nhạc công, nhưng cả hai chúng tôi đã phát hiện ra một chuyện nực cười. “Trung khu chơi nhạc” trong đầu chúng tôi cũng là “Trung khu nói” dùng cho việc đếm – chúng tôi không thể chơi và đếm đồng thời!
Trong buổi tập đầu tiên ở San Francisco, chúng tôi khám phá ra là bằng cách quan sát các vũ công chúng tôi không phải đếm nữa bởi vì các vũ công bước qua những động tác nhất định.
Có một số chuyện đã xảy ra với chúng tôi, bởi vì chúng tôi được cho là những nhạc công chuyên nghiệp mà tôi thì lại không phải thế. Chẳng hạn, một trong các cảnh là về một người phụ nữ ăn xin vân vê cát ở một bãi biển vùng Caribê, ở đó đã có các quý bà sang trọng, những người đã xuất hiện ngay đầu vở diễn. Âm nhạc, mà nữ biên đạo dùng để tạo cảnh này, được chơi bằng một cái trống đặc biệt do Ralph và bố cậu ấy đã làm ra một cách khá tài tử mấy năm trước.
Không có cái trống này thì chúng tôi chẳng bao giờ đủ may mắn để có được âm thanh tốt như thế. Chúng tôi còn phát hiện ra rằng, nếu ngồi đối diện nhau trên hai cái ghế và để cái “Trống khùng” này trên những đầu gối ở giữa hai chúng tôi, một người gõ bidda-bidda-biddabidda-bidda nhanh và liên tục bằng hai ngón tay, còn người kia có thể dùng hai bàn tay ấn lên trống ở những chỗ khác nhau, làm thay đổi độ cao của âm. Giờ thì là booda–booda–booda–bidda–beeda–beeda–beeda–bidda–booda-booda-booda-badda-bidda-bidda-bidda-badda, tạo ra nhiều âm thanh thú vị.
Vũ công diễn vai người phụ nữ ăn xin muốn những chỗ lên và xuống trùng với nhịp nhảy của cô ấy (ở cảnh này băng ghi âm của chúng tôi đã được làm một cách hơi tùy tiện), thế nên cô ấy đã giải thích cho chúng tôi biết cô ấy sẽ làm gì: “Đầu tiên, tôi làm bốn động tác này, lối này; rồi tôi cúi xuống và vân vê cát kiểu này trong tám nhịp; rồi tôi đứng lại và quay người cách này.” Tôi biết là mình không thể làm theo được như thế, nên đã ngắt lời cô ấy:
“Cô cứ lên và biểu diễn đi, tôi sẽ chơi theo.”
“Nhưng ông không muốn biết điệu múa diễn ra như thế nào à? Ông thấy đấy, sau khi tôi kết thúc phần vân vê cát thứ hai, tôi đi tám nhịp theo đường này.” Không có ích gì cả; tôi không thể nhớ gì cả, và tôi lại muốn ngắt lời cô ấy, nhưng khi đó có vấn đề thế này: có vẻ như tôi không phải là một nhạc công thực thụ!
May là, Ralph đã yểm trợ tôi rất khéo bằng cách giải thích: “Ông Feynman có một kỹ thuật đặc biệt cho những tình huống kiểu như thế này: ông ấy muốn phát triển âm độ một cách trực tiếp bằng trực giác, khi nhìn cô múa. Hãy thử cách này một lần, và nếu cô không ưng ý, thì chúng tôi sẽ sửa.”
Cô ấy là vũ công hạng một, nên bạn có thể dự tính trước những điều cô ấy sắp làm. Nếu cô ấy sắp sửa ăn cát, thì cô ấy sẽ có tư thế sẵn sàng ngã xuống cát; mọi chuyển động đều nhuần nhuyễn và như mong đợi. Vì thế bằng hai bàn tay của mình tôi dễ dàng tạo ra bzzzzs, bshshs, boodas, và biddas khá phù hợp với những gì cô ấy đang làm, và cô ấy đã rất hài lòng với điều đó. Thế là chúng tôi vượt qua cái khoảnh khắc mà chúng tôi có thể bị lật tẩy.
Vở ba lê được cho là một thành công. Mặc dù không có nhiều khán giả, những người đã đến xem buổi diễn đều rất thích vở này.
Trước khi đến San Francisco để tập luyện và biểu diễn, chúng tôi đã không chắc lắm về toàn bộ ý tưởng đó. Tôi ngụ ý, chúng tôi đã nghĩ biên đạo múa này bị mất trí: thứ nhất, vở ba lê chỉ có nhạc gõ; thứ hai, việc chúng tôi đủ khả năng để làm nhạc cho một vở ba lê và được trả tiền cho việc đó nhất định là điên rồ rồi! Với tôi, người chưa bao giờ có tý “Văn hóa” nào, thì việc đạt tới mức như một nhạc công chuyên nghiệp cho một vở ba lê là đỉnh cao của thành công.
Chúng tôi đã không nghĩ là cô ấy có thể tìm được những vũ công ba lê, những người sẽ vui lòng múa với nhạc trống của chúng tôi. (Thực vậy, một quý bà khó tính người Brazil, vợ của viên lãnh sự Bồ Đào nha, đã cho rằng múa với nhạc trống là không xứng tầm với bà ấy.) nhưng những vũ công khác dường như rất thích nhạc này, và trái tim tôi cảm thấy rất dễ chịu khi chúng tôi chơi cho họ ngay trong buổi tập đầu tiên. Niềm vui thích mà họ cảm nhận khi nghe thấy những giai điệu của chúng tôi thực sự vang lên như thế nào (cho đến khi đó họ chỉ sử dụng băng ghi âm của chúng tôi chạy bằng một cái cát xét nhỏ) là niềm vui đích thực, và tôi đã tự tin thêm rất nhiều khi thấy cách họ phản ứng lại lối chơi đích thực của chúng tôi. Và từ nhận xét của những người đã dự buổi biểu diễn, chúng tôi hiểu rằng mình đã thành công.
Nữ biên đạo múa muốn làm một vở ba lê nữa cho giai điệu trống của chúng tôi vào mùa xuân tới, vì thế chúng tôi đã lại trải qua cùng qui trình như lần trước. Chúng tôi làm một băng ghi âm nhiều giai điệu hơn, còn cô ấy nghĩ ra một câu chuyện khác, lần này xảy ra ở châu Phi. Tôi nói chuyện với giáo sư Munger ở Caltech và biết được mấy cụm từ châu Phi thực sự để hát lúc dạo đầu (Gawa banyuma gawa wo, hay đại loại như thế), và tôi luyện tập chúng cho đến khi làm được chính xác.
Sau đó, chúng tôi đã lên San Francisco tập luyện vài lần. Ngay ở lần tập đầu, chúng tôi đã thấy họ đang có một khó khăn. Họ không biết bằng cách nào có thể làm mấy cái ngà voi để trông có vẻ được được trên sân khấu. Những cái mà họ đã làm bằng giấy bồi nhìn tệ đến mức một vài vũ công cảm thấy ngượng khi phải múa trước một nền phông như vậy.
Chúng tôi không đề xuất được giải pháp nào, mà nặng về chờ xem điều gì sẽ xảy ra khi mà vở diễn được trình làng vào cuối tuần sau. Trong thời gian đó, tôi thu xếp đi thăm Werner Erhard, tôi quen biết ông vì đã tham dự một số hội nghị do ông tổ chức. Khi đang ngồi trong căn nhà rất đẹp của ông ấy, nghe vài triết lý hoặc ý tưởng của ông, thì thình lình tôi như bị thôi miên.
“Có vấn đề gì vậy?” ông ấy hỏi.
Hai mắt tôi như nổ tung ra khi tôi thốt lên: “Ngà!” phía sau ông ấy, trên sàn nhà, là những cái ngà voi kềnh càng, đồ sộ, và tuyệt đẹp!
Ông ấy cho chúng tôi mượn những cái ngà đó. Trên sân khấu chúng trông rất đẹp (làm các vũ công nhẹ cả người): những cái ngà voi thật, ngoại cỡ, với sự cho phép của Werner Erhard.
Cô biên đạo múa đã chuyển sang bờ Đông, và tạo dựng ba lê Caribê của mình ở đấy. Thời gian sau chúng tôi nghe nói là cô đã mang điệu ba lê ấy đến một cuộc thi dành cho các biên đạo múa đến từ khắp nơi trên đất Mỹ, và đã dành được vị trí thứ nhất hay thứ hai. Thành công này đã khích lệ cô tham gia một cuộc thi khác, lần này ở Paris, dành cho các biên đạo múa đến từ khắp nơi trên thế giới. Cô mang theo một cuốn băng chất lượng cao mà chúng tôi đã thu ở San Francisco, rồi đào tạo một số vũ công ở đó, tại nước Pháp, để làm một màn ba lê nhỏ - đó là cách cô ấy tham gia cuộc thi.
Cô ấy đã làm rất tốt, đã lọt vào vòng cuối, vòng chỉ còn lại hai ứng viên: một nhóm Látvia biểu diễn ba lê truyền thống với các vũ công chuyên nghiệp múa theo nhạc cổ điển tuyệt hay, và một kẻ phá cách đến từ nước Mỹ chỉ với hai vũ công đã được huấn luyện ngay tại pháp, diễn một vở ba lê không có gì ngoài nhạc trống của chúng tôi.
Cô là người được khán giả hâm mộ, nhưng đây không phải là cuộc thi mang tính quần chúng, và ban giám khảo đã quyết định là những người Látvia thắng cuộc. Sau cuộc thi, cô ấy đã gặp các vị giám khảo để biết được điểm yếu trong vở ba lê của mình.
“Vâng, thưa bà, nhạc chưa thật hay. Nó chưa đủ tinh tế. Thiếu kiểm soát âm lượng…”
Vậy là cuối cùng chúng tôi đã ngộ ra: khi chúng tôi gặp những người thực sự biết thưởng thức nghệ thuật ở Paris, những người biết nhạc trống, thì chúng tôi bị đánh trượt.
❀ ❀ ❀
[1] Cuộc bạo loạn lớn xảy ra tháng 8 năm 1965 ở Los Angeles với nguyên nhân được cho là do phản ứng lại hành động bạo lực của cảnh sát và sự bất công do phân biệt chủng tộc với người da đen ở Los Angeles. (ND)
[2] Tên gọi thân mật của Robert B. Leighton, giáo sư vật lý ở Caltech và là cha của Ralph Leighton. (ND)
[3] Một phim trường nổi tiếng ở kinh đô điện ảnh Hollywood. (ND)