Có lần tôi đã chơi bongo trong một bữa tiệc và chơi khá hay. Một người đang ở đó đã đặc biệt thích tiếng trống. Anh ta đi vào nhà tắm, cởi áo sơ mi, lấy kem cạo râu vẽ các hình gây cười lên khắp ngực, đi ra, và nhảy như điên với những quả anh đào lủng lẳng hai bên tai. Một cách tự nhiên, anh chàng cuồng mê này và tôi ngay lập tức đã trở thành đôi bạn tốt. Tên anh ấy là Jerry Zorthian. Anh là một họa sĩ.
Chúng tôi thường thảo luận dài dài về hội họa và khoa học. Tôi thường nói đại loại như: “Các nghệ sĩ đang bị lạc đường; họ không có chủ đề nào hết! Họ đã từng thường có các chủ đề tôn giáo, nhưng họ đã đánh mất tôn giáo của mình và bây giờ họ chẳng có gì cả. Họ không hiểu cái thế giới kỹ nghệ mà họ đang sống trong đó; họ không biết tí gì về vẻ đẹp của thế giới thực – thế giới khoa học – nên họ chẳng có gì trong trái tim mình để mà vẽ cả.”
Jerry thường đáp lại rằng các nghệ sĩ không cần phải có một chủ đề vật chất; có nhiều cảm xúc có thể diễn tả qua nghệ thuật. Ngoài ra, nghệ thuật có thể là trừu tượng. Hơn nữa, các nhà khoa học đã phá hỏng vẻ đẹp của tự nhiên khi họ mổ xẻ nó ra và đưa chúng vào các phương trình toán học.
Một lần tôi ở lại chỗ Jerry dịp sinh nhật anh ấy, và một trong những tranh luận ngớ ngẩn như thế đã kéo đến tận 3 giờ sáng. Sáng hôm sau, tôi điện thoại cho anh ta: “Nghe này, Jerry,” tôi nói: “Sở dĩ chúng ta có những tranh cãi chẳng đi đến đâu như thế là vì anh chẳng hiểu quái gì về khoa học, còn tôi thì chẳng hiểu quái gì về nghệ thuật. Vậy nên, luân phiên vào các ngày chủ nhật, tôi sẽ dạy anh về khoa học, còn anh dạy tôi về nghệ thuật.”
“Đồng ý,” anh ấy nói. “Tôi sẽ dạy anh vẽ.”
“Tôi không vẽ được đâu,” tôi nói, vì khi ở trung học phổ thông, thứ duy nhất tôi có thể vẽ được là những cái kim tự tháp trên sa mạc – chủ yếu gồm các đường thẳng – và đôi lúc tôi cũng thử vẽ một cây cọ và thêm vào ông mặt trời. Tôi tuyệt đối không có năng khiếu. Hồi đó, tôi ngồi cạnh một thằng bạn ngang tài. Khi nó được phép vẽ cái gì đấy, thì cái đó gồm hai đốm màu hình e-líp phẳng, giống như hai cái lốp xe chồng lên nhau với một cái cuống mọc lên ở đỉnh và kết thúc ở một hình tam giác màu xanh. Cái hình đó được cho là một cái cây. Vì thế, tôi cá với Jerry là anh ấy sẽ không thể dạy tôi vẽ được.
“Tất nhiên là anh sẽ phải học,” anh ấy nói.
Tôi hứa sẽ học, nhưng vẫn đánh cuộc rằng anh ấy không thể dạy tôi vẽ. Tôi rất muốn học vẽ vì lý do mà tôi giữ cho riêng mình: tôi muốn chuyển tải cảm xúc của mình về vẻ đẹp của thế giới. Thật khó mô tả, vì đó là cảm xúc. Nó tương tự như cảm giác của con chiên cần có đức chúa, người điều hành mọi thứ trong toàn bộ vũ trụ: có một cảm nhận chung khi bạn nghĩ về việc, làm thế nào mà những sự vật trông rất khác nhau và hành xử cũng rất khác nhau lại được điều khiển “Ở phía sau bức màn” bởi cùng một tổ chức, cùng những định luật vật lý. Đó là sự ngưỡng mộ vẻ đẹp toán học của tự nhiên, về cách thức vận động nội tại của nó; một sự thừa nhận rằng các hiện tượng mà chúng ta nhìn thấy đều là kết quả của một phức hợp những vận động thầm kín giữa các nguyên tử; cảm giác về một điều vô cùng ấn tượng và kỳ diệu. Đó là một cảm giác sùng bái – sự sùng bái mang tính khoa học – mà tôi đã cảm nhận được là có thể được chuyển tải thông qua hội họa đến những ai cũng có cảm giác này. Nó có thể làm cho anh ta, trong khoảnh khắc, nhớ đến cảm giác đó về vẻ đẹp huy hoàng của vũ trụ.
Jerry hóa ra lại là một thầy giáo rất giỏi. Đầu tiên, anh ấy bảo tôi hãy về nhà và vẽ bất kì cái gì tôi muốn. Thế là tôi thử vẽ một chiếc giày; rồi tôi thử tiếp một bông hoa trong lọ. Toàn trò bỏ đi!
Lần gặp tiếp theo, tôi cho anh ấy xem những sản phẩm thử nghiệm của mình: “Ồ, anh nhìn này!” anh ấy nói. “Anh thấy không, ở phía sau này, nét vẽ của lọ hoa không chạm vào cái lá.” (Tôi đã định vẽ nét đó lên tới chiếc lá.) “Rất được. Đó là cách để thể hiện chiều sâu. Nó chứng tỏ sự thông minh của anh đấy.”
“Và, việc anh không vẽ tất cả các nét với cùng độ dày (tôi đã không chủ định làm như thế) là một điểm tốt đấy. Một bức tranh với tất cả các nét có cùng độ dày trông rất buồn tẻ.” Rồi tiếp theo là như thế này: mọi điều tôi nghĩ đều là nhầm, anh ấy luôn dạy tôi theo cách tích cực. Anh ấy không bao giờ nói rằng như thế là sai, anh ấy không bao giờ hạ thấp tôi. Vì thế, tôi tiếp tục cố gắng và đã dần dần ít nhiều khá lên, nhưng tôi chưa bao giờ thoả mãn.
Để luyện tập nhiều hơn, tôi đăng ký tham dự một khóa học từ xa của Trường học Từ xa Quốc tế. Tôi phải nói là trường này rất tốt. Họ khởi động tôi bằng việc vẽ những hình tháp, hình trụ, và đánh bóng chúng, vân vân. Chúng tôi học nhiều lĩnh vực: đồ họa, phấn màu, màu nước, và sơn dầu. Gần cuối chương trình tôi nhãng ra. Tôi đã làm cho họ một bức tranh sơn dầu, nhưng tôi không bao giờ gửi đi.
Họ vẫn gửi thư khuyến khích tôi học tiếp. Họ thật tốt bụng.
Tôi thường xuyên tập vẽ và trở nên rất hứng thú với công việc này. Nếu tôi ngồi trong một cuộc họp mà nó chẳng đi đến đâu cả – kiểu như cuộc họp khi Carl Rogers đến Caltech thảo luận với chúng tôi về việc liệu Caltech có nên phát triển khoa tâm lý học – thì tôi thường vẽ những người khác. Tôi có một tập giấy nhỏ luôn mang bên mình và tôi tập vẽ ở bất kì chỗ nào mà tôi đến. Vậy nên, trong thời gian Jerry dạy tôi vẽ, tôi đã làm việc rất chăm chỉ.
Jerry, mặt khác, chẳng học được mấy về vật lý. Đầu óc anh ấy rất dễ mất tập trung. Tôi đã gắng dạy anh ấy vài điều về điện và từ, nhưng ngay khi tôi vừa nhắc đến “Điện” thì anh ấy lại kể với tôi về cái động cơ nào đó của mình bị hỏng, và làm thế nào anh ấy có thể sửa nó. Khi tôi muốn chỉ cho anh ấy xem cái nam châm điện hoạt động như thế nào bằng cách làm một cuộn dây thép nhỏ và treo một cái đinh vào đầu một sợi dây, tôi đóng mạch điên, cái đinh đung đưa về phía cuộn dây, thì anh ấy lại nói: “Ồ, giống như xxx ấy nhỉ!” Thế là sự việc kết thúc ở đó.
Và lúc này chúng tôi có một tranh luận mới: anh ấy là thầy giáo giỏi hơn tôi hay tôi là sinh viên giỏi hơn anh ấy.
Tôi đã từ bỏ ý định cố làm cho một nghệ sĩ biết thưởng thức cái cảm giác mà tôi có được về tự nhiên, để rồi anh ấy có thể vẽ nó ra. Bây giờ thì tôi sẽ phải nỗ lực gấp đôi trong việc học vẽ, để rồi tôi có thể tự làm được việc đó. Đây là một việc đầy tham vọng, và tôi giữ kín ý định đó cho riêng mình, vì khả năng lớn là tôi sẽ không bao giờ có thể làm được việc ấy.
Ở những ngày đầu của quá trình học vẽ, một phụ nữ quen biết nhìn thấy những sản phẩm khó nhọc của tôi đã gợi ý: “Anh nên đến bảo tàng nghệ thuật Pasadena. Ở đấy có những lớp vẽ, có người mẫu – những người mẫu khỏa thân.”
“Không,” tôi đáp. “Tôi vẽ không tốt, nên đến đó tôi sẽ cảm thấy rất lúng túng.”
“Anh vẽ khá tốt đấy; anh nên xem tranh của những người khác!”
Thế là tôi lấy hết can đảm để đi đến đó. Trong bài học đầu tiên họ nói với chúng tôi về giấy in báo – những tờ giấy chất lượng thấp khổ rất rộng, kích cỡ tờ báo – và các loại bút chì và than vẽ sẽ dùng. Ở buổi học thứ hai, một người mẫu đi đến và cô ấy khởi đầu bằng một tư thế trong mười phút.
Tôi bắt đầu vẽ người mẫu, và khi tôi mới vẽ được một cái chân, thì mười phút đã trôi qua. Tôi nhìn quanh thì thấy mọi người đều đã vẽ xong một bức tranh hoàn chỉnh, phía sau đánh bóng – một tác phẩm trọn vẹn.
Tôi thấy mình không thể theo được. Nhưng rồi, cuối cùng, người mẫu ở một tư thế trong ba mươi phút. Tôi làm việc cật lực, và với sự cố gắng phi thường tôi đã có thể vẽ được dáng hình tổng thể của cô ấy. Lần này đã có một phần hai hy vọng. Vì thế lần này tôi không che hình vẽ của mình lại, như đã làm với tất cả các hình vẽ trước.
Tôi đi loanh quanh xem những người khác đã làm được gì, và tôi đã nhìn thấy sản phẩm của những cây vẽ thực thụ: họ vẽ người mẫu với đầy đủ các chi tiết và đánh bóng sáng tối, cuốn sổ tay ở cái ghế dài mà cô người mẫu đang ngồi, cái bục, mọi thứ! Tất cả họ guồng zip, zip, zip, zip, zip bằng thỏi than chì, tất cả chấm hết rồi, và tôi hiểu là không còn hy vọng gì nữa – hoàn toàn vô vọng.
Tôi quay về chỗ để che cái hình vẽ của mình lại. Nó chỉ gồm vài đường chen chúc ở góc trên bên trái của một tờ giấy in báo – trước đó tôi mới chỉ vẽ trên giấy 8 ½ x 11 – nhưng một vài người khác ở trong lớp lại đang đứng gần: “Ồ, hãy nhìn cái hình này,” một trong số họ nói. “Rõ từng đường một!”
Tôi không biết chính xác câu đó nghĩa là gì, dù sao tôi cảm thấy vẫn đủ can đảm để đến buổi học tiếp theo. Trong khi chưa đến buổi học sau, Jerry tiếp tục bảo tôi rằng những bức vẽ bố cục quá dày đặc chẳng đẹp chút nào. Việc của anh ấy là dạy tôi không bận tâm về những người khác, nên anh ấy đã nói với tôi rằng bọn họ cũng xoàng thôi.
Tôi thấy ở trên lớp thầy giáo không nói nhiều với mọi người (điều duy nhất ông ấy nói với tôi là bức tranh của tôi quá nhỏ so với khổ giấy). Thay vào đó, ông ấy gắng động viên chúng tôi thử nghiệm những cách tiếp cận mới. Tôi nghĩ về cách thức chúng ta dạy vật lý: Chúng ta có quá nhiều kỹ thuật – quá nhiều phương pháp toán học – đến nỗi chúng ta phải liên tục dạy sinh viên cách giải quyết các vấn đề. Các thầy giáo dạy vẽ, thì lại khác, ngại nói với bạn bất kỳ điều gì. Nếu nét vẽ của bạn quá đậm, thầy giáo cũng không nói: “Các nét vẽ của anh quá đậm,” bởi vì có họa sĩ cho rằng việc dùng các nét đậm là một cách để tạo ra những bức tranh bất hủ. Thầy giáo không muốn dẫn dắt bạn vào một hướng cụ thể nàoVì thế, thầy dạy vẽ có chút thiên lệch trong truyền đạt cách vẽ bằng thấm dần chứ không bằng hướng dẫn, trong khi thầy vật lý lại có chút thiên lệch trong việc luôn dạy các kỹ thuật, hơn là cảm xúc, trong cách tiếp cận để giải các bài toán vật lý.
Họ luôn bảo tôi hãy “Thả lỏng” làm cho mình thoải mái hơn khi vẽ. Tôi nghĩ lời khuyên này cũng giống như việc bảo một người đang tập lái xe hãy “Thả lỏng” khi cầm vô lăng. Điều ấy không thể thực hiện được. Chỉ sau khi bạn biết cách làm việc đó thật cẩn thận thì bạn mới có thể bắt đầu thả lỏng được. Vì thế, tôi đã không làm theo cái lời khuyên thả lỏng lặp đi lặp lại này.
Để giúp chúng tôi “Thả lỏng” người ta ra cho chúng tôi một bài tập: vẽ mà không nhìn vào giấy. Không rời mắt khỏi người mẫu; cứ nhìn cô ấy và đưa các nét trên giấy, mà không cần biết bạn đang làm gì cả.
Một anh chàng nói: “Tôi không thể làm được. Tôi đành phải ăn gian. Tôi cá là mọi người cũng đều ăn gian!”
“Tôi không ăn gian!” tôi lên tiếng.
“Hừ, xạo!” họ nói.
Tôi hoàn thành bài tập và bọn họ đến xem tôi vẽ thế nào. Họ thấy, đúng thật, tôi đã Không ăn gian; ngay từ đầu cái đầu bút chì của tôi đã bị gãy nên chẳng có gì khác ngoài những vết hằn trên giấy.
Khi sửa lại được cái bút chì, tôi thử vẽ một lần nữa. Tôi nhận ra là bức vẽ của tôi có điểm mạnh – một bức vẽ ngộ nghĩnh, cái mạnh kiểu bán-Picasso – nó làm tôi thích thú. Lý do làm tôi thấy hài lòng về bức vẽ đó là, tôi đã hiểu được không thể vẽ tốt theo cách cũ, do đó nó không thể là cách thích hợp, và đó chính là chủ ý của thả lỏng. Tôi đã từng nghĩ “Thả lỏng” đồng nghĩa với “Vẽ những bức tranh thiếu cẩn thận”, hóa ra nó thực sự có nghĩa là thư giãn và không lăn tăn gì về việc cái bức tranh sẽ được vẽ ra như thế nào.
Tôi đã đạt nhiều tiến bộ trong lớp học, và tôi cảm thấy khá dễ chịu. Cho đến trước buổi học cuối cùng, tất cả những người làm mẫu dành cho chúng tôi đều hơi đậm và có thân hình không cân đối lắm; họ là những mẫu vẽ khá thú vị. Nhưng đến buổi cuối, chúng tôi có một người mẫu tóc vàng thật đẹp, cân đối đến mức hoàn hảo. Đó cũng là lúc tôi phát hiện ra mình không còn biết vẽ thế nào nữa: tôi không thể vẽ được cái gì ra hồn giống như cô người mẫu xinh đẹp này! Với những người mẫu khác, nếu bạn có vẽ một bộ phận nào đó hơi to một chút hay hơi nhỏ một chút, thì cũng chẳng gây ra sự khác biệt nào, bởi đằng nào thân hình họ cũng không cân đối rồi. Nhưng khi bạn gắng vẽ một cái gì đó cực kì hài hòa cân đối, thì bạn không thể tự lừa dối mình nữa: nó phải thật chuẩn xác!
Trong thời gian nghỉ giải lao, tôi nghe lỏm được một anh chàng, người thực sự biết vẽ, hỏi cô người mẫu này xem liệu cô ấy có làm mẫu tại nhà không. Cô ấy trả lời có. “Được. Nhưng tôi không có phòng vẽ, nên tôi sẽ phải lo việc ấy trước đã.”
Tôi biết mình có thể học được nhiều ở anh chàng này, và sẽ không bao giờ có một cơ hội khác để vẽ cái cô người mẫu hoàn hảo kia trừ khi tôi làm một điều gì đó. “Thứ lỗi cho tôi,” tôi nói với anh chàng ấy: “Tôi có một phòng ở dưới nhà có thể dùng làm phòng vẽ được.”
Cả hai người đồng ý. Tôi mang vài bức vẽ của anh chàng đó đến cho bạn Jerry xem, nhưng anh ấy chê. “Mấy cái này xoàng lắm,” Jerry nói. Anh ấy cố giải thích tại sao, nhưng tôi không bao giờ thực sự hiểu được.
Cho đến khi bắt đầu học vẽ, tôi chưa bao giờ quan tâm đến đến nghệ thuật. Tôi có rất ít cảm nhận về các tác phẩm nghệ thuật, và cũng chỉ rất hiếm khi thôi, chẳng hạn như lần tôi vào một bảo tàng ở Nhật. Tôi nhìn thấy một bức vẽ trên giấy nâu bằng tre, và với tôi thì cái đẹp của bức tranh là ở chỗ nó được bố trí cân bằng hoàn hảo giữa chỉ vài nét quệt và nền tre – tôi có thể làm cho nó chuyển động qua lại.
Vào mùa hè sau lớp vẽ, tôi đã đến italia tham dự một hội nghị khoa học và thấy là mình muốn xem nhà thờ Sistine[1]. Tôi đã đến nơi rất sớm vào buổi sáng, mua chiếc vé vào cửa đầu tiên, rồi chạy lên các bậc tam cấp ngay khi cửa vừa hé mở. Nhờ thế, tôi đã có được niềm vui khác thường khi ngắm toàn bộ nhà thờ chốc lát, trong sùng kính tĩnh lặng, trước khi có người khác bước vào.
Ngay sau đó khách du lịch đến, những đám đông đi loanh quanh, chuyện trò bằng ngôn ngữ khác nhau, và chỉ trỏ chỗ này chỗ kia. Tôi đi quanh quẩn, nhìn xem trần nhà một lát. Rồi, tôi đưa mắt xuống một chút thì nhìn thấy mấy bức tranh lồng khung rất lớn, và tôi nghĩ: “Chà! Mình chưa bao giờ biết những thứ này!”
Không may là tôi đã để quên cuốn hướng dẫn du lịch của mình ở khách sạn, và tôi tự nhủ: “Mình biết vì sao những bức này chẳng có tiếng tăm gì; chúng chẳng đẹp chút nào”. Nhưng rồi tôi nhìn vào một bức khác, và thốt lên “Úi chà! Đó là một bức tranh đẹp”. Tôi nhìn sang các bức khác nữa. “Bức đó cũng đẹp, bức đấy nữa, nhưng bức kia thì xấu”. Tôi chưa bao giờ nghe về những bức tranh này, dù thế tôi thấy tất cả chúng đều đẹp trừ hai bức.
Tôi đi vào một chỗ gọi là Sala de Raphael – phòng Raphael – và nhận thấy cùng hiện cảnh như thế. Tôi nghĩ: “Raphael không đều tay. Không phải khi nào ông ấy cũng thành công. Đôi khi tranh ông rất đẹp. Đôi khi cũng chỉ tầm tầm”.
Khi về lại khách sạn, tôi xem cuốn hướng dẫn du lịch. Ở phần nói về nhà thờ Sistine: “Phía dưới những bức vẽ của Michelangelo là mười bốn khung tranh của Botticelli, Perugino” – tất cả đều là những họa sĩ vĩ đại – “Và hai bức của người-này-người-nọ, những bức không giá trị lắm”. Với tôi đây là một động viên lớn: tôi cũng có thể nói về sự khác biệt giữa một tác phẩm nghệ thuật đẹp và một tác phẩm xoàng, mà không cần phải có khả năng minh xác nó một cách rạch ròi. Là một nhà khoa học, bạn luôn nghĩ là bạn biết mình đang làm gì, nên bạn có xu hướng không tin một nghệ sĩ, khi anh ta chỉ nói “Cái đó tuyệt”, hoặc “Cái đó xoàng”, mà không thể giải thích cho bạn vì sao, giống như Jerry đã nói về những bức vẽ mà tôi đã mang cho anh ấy xem. Nhưng giờ đến lượt tôi, xì: tôi cũng có thể làm việc đó!
Trong phòng Raphael thì bí mật hóa ra là chỉ có một số bức vẽ là của danh họa vĩ đại này, còn lại là của các học trò. Tôi đã rất thích những bức tranh do Raphael vẽ. Đây là một cú hích mạnh cho sự tự tin của tôi về khả năng thưởng thức nghệ thuật của mình.
Dù sao, anh chàng ở lớp học vẽ và cô người mẫu xinh đẹp kia đã đến nhà tôi một số lần và tôi đã gắng vẽ cô ấy đồng thời học hỏi từ anh ta. Sau rất nhiều thử nghiệm, cuối cùng tôi cũng vẽ được một bức tranh mà tôi cảm thấy thực sự đẹp – đó là bức chân dung bán thân của cô ấy – và tôi đã rất phấn khởi về thành công đầu tiên này.
Tôi đã có đủ tự tin để hỏi anh bạn cũ của mình, Steve Demitriades, xem liệu người vợ xinh đẹp của anh ấy có thể làm mẫu cho tôi vẽ, đáp lại tôi sẽ tặng anh ấy bức chân dung. Anh ấy cười lớn: “Nếu cô ấy chịu phí thời gian làm mẫu cho cậu, thì mình cũng đồng ý, ha, ha, ha.”
Tôi đã vẽ rất cẩn thận bức chân dung của chị ấy, và khi nhìn thấy bức vẽ, Steve đã hoàn toàn bị chinh phục: “Quá tuyệt!” anh ấy thốt lên. “Anh có thể gọi thợ ảnh làm vài bản sao được không? Tôi muốn gửi một bản cho mẹ tôi ở Hy Lạp!” mẹ anh ấy chưa bao giờ nhìn thấy con dâu. Đó là niềm vui lớn đối với tôi, làm tôi nghĩ rằng tôi đã tiến bộ đến mức có người đã yêu thích một trong những bức vẽ của mình.
Một chuyện tương tự đã xảy ra trong một triển lãm nhỏ về hội họa do một anh chàng ở Caltech tổ chức. Tôi đóng góp vào triển lãm hai bức đồ họa và một bức tranh. Anh ấy nói: “Chúng ta phải ghi giá tiền ở các bức vẽ.”
Tôi nghĩ: “Vớ vẩn! Mình có định bán chúng đâu.”
“Việc đó làm cho triển lãm thú vị hơn. Nếu anh không phiền về việc chia tay với chúng, thì hãy cho một cái giá.”
Sau triển lãm, anh bạn đó nói với tôi rằng một cô gái đã mua một trong các bức vẽ của tôi muốn nói chuyện với tôi để tìm hiểu thêm về nó.
Bức vẽ đó có tên “Từ trường mặt trời”. Để vẽ bức tranh đặc biệt này, tôi đã mượn một bức ảnh tuyệt đẹp về những đám khí dâng lên quanh mặt trời do đài quan sát mặt trời ở Colorado chụp. Vì tôi hiểu từ trường của mặt trời đã kéo giữ các đám khí cháy như thế nào, và khi đó tôi đã phát triển một kỹ thuật vẽ các đường từ (nó giống như mái tóc buông chảy của một cô gái), nên tôi muốn vẽ một bức tranh đẹp mà không một họa sĩ nào có thể nghĩ ra để vẽ: những đường từ xoắn bện phức tạp, sát vào nhau ở chỗ này và tản ra ở chỗ kia.
Tôi giải thích tất cả cho cô ấy, và cho cô ấy xem bức ảnh mang lại cho tôi ý tưởng ban đầu.
Cô ấy đã kể với tôi câu chuyện thế này: Cô ấy cùng chồng đến xem triển lãm và cả hai đều rất thích bức tranh đó. “Sao ta không mua bức này nhỉ?” cô ấy gợi ý.
Anh chồng thuộc loại người chẳng bao giờ có thể quyết ngay việc gì. “Để nghĩ thêm một chút xem thế nào,” anh ta nói.
Cô ấy mẩm tính chỉ còn vài tháng nữa là sinh nhật của chồng, nên đã quay lại trong ngày hôm đó và tự mình mua bức tranh.
Tối đó, khi đi làm về, anh chồng trông ỉu xìu. Cuối cùng cô ta cũng hiểu rõ nguồn cơn: anh ấy nghĩ là sẽ rất tuyệt nếu mua bức tranh đó cho vợ, nhưng khi quay lại triển lãm thì người ta nói là bức tranh đã bán rồi. Thế là cô vợ đã có được bức tranh để tạo một bất ngờ thú vị cho chồng trong sinh nhật của anh ấy.
Cái tôi rút ra được từ câu chuyện này là một điều vẫn còn rất mới đối với tôi: Cuối cùng tôi đã hiểu mục tiêu thực sự của nghệ thuật là gì, ít ra là trên những phương diện nhất định. Nó mang lại niềm vui cho ai đó, rất riêng tư. Bạn có thể tạo ra một sản phẩm mà ai đó yêu thích nhiều đến mức họ buồn nản, hay họ hạnh phúc, là do cái thứ chết tiệt mà bạn làm ra đó! Trong khoa học, nó là một kiểu khái quát và mở rộng: bạn không trực tiếp biết được cụ thể những cá nhân đã cảm thụ tác phẩm ấy.
Tôi đã hiểu rằng việc bán tranh không phải để kiếm tiền, mà để đảm bảo là bức vẽ sẽ hiện diện trong nhà của một ai đó thực sự muốn có nó, một ai đó cảm thấy buồn nếu không có nó. Điều này thật thú vị.
Thế là tôi quyết định bán các bức tranh của mình. Nhưng tôi không muốn người ta mua tranh của tôi vì một giáo sư vật lý thường được cho là không biết vẽ, không thể vẽ tuyệt vời như thế, nên tôi đã lấy một cái tên giả. Anh bạn Dudley Wright của tôi gợi ý “Au Fait” có nghĩa là “Đã xong” trong tiếng Pháp. Tôi đánh vần từ này O-F-E-Y, nó hóa ra lại là cái tên mà người da đen dùng để chỉ “Dân da trắng”. Nhưng suy cho cùng, tôi là một người da trắng, nên cái tên đó cũng ổn.
Một trong những người mẫu của tôi muốn tôi vẽ cho cô ấy một bức, nhưng lại không có tiền. (người mẫu không có tiền; nếu có tiền thì họ đã chẳng làm mẫu vẽ.) Cô ấy đề nghị sẽ làm mẫu ba lần không lấy tiền nếu tôi vẽ cho cô ấy một bức.
“Ngược lại,” tôi nói. “Tôi sẽ tặng cô ba bức vẽ nếu cô làm mẫu miễn phí một lần.”
Cô ấy treo lên tường trong căn phòng nhỏ của mình một trong các bức vẽ mà tôi tặng, và ít lâu sau anh bạn trai của cô ta đã nhận ra nó. Anh chàng thích bức tranh đến mức muốn đặt vẽ một bức chân dung cô bạn gái. Anh ta sẽ trả tôi sáu mươi đô la. (Lúc ấy số tiền đó là được đấy).
Rồi cô ấy nảy ra ý tưởng làm đại lý cho tôi: Cô ấy sẽ kiếm thêm được ít tiền bằng cách đi loanh quanh bán những bức vẽ của tôi, giả như: “Có một họa sĩ mới ở Altadena…” hiện diện ở một thế giới khác là một việc rất ngộ! Cô ấy đã thu xếp để một vài bức vẽ của tôi được trưng bày ở Bullock, cửa hàng tổng hợp đẹp nhất ở Pasadena. Cô ấy và một cô ở gian hàng nghệ thuật chọn ra mấy bức vẽ – những bức về cây cối mà tôi đã vẽ khi mới học (những bức tôi không thích lắm) – và lồng chúng vào khung. Sau đó tôi nhận được một tài liệu có chữ ký của Bullock nói rằng họ có những bức vẽ này nọ đang được kí gửi. Tất nhiên là chẳng ai mua bức nào cả, nhưng dù sao tôi đã thành công lớn: tôi đã có tranh bán ở Bullock! Thật vui khi có tranh ở đó, chính nhờ thế một ngày kia tôi có thể nói rằng mình đã đạt đến đỉnh điểm của thành công trong thế giới hội họa.
Phần lớn những người mẫu tôi có được là nhờ Jerry, nhưng tôi cũng đã thử tìm người mẫu theo cách của mình. Bất cứ khi nào tôi gặp một phụ nữ trẻ, nhìn có vẻ như đang quan tâm đến hội họa, là tôi đề nghị cô ấy làm mẫu cho mình. Câu chuyện luôn kết thúc bằng việc tôi vẽ mặt của cô ấy, bởi tôi không biết một cách chính xác làm thế nào để dẫn đến chủ đề làm mẫu khỏa thân. Một lần, khi đang ở chỗ Jerry, tôi đã nói với vợ anh ấy, Dabney: “Tôi chưa bao giờ có thể làm cho các cô gái đồng ý làm mẫu khỏa thân: tôi không biết Jerry làm việc đó thế nào!”
“Thế à, thế anh đã bao giờ hỏi họ chưa?”
“Ồ! Tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc đó.”
Cô gái tiếp theo tôi gặp và muốn nhờ làm người mẫu là một sinh viên Caltech. Tôi đã hỏi xem liệu cô ấy có làm mẫu khỏa thân không. “Tất nhiên rồi,” cô gái nói, và thế là xong! Thì ra việc đó cũng dễ. Tôi đồ là ở sâu trong tâm trí tôi có quá nhiều thứ làm tôi nghĩ rằng việc hỏi như vậy là có gì đó chưa ổn.
Cho đến nay tôi đã vẽ rất nhiều tranh, và tôi đã trở nên thích vẽ tranh khỏa thân nhất. Với tất cả những gì tôi biết, thì nó không hoàn toàn chính xác là nghệ thuật; nó là một sự pha trộn. Ai biết tỷ lệ phần trăm là bao nhiêu?
Một người mẫu mà tôi biết qua Jerry đã từng là người mẫu của tạp chí Playboy. Cô ấy cao và rất đẹp. Nhìn thấy cô ấy, bất kì người con gái nào trên thế giới này cũng đều cảm thấy ghen tỵ. Thế nhưng cô ấy lại nghĩ là mình quá cao. Khi bước vào phòng, cô ấy phải hơi cúi xuống. Tôi đã gắng bảo cô ấy, mỗi khi cô làm mẫu, hãy đứng thẳng lên, bởi vì cô rất tao nhã và nổi trội. Cuối cùng tôi đã thuyết phục được cô ấy về điều đó.
Rồi cô ấy lại có một phiền muộn khác: có những “Chỗ lõm” ở cận bụng dưới. Tôi phải lấy một cuốn sách giải phẫu để chỉ cho cô ấy thấy đó chỉ là sự liên kết của các cơ với xương hông, và giải thích cho cô ấy là không phải ở người nào cũng có thể nhìn thấy những vết lõm ấy đâu. Để nhìn được chúng, các phần của cơ thể phải rất chuẩn xác, cân đối hài hòa một cách hoàn hảo, giống như cô ấy. Từ cô ấy, tôi đã biết được là, người phụ nữ nào cũng buồn phiền về dung nhan của mình, cho dù cô ta có đẹp đến thế nào đi nữa.
Tôi muốn vẽ một bức tranh màu của cô người mẫu này, vẽ bằng phấn màu, chỉ là để thử nghiệm. Tôi nghĩ đầu tiên nên phác họa bằng than chì, rồi sau đó phủ bằng phấn màu. Khi vẽ xong bức phác họa than chì, cái phác họa mà khi vẽ tôi đã chẳng hề quan tâm gì về việc nó sẽ trông như thế nào, thì hóa ra nó lại là một trong những bức họa đẹp nhất mà tôi đã từng vẽ được. Tôi quyết định cứ để nó thế, và quên luôn việc tô phấn màu cho bức vẽ.
“Đại lý” của tôi đã xem bức tranh và muốn mang nó đi.
“Cô không thể bán bức đó,” tôi nói: “Nó vẽ trên giấy in báo ấy mà.”
“Ồ, không sao,” cô ấy đáp.
Vài tuần sau cô ấy quay lại mang theo bức tranh đã được lồng trong khung gỗ rất đẹp có nẹp đỏ và viền vàng. Nói chung, cái trò buồn cười này làm cho các họa sĩ kém vui – một bức vẽ được nâng cấp lên bao nhiêu khi bạn bao nó bằng một cái khung. Đại lý của tôi cho biết một quý bà kiểu cách đã mê tít bức vẽ đó và họ đã mang nó đến chỗ một người làm khung tranh. Người thợ khung nói với họ rằng có những kỹ thuật đặc biệt để gắn những bức vẽ trên giấy in báo: phủ nó bằng một chất dẻo, làm cái này, làm cái kia. Thế là quý bà đó đã cho thực thi tất cả các công đoạn ấy với bức tranh mà tôi đã vẽ này, và sau đó bảo đại lý của tôi mang nó về lại cho tôi xem. “Tôi nghĩ ông họa sĩ muốn nhìn thấy bức tranh đáng yêu như thế nào, khi được lồng trong khung,” quý bà ấy nói.
Chắc chắn là tôi muốn rồi. Đó là một ví dụ khác về niềm vui bộc trực mà ai đó đã có được từ một trong những bức tranh của tôi. Vì thế, đó là một động lực thực sự cho việc bán tranh.
Có thời gian trong thành phố có những nhà hàng bán khỏa thân: bạn có thể đến đó dùng bữa trưa hay bữa tối, các cô gái khiêu vũ để trần nửa người phía trên, và sau một lát thì trên người chẳng còn gì nữa. Một trong những điểm như thế hóa ra chỉ cách nhà tôi khoảng một dặm rưỡi, nên tôi đã đến đó rất thường xuyên. Tôi thường ngồi ở một trong những cái quầy và nhào nặn vật lý đôi chút trên những miếng giấy lót đĩa có đường viền trang trí, và đôi khi tôi cũng vẽ một vũ nữ hay một khách hàng nào đó, chỉ là để luyện tập.
Vợ tôi, gweneth, một người Anh, có quan điểm rất thoáng về việc tôi đến nơi này. Cô ấy nói rằng: “Những người đàn ông Anh có các câu lạc bộ để họ lui tới.” Thế nên cái nhà hàng đó cũng như là một câu lạc bộ của tôi.
Có những bức tranh treo đâu đó trong nhà hàng, nhưng tôi không thích chúng lắm. Chúng là những mảng màu sáng rực trên nền nhung đen – nhìn rất khó chịu – một cô gái đang cởi cái áo len cổ chui, hay gì đó. Mà, tôi có một bức tranh khá đẹp vẽ cô Kathy, người mẫu của mình, nên tôi đã đưa nó cho ông chủ nhà hàng để treo trên tường, và ông ấy rất thích.
Việc tặng ông chủ nhà hàng bức tranh đó hóa ra lại đưa đến những hệ quả hữu ích. Chủ nhà hàng trở nên rất thân thiện với tôi và thường xuyên mời tôi đồ uống miễn phí. Giờ thì, mỗi lần tôi đến nhà hàng đó, một nữ tiếp viên lại mang cho tôi một 7 up miễn phí. Tôi xem các cô gái nhảy nhót, nhào nặn vật lý tí chút, chuẩn bị bài giảng, hay vẽ dăm ba đường nét. Nếu thấy hơi mệt, thì tôi xem các trò giải trí một lát, rồi lại làm việc thêm một lát. Ông chủ biết tôi không muốn bị quấy rầy, nên nếu có anh chàng say xỉn nào đến gần và bắt chuyện với tôi, thì ngay lập tức một nữ tiếp viên xuất hiện và đưa anh ta đi ra. Khi nào có một cô gái muốn gây ấn tượng, ông ấy thường tỉnh như không có gì. Chúng tôi có mối quan hệ rất tốt đẹp. Tên ông ấy là Gianonni.
Một hệ quả khác của bức tranh trình diễn trên tường của tôi là người ta thường hỏi ông chủ về nó. Một hôm, một anh chàng đến gặp tôi và nói: “Giannoni nói với tôi là anh đã vẽ bức tranh kia.”
“Đúng vậy”
“Tốt quá. Tôi muốn đặt hàng một bức vẽ.”
“Tốt thôi. Anh muốn vẽ cái gì?”
“Tôi muốn có bức tranh về một nữ đấu sĩ bò tót khỏa thân đang đối mặt với con bò tót đầu người.”
“Thế à, ừ, liệu anh có thể cho tôi biết anh định dùng bức tranh vào mục đích gì, điều đó sẽ giúp tôi ít nhiều khi vẽ nó.”
“Tôi muốn có bức tranh đó cho cở sở kinh doanh của mình.”
“Cơ sở kinh doanh gì vậy?”
“Dùng cho tiệm massage: anh biết đấy, các phòng riêng, các nhân viên xoa bóp – hiểu ý chứ?”
“Vâng, tôi hiểu.” Tôi không muốn vẽ hình một nữ đấu sĩ khỏa thân đang đối mặt với một con bò tót đầu người, nên đã cố gắng thuyết phục để anh ta từ bỏ ý định đó. “Anh nghĩ sao về phản ứng của khách hàng, và nó sẽ làm cho các cô gái cảm thấy thế nào? Bọn đàn ông vào tiệm và anh làm cho họ bị kích thích bởi bức tranh như thế. Liệu đó có phải là cách anh muốn họ đối xử với các cô gái không?” Anh ta chưa bị thuyết phục.
“Thế nếu cảnh sát đến và nhìn thấy bức tranh ấy, còn anh thì quả quyết đó là tiệm massage.”
“Rồi, Rồi,” anh ta nói; “Anh đúng, tôi nên thay đổi. Tôi muốn có một bức tranh, mà nếu cảnh sát nhìn thấy, thì nó rất phù hợp cho một tiệm massage, còn khi khách hàng nhìn vào, thì nó gợi mở những ý tứ sâu xa.”
“Được thôi,” tôi nói. Chúng tôi thoả thuận giá của bức vẽ là sáu mươi đô la, và tôi bắt đầu công việc. Trước tiên tôi phải nghĩ xem sẽ vẽ nó như thế nào. Tôi nghĩ đi nghĩ lại, và tôi thường cảm thấy có lẽ tốt hơn là tôi đã vẽ cô gái đấu bò tót khỏa thân ngay từ ban đầu.
Cuối cùng tôi đã nghĩ ra cách thức vẽ bức tranh đó: Tôi sẽ vẽ một nữ nô lệ thời Rome trong tưởng tượng, đang mát-xa cho một nhân vật La Mã quan trọng – một nguyên lão chẳng hạn. Vì là nô lệ, cô ấy có một vẻ mặt đặc trưng. Cô ấy biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo, và có dáng vẻ của một người cam chịu.
Tôi đã bỏ rất nhiều công sức cho bức vẽ này. Tôi lấy Kathy làm mẫu. Sau đó, tôi dùng một mẫu khác để vẽ người đàn ông. Tôi đã làm nhiều thử nghiệm và chẳng lâu sau chi phí cho các người mẫu đã lên tới tám mươi đô la. Tôi không quan tâm đến tiền; tôi thích cái thách thức của việc thực thi một đơn đặt hàng. Cuối cùng, tôi đã đi đến quyết định về bức tranh một người đàn ông cơ bắp nằm trên bàn với một nữ nô lệ đang mát-xa cho ông ta: cô gái mang một kiểu áo choàng rộng che một bên ngực – bên kia để trần – và tôi đã thể hiện rất đạt cái vẻ cam chịu trên khuôn mặt của cô ấy.
Khi tôi đã gần như sẵn sàng chuyển cái cục cưng đặt hàng của mình cho tiệm massage đó thì Gianonni nói với tôi là anh chàng ấy đã bị bắt và đang ở trong nhà giam. Vì thế, tôi đã hỏi các cô gái ở nhà hàng bán khỏa thân xem liệu họ có biết tiệm mát-xa kha khá nào ở quanh Pasadena muốn treo bức vẽ của tôi ở tiền sảnh.
Họ cho tôi tên và địa chỉ của các tiệm ở nội thành cũng như phụ cận Pasadena và dặn tôi một số điều như “Khi anh đến tiệm mát-xa này-nọ, hãy hỏi Frank – anh ấy là một người dễ mến. Nếu anh ấy không có ở đó thì đừng vào”. Hoặc “Đừng nói chuyện với Eddie. Eddie chẳng bao giờ hiểu nổi giá trị của một bức tranh đâu”.
Hôm sau, tôi cuộn bức tranh lại, để nó ở phía sau cái xe thùng, và vợ tôi chúc tôi may mắn khi tôi khởi hành tới các nhà chứa ở Pasadena để bán bức tranh của mình. Ngay trước khi đến địa chỉ đầu tiên trong danh sách, tôi chợt nghĩ: “Này anh bạn, trước khi đến một nơi nào khác, mình phải kiểm tra cái tiệm của anh chàng kia. Có thể nó vẫn hành nghề, và có khi người quản lý mới muốn có bức vẽ của mình”. Tôi đến đó và gõ cửa. Cửa hé ra một chút, và tôi nhìn thấy mắt của một cô gái. “Chúng tôi có quen anh không nhỉ?” cô ta hỏi.
“Không, cô không biết tôi đâu. Cô có muốn một bức tranh phù hợp để treo ở tiền sảnh không?”
“Tôi xin lỗi,” cô ta đáp: “Mà chúng tôi đã hợp đồng với một họa sĩ để vẽ một bức cho mình rồi, và anh ấy đang vẽ.”
“Tôi là họa sĩ đó,” tôi nói: “Và bức tranh của cô đã vẽ xong!” hóa ra là, khi chuẩn bị vào nhà giam, anh chàng kia đã nói với vợ mình về thoả thuận của chúng tôi. Thế là tôi đi vào và cho họ xem bức vẽ.
Cô vợ và chị gái của anh chàng kia, những người hiện đang điều hành tiệm, không thích bức vẽ lắm; họ muốn để cho các cô gái xem.
Tôi treo bức tranh lên tường ở tiền sảnh, và tất cả các cô gái đi ra từ các phòng khác nhau ở phía sau và bắt đầu đưa ra những nhận xét.
Một cô nói là mình không thích vẻ mặt của nữ nô lệ. “Cô ấy trông không hạnh phúc,” cô gái nói. “Cô ấy nên cười mới đúng.”
Tôi hỏi cô ta: “Hãy nói cho tôi biết, khi cô đang mát-xa cho một gã mà hắn không thèm nhìn cô thì cô có cười được không?”
“Ồ, không!” cô gái đáp. “Tôi cảm thấy đúng như vẻ mặt của cô ấy! Nhưng vẽ điều đó lên tranh thì không ổn.”
Tôi để lại bức tranh cho họ, nhưng sau một tuần cân nhắc, họ đã quyết định là không muốn có nó. Hoá ra là, nguyên do thực làm họ không muốn có bức tranh lại là một bên ngực để trần. Tôi đã cố giải thích rằng bức vẽ của tôi đã giảm nhẹ rất nhiều so với yêu cầu ban đầu, nhưng họ nói rằng về điều đó thì suy nghĩ của họ khác với của anh chàng kia. Tôi nghĩ, thật là trớ trêu đến hài hước khi những người quản lý một chỗ như thế này mà lại làm ra vẻ khó chịu về một bên ngực để trần, và tôi đã mang bức vẽ về nhà.
Anh bạn doanh nhân Dudley Wright của tôi nhìn thấy bức tranh và tôi đã kể với anh ấy câu chuyện về nó. Anh ấy bảo: “Ông phải gấp ba lần giá của nó lên. Với một tác phẩm nghệ thuật, không ai thực sự dám chắc về giá trị của nó, nên người ta thường nghĩ, ‘nếu đắt hơn, thì hẳn là nó có giá trị hơn!’”
Tôi nói: “Ông hơi không bình thường đấy!” nhưng, chỉ để cho vui, tôi mua một cái khung hai mươi đô la và lồng bức vẽ vào, và thế là nó sẵn sàng cho các khách hàng tiếp theo.
Một người làm nghề dự báo thời tiết đã nhìn thấy bức tranh mà tôi đã tặng Gianonni và hỏi xem tôi có những bức khác không. Tôi mời ông ấy cùng vợ đến “Phòng vẽ” ở dưới nhà, và họ hỏi về bức tranh vừa mới vào khung. “Bức đó hai trăm đô la”. (Tôi nhân sáu mươi với ba và cộng thêm hai mươi đô tiền khung.) hôm sau họ quay lại và mua bức tranh đó. Vậy là bức vẽ dành cho một tiệm mát-xa cuối cùng lại hiện diện ở phòng làm việc của một người dự báo thời tiết.
Một hôm, một cảnh sát bất ngờ khám xét nhà hàng của Gianonni, và một số vũ nữ đã bị bắt. Có ai đó muốn dẹp các buổi khiêu vũ bán khỏa thân của Gianonni, nhưng ông ấy không muốn. Vì thế đã có một phiên tòa lớn về việc này; câu chuyện xuất hiện trên tất cả các tờ báo địa phương.
Gianonni đi gặp tất cả các khách hàng của mình và hỏi xem liệu họ có thể làm chứng để ủng hộ ông ấy. Mọi người đều cáo lỗi: “Tôi đang điều hành một khu trại, nếu các bậc phụ huynh biết là tôi lui tới một nơi như thế, thì họ sẽ không gửi con cháu mình đến trại của tôi nữa…” hoặc: “Tôi đang làm việc này nọ, nếu chuyện tôi đến đó được công bố rộng rãi thì chúng tôi sẽ mất hết khách hàng.”
Tôi tự nhủ: “Chỉ có mình là người tự do ở đây. Mình chẳng có gì để cáo lỗi cả! Mình thích chỗ này, và muốn thấy nó tiếp tục hoạt động. Mình chẳng thấy có gì sai với khiêu vũ bán khỏa thân cả.” Vì vậy, tôi nói với Gianonni: “Được, tôi sẽ sẵn sàng làm chứng.”
Một câu hỏi lớn ở tòa án là liệu khiêu vũ bán khỏa thân có được cộng đồng chấp nhận không – liệu nó có phù hợp với các chuẩn mực của cộng đồng không?
Luật sư biện hộ cố biến tôi thành một chuyên gia về các chuẩn mực cộng đồng. Ông ấy hỏi tôi đã đến các quán bar khác chưa.
“Đã đến.”
“Thế thường thường anh đến quán của Gianonni mấy lần một tuần?”
“Năm hoặc sáu lần một tuần.” (Điều này được ghi thành văn bản: một giáo sư vật lý ở Caltech đến xem khiêu vũ bán khỏa thân sáu lần một tuần.)
“Những thành phần nào của cộng đồng đã hiện diện ở quán của Gianonni?”
“Gần như đủ mọi thành phần: những người kinh doanh bất động sản, một người làm việc ở hội đồng chính quyền thành phố, những nhân viên của một trạm xăng, những người làm việc ở các công ty kỹ thuật, một giáo sư vật lý…”
“Vậy, từ sự thật là rất nhiều thành phần của cộng đồng vẫn đang xem và thưởng thức các buổi biểu diễn bán khoả thân, liệu anh có thể nói rằng hình thức biểu diến này đang được cộng đồng chấp nhận hay không?”
“Tôi cần biết anh ngụ ý gì khi nói ‘cộng đồng chấp nhận’. Chẳng có cái gì lại được mọi người đều chấp nhận cả, nên để một điều gì đó được xem là ‘cộng đồng chấp nhận’ thì tỉ lệ phần trăm dân cư chấp nhận điều đó phải là bao nhiểu?.”
Vị luật sư đó đề xuất một con số. Luật sư khác phản đối. Tòa tuyên bố giải lao, và tất cả họ đi vào phòng quan toà trong khoảng 15 phút trước khi họ có thể đưa ra quyết định rằng ‘cộng đồng chấp nhận’ nghĩa là phải được 50% dân chúng tán thành.
Mặc dù thực tế là tôi đã làm cho họ thành cẩn mực và chuẩn xác, nhưng tôi lại không có con số chính xác để làm bằng chứng, nên tôi đã nói: “Tôi tin là khiêu vũ bán khỏa thân được trên 50% dân chúng chấp nhận, và do đó nó được cộng đồng chấp nhận.”
Gianonni tạm thời thua trong vụ đó, nhưng vụ của ông ấy và một vụ khác rất giống như thế, cuối cùng đã chuyển lên Tòa án Tối cao. Trong thời gian chờ đợi, quán của ông ấy vẫn mở và tôi vẫn nhận thêm các 7 up miễn phí.
Khoảng thời gian đó có những nỗ lực gây dựng mối quan tâm đến nghệ thuật ở Caltech. Một người đã đóng góp tiền để chuyển đổi một tòa nhà thực vật chí cũ thành các studio nghệ thuật. Người ta mua dụng cụ và nguyên vật liệu để cho sinh viên dùng. Họ thuê một họa sĩ từ nam phi đến để tổ chức và trợ giúp các hoạt động nghệ thuật ở Caltech.
Nhiều người đã đến để dạy các lớp học. Tôi mời Jerry Zorthian dạy lớp vẽ. Một ai đó đến dạy thuật in đá, tôi đã thử học môn này.
Anh chàng họa sĩ nam phi đã đến nhà tôi một lần để xem các bức tranh của tôi. Anh ấy đã nói là theo anh ta thì việc tổ chức một triển lãm cá nhân có lẽ sẽ rất thú vị. Lần này tôi đã ăn gian rồi: nếu tôi không phải là một giáo sư ở Caltech, người ta có lẽ chẳng bao giờ nghĩ tranh của tôi xứng đáng với một triển lãm như thế.
“Một số bức đẹp hơn của tôi đã bán rồi, và tôi cảm thấy không tiện điện thoại cho những người đã mua chúng” tôi nói.
“Ông không phải lo lắng gì cả, ông Feynman,” anh ấy trấn an tôi. “Ông không phải gọi cho họ. Chúng tôi sẽ thu xếp mọi việc và điều hành triển lãm một cách chính thức và bài bản.”
Tôi đưa cho anh ấy danh sách những người đã mua tranh của mình, và chẳng lâu sau anh ta đã điện thoại cho họ: “Chúng tôi được biết là ngài đang có một bức Ofey.”
“Ồ, đúng thế!”
“Chúng tôi đang có kế hoạch tổ chức một triển lãm tranh Ofey và chúng tôi không biết liệu ngài có thể xem xét việc cho chúng tôi mượn bức tranh đó.” Tất nhiên là họ rất hài lòng rồi.
Triển lãm được tổ chức ở tầng hầm của toà nhà thư viện, câu lạc bộ giáo viên Caltech. Tất cả đều như thật: tất cả các bức vẽ đều có tiêu đề, và những bức được ký gửi từ những người sở hữu chúng đều có ghi nhận: “Mượn của ông Gianonni” chẳng hạn.
Một bức là chân dung của cô người mẫu tóc vàng xinh đẹp ở lớp học vẽ, mà tôi vốn định xem như một bài thực tập về đánh bóng: tôi đặt một cái đèn ngang chân cô ấy dịch ra một chút và hướng nó lên trên. Khi cô ấy ngồi, tôi đã gắng vẽ những mảng bóng tối như trong thực tế – mũi cô ấy làm rớt cái bóng của nó ngang qua khuôn mặt không được tự nhiên lắm – dù sao chúng nhìn cũng không đến nỗi nào. Tôi đã vẽ cả phần thân trên của cô ấy, nên bạn cũng có thể nhìn thấy ngực của cô và hai cái bóng của chúng. Tôi đính bức đó với những bức khác trong triển lãm và đặt cho nó cái tên “Quý bà Curie[2] đang quan sát phóng xạ Radi”. Tôi muốn truyền đi một thông điệp là không ai nghĩ về bà Curie như một người phụ nữ, như một người đàn bà, với mái tóc đẹp, ngực trần và tất cả những thứ như thế. Họ chỉ nghĩ về cái phần radi.
Một nhà thiết kế công nghiệp nổi tiếng, tên là henry Dreyfuss, đã mời một số người tới dự tiệc ở nhà ông ấy sau triển lãm – người phụ nữ đã góp tiền ủng hộ nghệ thuật, hiệu trưởng của Caltech cùng vợ ông ấy, và vân vân…
Một trong số những người yêu nghệ thuật này đi đến và bắt chuyện với tôi: “Giáo sư Feynman, xin ông cho tôi biết, ông đã vẽ theo ảnh chụp hay theo người mẫu thật?”
“Tôi luôn vẽ trực tiếp theo người mẫu.”
“Thế à, làm thế nào mà ông có được bà Curie làm mẫu cho mình nhỉ?”
Khoảng thời gian đó, bảo tàng nghệ thuật quận Los Angeles có ý tưởng tương tự như của tôi về việc các họa sĩ rất khó khăn trong việc hiểu được khoa học. Ý của tôi là các họa sĩ không hiểu được tính khái quát và vẻ đẹp cố hữu của tự nhiên cũng như các qui luật của nó (và do đó họ không thể miêu tả điều này trong bức tranh của mình). Ý tưởng của bảo tàng là các họa sĩ nên biết nhiều hơn về công nghệ: họ cần phải quen với máy móc và những ứng dụng khác của khoa học.
Bảo tàng nghệ thuật này đã tổ chức một chương trình trong đó họ mời một số họa sĩ thực sự có tiếng ngày ấy đi đến những công ty, là những nơi đã tình nguyện đóng góp cả thời gian và tiền bạc cho dự án. Các họa sĩ sẽ thăm các công ty này và lẳng lặng tìm kiếm cho đến khi họ thấy được cái gì đó thú vị, mà họ có thể dùng vào tác phẩm của mình. Bảo tàng cho rằng sẽ thật bổ ích nếu có ai đó hiểu biết đôi điều về công nghệ có thể đóng vai trò kiểu như liên lạc giữa các nghệ sĩ trong suốt thời gian họ thăm các công ty. Vì họ biết tôi có thể giải thích tốt các vấn đề về công nghệ cho mọi người và tôi cũng không hoàn toàn mù tịt về hội họa (thật ra, tôi nghĩ họ biết tôi đang gắng học vẽ) – dù sao, họ đã hỏi xem liệu tôi có muốn đóng vai trò ấy không, và tôi đã đồng ý.
Có rất nhiều chuyện vui trong khi đi thăm các công ty với các họa sĩ. Chuyện thường xảy ra là, một người nào đó chỉ cho chúng tôi một cái ống phóng tia lửa điện với các hoa văn màu xanh xoắn bện rất đẹp. Các họa sĩ đều thích thú và hỏi tôi làm thế nào họ có thể dùng nó cho triển lãm. Điều kiện cần thiết để cho nó hoạt động là gì?
Các họa sĩ là những người rất thú vị. Một vài trong họ là những kẻ mạo danh trăm phần trăm: họ thường rêu rao mình là họa sĩ, và mọi người đã nghĩ rằng họ là họa sĩ, nhưng khi bạn ngồi và nói chuyện với họ, thì họ tuyệt nhiên không nói được điều gì có nghĩa cả! Đặc biệt có một tay, một siêu giả mạo, luôn ăn mặc lập dị. Anh ta có một cái mũ quả dưa lớn màu đen. Anh ta thường trả lời các câu hỏi của bạn theo cách không thể nào hiểu được, và khi bạn muốn tìm hiểu thêm về những điều anh ta đã nói bằng cách hỏi lại một vài từ anh ta đã dùng, thì câu chuyện sẽ chuyển ngay sang hướng khác. Rốt cục, đóng góp duy nhất của anh ta vào triển lãm về hội họa và công nghệ là bức chân dung của chính mình.
Những họa sĩ khác mà tôi đã nói chuyện thì thường thoạt đầu nói những điều vô nghĩa, mà họ thường giải thích các ý tưởng của mình cho tôi bằng cách hết sức dài dòng. Có lần tôi đi với Robert Irwin đến một nơi, cũng nằm trong chương trình này. Đó là một chuyến đi hai ngày, và sau rất nhiều nỗ lực thảo luận đi thảo luận lại, cuối cùng tôi mới hiểu được điều anh ấy cố gắng giải thích. Tôi đã nghĩ điều đó khá là kì lạ và thú vị.
Lại có những họa sĩ hoàn toàn không có một ý niệm nào về thế giới thực. Họ nghĩ rằng các nhà khoa học là một dạng ảo thuật gia tầm cỡ, những người có thể làm ra mọi thứ, và họ thường nói những điều như: “Tôi muốn tạo ra một bức tranh ba chiều nơi bức tranh lơ lửng trong không gian, nó đỏ rực và loé sáng”. Họ tạo ra cái thế giới mà họ muốn, không có một ý niệm nào về việc cái thế giới ấy có hợp lý hay không.
Cuối cùng thì đã có một triển lãm và tôi được mời tham gia hội đồng đánh giá các tác phẩm nghệ thuật. Mặc dù có một số tác phẩm tốt, được lấy cảm hứng từ những chuyến thăm các công ty của các họa sĩ, tôi nghĩ là hầu hết các tác phẩm có giá trị là các tác phẩm được nộp vào phút chót do đã hết hạn, và thực sự chúng chẳng có gì liên quan đến công nghệ cả. Tất cả các thành viên khác của hội đồng đã không nhất trí với ý kiến đó, và tôi thấy mình hơi bị bí. Tôi đâu phải giỏi giang gì trong phê bình hội họa, và lẽ ra tôi không nên tham gia hội đồng ngay từ ban đầu.
Trong bảo tàng nghệ thuật quận có một anh bạn tên là Maurice Tuchman, người thực sự biết mình đang nói gì khi bàn về hội họa. Anh ấy biết tôi đã có một triển lãm riêng ở Caltech. Anh ta nói “Anh biết không, anh sẽ không bao giờ vẽ lại nữa đâu.”
“Gì cơ? Vớ vẩn! Sao tôi lại không bao giờ…”
“Bởi vì anh đã có một triển lãm riêng, và anh chỉ là một họa sĩ nghiệp dư.”
Mặc dù sau đó tôi vẫn vẽ, nhưng tôi không bao giờ vẽ cần mẫn với cùng sức lực và cường độ như trước kia. Tôi cũng không bao giờ bán tranh nữa. Maurica là một người thông minh, và tôi đã học được rất nhiều ở anh ấy. Lẽ ra tôi đã học được nhiều hơn nữa, nếu tôi không quá bướng bỉnh!
❀ ❀ ❀
[1] Nhà thờ nổi tiếng ở Vatican nơi có rất nhiều tác phẩm hội họa được vẽ ở tường và mái vòm. (ND)
[2] Marie Curie (1867-1934), nhà vật lý và hóa học người Pháp gốc Ba Lan nổi tiếng với các công trình nghiên cứu về phóng xạ và là người duy nhất đã được trao cả giải Nobel Vật lý và hóa học.(ND)