Jared Cohen túa mồ hôi. 27 tuổi, làm việc trong bộ phận kế hoạch chính sách của Bộ Ngoại giao, có khả năng nhắn tin nhanh như suy nghĩ mỗi lúc tìm ra hướng giải quyết công việc trong phạm vi quyền hạn của mình; và anh ta ít khi nghi ngờ năng khiếu đó của mình. Phần lớn những nhà chính trị đỉnh cao đều có phương châm là hãy tìm kiếm sự khoan dung hơn là sự cho phép. Bill và Hillary Clinton cũng áp dụng phương châm tương tự: “Tốt nhất là nên được bắt gặp khi đang cố gắng.” Với tinh thần đó, Cohen đã táo bạo vén bức màn đằng sau vụ Chính phủ Mỹ kết nối với các nhà cách mạng Iran thông qua các nhà quản trị mạng Twitter, những người đã hỗ trợ chiến dịch đó. Nhưng khi làm như vậy, anh đã vô tình đặt Bộ Ngoại giao Mỹ vào thế đối lập với tổng thống, và cũng khiến sự nghiệp của bản thân rơi vào mạo hiểm.
Ngày 13 tháng Sáu năm 2009, sau đó đã trở thành ngày của Phong trào Xanh, những người Iran tranh đấu đã tập trung trên đường phố và trên mạng để đặt vấn đề về tính hợp pháp của việc Mahmoud Ahmadinejad tái đắc cử. Hai ngày sau, Mir Hussein Moussavi, lãnh đạo phe đối lập nhận ra rằng: Twitter đang lên kế hoạch tạm ngừng hoạt động trong vòng 90 phút để bảo trì định kỳ trước 1h sáng, theo giờ Bờ Đông của Mỹ. Điều này đồng nghĩa với việc người dân Iran sẽ không thể sử dụng các diễn đàn thông tin xã hội – phương tiện được xem là một công cụ tổ chức mấu chốt – để liên lạc trong khoảng từ 8 giờ 45 đến 10 giờ 15 tại Tehran. Lo ngại điều này sẽ làm mất đi động lực của phong trào, Moussavi đã gửi đi tin nhắn Tweet về điều đó.
Cohen đọc được tin nhắn Tweet đó, và không nghĩ đến hậu quả, đã vội gửi ngay một e-mail ngắn cho Jack Dorsey, bạn thân của anh và là người sáng lập Twitter. “Liệu cậu có thể làm gì đó trong thời điểm này để hỗ trợ cho người Iran chứ không chỉ vì người Mỹ?” Cohen viết. Nếu không, những người Iran tranh đấu sẽ mất đi cơ hội liên lạc với cả trong và ngoài nước.
“Để tôi xem đã,” Dorsey trả lời, và hứa sẽ hỏi nhóm Twitter xem liệu có thể giúp gì được không.
Cohen có dáng vóc mảnh khảnh, mái tóc xoăn đen và đôi mắt xanh biếc thường sáng lên mỗi khi nói về những ý tưởng mới. Anh sinh ra ở Weston, Connecticut, vùng ngoại ô New York giàu có, nơi mà thu nhập trung bình lên đến 200.000 đô-lanăm. Anh tốt nghiệp Đại học Stanford và học tiếp tại Oxford theo học bổng Rhodes. Được Condi Rice bảo trợ trong thời gian cuối nhiệm kỳ Tổng thống Bush, anh xuất hiện như một người nhiều triển vọng có tài quan sát tinh tế, thể hiện qua việc anh rất quan tâm đến hai nguồn trợ giúp có ảnh hưởng lớn với Hillary là Anne-Marie Slaughter và Alec Ross. Họ là những người từng cố gắng triển khai kế hoạch “Tập thể Bộ Ngoại giao thế kỷ XXI” (21st Century Statecraft). Trong kế hoạch này, Bộ Ngoại giao sẽ sử dụng những công cụ hiện đại để kết nối, thậm chí là thay thế ngoại giao truyền thống. Cohen chắc chắn đã rất sáng tạo khi tác động đến Dorsey. Anh đã phải trải qua hai giờ dài như hai thế kỷ, khi chờ đợi câu trả lời.
“Điều đó sẽ không dễ như họ nghĩ,” Dorsey cuối cùng cũng trả lời.
“Bất cứ điều gì anh làm đều sẽ có ích,” Cohen viết trả lời, nhấn mạnh rằng Chính phủ Mỹ đang có nhiều thông tin về những gì đang xảy ra trên Twitter. “Điều này thật sự quan trọng.”
Lệnh cấm vận đơn phương Iran đồng nghĩa với việc hầu như không có bất cứ sự hiện diện nào của người Mỹ hay sứ quán ở Tehran. Mỹ còn có một nhóm nhỏ những người theo dõi Iran từ những quốc gia láng giềng. Họ thu thập tin tức tình báo thông qua các cuộc phỏng vấn những người rời bỏ đất nước. Những người tranh đấu ở Iran cần Twitter hoạt động, và cả những người Mỹ theo dõi Iran cũng vậy. Một lúc sau, Dorsey chuyển tiếp một chuỗi e-mail nội bộ khá dài từ nhóm kỹ thuật của Twitter cho Cohen. Từ quan trọng nhất đã được Dorsey thêm vào ngay đầu trang: “Đã xong”.
Với Cohen, đây là một chiến thắng khó khăn và cũng là một bước tiến cho công cuộc đổi mới ngoại giao. Anh đã âm thầm làm việc với những công ty công nghệ trước cuộc bầu cử của Iran với hy vọng tìm ra cách để gia tăng sự ủng hộ cho phe đối lập. Dorsey là một nguồn hỗ trợ cực lớn đối với Cohen, giống như Ross, cố vấn cấp cao về đổi mới của Hillary. Họ đã mời ông đến Bộ Ngoại giao. Họ cũng tổ chức một buổi dạ tiệc cá nhân cho ông tại Washington. Thậm chí ông được mời sang Iraq với tư cách thành viên của đoàn đại biểu doanh nghiệp nhà nước, trong đó có cả Blue State Digital, để tư vấn cho chiến dịch vận động tranh cử của Obama. Ông là một đồng minh đầy hứa hẹn, bởi họ cho rằng ông thấy được tầm quan trọng của mối quan hệ giữa cải tiến công nghệ liên lạc thương mại với mục đích hiện đại hóa công nghệ ngoại giao của Mỹ.
Các phương tiện công nghệ có thể ảnh hưởng đến hành vi và tinh thần với tốc độ chớp nhoáng so với những đòn bẩy của ngoại giao truyền thống. Những sự cấm vận và lời hứa dỡ bỏ chúng đòi hỏi sự thay đổi có cân nhắc của chính phủ ở quốc gia bị cấm vận, với thời gian hàng tuần, hàng tháng, thậm chí là hàng năm. Còn công nghệ hiện đại lại có thể cho phép những thay đổi tức thì. Nó có thể được sử dụng để tổ chức hoặc phá bỏ các trật tự xã hội hay chính trị chỉ trong một đêm.
Đối với những nước kém phát triển hơn, hoạt động tương trợ công nghệ của Mỹ giúp xây dựng cơ sở hạ tầng, phòng chống tội phạm, tăng cường liên lạc và phòng thủ trong các cuộc chiến tranh mạng. Nhưng điều này cũng đem đến những rủi ro khó lường: người ta có thể dùng chúng như vũ khí để chống lại chính phủ, như trong sự kiện Mùa xuân Ả-rập đã cho thấy công nghệ có thể trở thành một nhân tố then chốt làm lung lay chế độ. Điều này đồng nghĩa với việc Mỹ có thể dùng những công ty công nghệ lớn như Twitter, Google hoặc Facebook làm đòn bẩy, nguồn động viên hay mối đe dọa với chính phủ các nước khác. Giúp đỡ chúng tôi thì chúng tôi sẽ giúp đỡ lại. Làm khó chúng tôi, thì chúng tôi chỉ cần ngồi xem những cuộc nổi dậy sử dụng các phương tiện công nghệ của chúng tôi để hất cẳng bạn khỏi quyền lực.
Sau thất bại tranh cử, Hillary trở nên bị ám ảnh với sức mạnh sáng tạo của kỷ nguyên Internet. Obama đã sử dụng những phương tiện công nghệ hiện đại để tổ chức, liên lạc, gây quỹ và quảng bá danh tiếng của mình. Điều này khiến kiểu chiến dịch như của Hillary không còn hợp thời nữa. Sau đó, bà mải mê với những tính toán làm thế nào để áp dụng những bài học từ thất bại của mình vào công việc mới – và có thể còn xa hơn thế. “Bà ấy đặt câu hỏi trong một số trường hợp: Điều gì mà tôi có thể làm tốt hơn nếu nhờ đến công nghệ ở quốc gia này hay quốc gia kia?” một quan chức cấp cao của Bộ Ngoại giao nói. “Tôi biết, đã có những day dứt trong chiến dịch vừa qua. Tôi nghĩ, thật tuyệt là nó đã biến thành mối bận tâm rằng làm sao lấy đó làm đòn bẩy thúc đẩy chính sách đối ngoại.”
Sau khi chuyển từ một ứng viên sang làm bộ trưởng, mong ước biến nhược điểm thành ưu thế đã được chứng minh bằng thành công của bà trong việc theo đuổi và thu phục Ross, người phụ trách điều phối nhóm cố vấn kỹ thuật của Obama trong chiến dịch tranh cử. Trong những ngày đầu nhiệm kỳ của Hillary, bằng lòng nhiệt thành của mình, Ross và Cohen đã có một bước tiến trong việc tạo dựng bộ mặt ngoại giao mới; với tình bạn và sự cộng tác, họ đã cần mẫn tìm hiểu về những tập đoàn công nghệ hàng đầu quốc gia để đưa chúng gia nhập mục tiêu vì lợi ích chính sách đối ngoại của Mỹ.
Do vận hành tại nhiều nước trên thế giới, các công ty công nghệ đã phải cố gắng để tránh bất cứ ý kiến nào chỉ trích họ là quân cờ trong tay chính phủ. Nhưng Cohen lại định hé bức màn cho cả thế giới, và điều đó có thể hủy hoại sự nghiệp của chính anh cũng như đẩy Bộ Ngoại giao vào thế khó xử với Nhà Trắng. Nhưng anh cho rằng, yêu cầu với Twitter là bình thường, nên đã không nghĩ đến chuyện báo cáo lên lãnh đạo của mình thuộc bộ phận kế hoạch chính sách. Ngay tối hôm đấy, anh đã gửi một loạt e-mail cho Ross và Ross lập tức gọi lại.
“Jared, anh có nhận ra là mình đang làm trái với chính sách của Tổng thống Mỹ rằng không can thiệp vào các cuộc bầu cử không?” Ross hỏi.
“Ôi, chết rồi,” Cohen đáp.
Cùng ngày, ngày 15 tháng Sáu, Obama tuyên bố: “Người Iran tự quyết định ai sẽ là lãnh đạo của họ” và “Chúng tôi tôn trọng chủ quyền Iran.” Như vậy, Mỹ sẽ không can thiệp vào cuộc bầu cử của Iran. Cohen không cố ý chống đối tổng thống và kế hoạch của anh có lẽ đã hoàn hảo nếu như nó chỉ mang tính cá nhân. Nhưng khi câu chuyện xuất hiện trước công luận, nó khiến mọi việc trở nên hỗn loạn và làm dấy lên nghi ngờ của Nhà Trắng rằng “đế chế” tại Bộ Ngoại giao dưới quyền của Hillary liệu có đáng tin cậy để thực thi các chính sách của tổng thống hay không.
Sếp của Cohen là một trong số ít những cố vấn trong chiến dịch tranh cử của Obama hiện làm việc tại Bộ Ngoại giao. Ross rất giống với diễn viên Michael J. Fox trong bộ phim Spin City (Thành phố xoay tròn). Vốn là người gốc Charleston, Tây Virginia, cháu của một nhà ngoại giao Mỹ, Ross đã sáng lập một tổ chức quốc tế phi lợi nhuận nhằm thu hẹp khoảng cách trong thế giới số và đã gây quỹ cho tổ chức đó bằng cách vận động các nhà điều hành hàng đầu về công nghệ. Anh tham gia chiến dịch tranh cử của Obama ngay trước khi nó được chính thức phát động, và vào guồng với vai trò cầu nối giữa chiến dịch đó với những cố vấn và những người ủng hộ đang làm việc trong lĩnh vực công nghệ. Cho đến cuối đợt vận động, anh đã điều phối một ủy ban gồm tất cả 509 người trong đó có các học giả, các nhà điều hành, cả các hacker và nhân viên kỹ thuật ủng hộ Obama. Nếu trung tâm điều hành chiến dịch của Obama cần một ứng dụng mới, Ross sẽ giúp kết nối với lãnh đạo các công ty công nghệ ủng hộ chiến dịch và họ có thể cung cấp các ứng dụng đó.
Khi Obama đắc cử, Ross mới 36 tuổi và rất khao khát tìm được một công việc kết hợp được cả hai yếu tố mà mình yêu thích, đó là sự đổi mới và chính sách đối ngoại. Có những bộ phận khác của Chính phủ, mà từ đó một trợ lý cũng có thể có ảnh hưởng đến những chính sách đối ngoại, đặc biệt phải kể đến NSC hay Lầu Năm góc. Nhưng Ross, vốn có rất nhiều cơ hội sau cuộc bầu cử, lại bị cuốn hút với công việc tại Bộ Ngoại giao. Khi Obama đề cử Hillary làm lãnh đạo Bộ Ngoại giao, bạn bè nói với anh rằng thật không may vì rất khó để một thành viên trong chiến dịch tranh cử của Obama có thể tìm được một công việc ở đó. Nhưng Ross lại có điều mà Hillary muốn có: anh biết cách để đưa những công nghệ mới – mà Obama đã sử dụng để chiến thắng Hillary – vào mục đích gia tăng lợi ích của Mỹ. Maggie Williams, cố vấn lâu năm của Hillary đã nghe về Ross trong suốt chiến dịch tranh cử và trong giai đoạn chuyển giao năm 2008; Hillary và Cheryl Mills đã để ý đến anh ta. Họ đã thảo luận về những thách thức mà chính sách đối ngoại phải đối mặt do sự phát triển mạnh mẽ của các mạng thông tin, đặc biệt là sự san sẻ quyền lực truyền thống sang các lực lượng không thuộc nhà nước.
So với phe của Obama, những người của Hillaryland không giỏi về các công cụ hiện đại trong chiến dịch tranh cử, cũng như không biết gì về chuẩn mực của thế hệ Internet. Tuy nhiên, khái niệm về sự kết nối lại không hề xa lạ với Hillary. Từ rất lâu trước khi Obama xuất hiện, Hillary và chồng đã là những bậc thầy về tạo mạng lưới. Chạy đua với những gì Obama thực hiện trong chiến dịch tranh cử, Hillary đã nhanh chóng chuyển từ sử dụng máy tính thông thường sang điện thoại thông minh cùng với việc dùng máy Mac. Mong muốn của Hillary nhằm mở rộng những thành tựu trong nước của Obama ra toàn cầu trùng hợp với đề tài nghiên cứu của Anne-Marie Slaughter về sự xuất hiện của các mạng lưới phi chính phủ trên thế giới. Mạng Internet, hơn bất cứ nhân tố đơn lẻ nào, sẽ thúc đẩy quyền lực của những yếu tố phi nhà nước. Điều đó ngày càng tạo ra nhiều ảnh hưởng đối với các nhóm xuyên quốc gia có liên hệ mật thiết với các chính phủ, như Liên Hợp Quốc hay G8, các tập đoàn đa quốc gia và những tổ chức xã hội quốc tế. Một hiện tượng nhãn tiền hơn nữa, các phong trào chính trị tại một số quốc gia có thể nhanh chóng biến thành các cuộc cách mạng. Nhưng trái lại, công nghệ cũng có thể tăng sức mạnh cho những tổ chức khủng bố và tội phạm. Có thể đo đếm quyền lực bằng cách tính toán về khả năng một người có thể xây dựng hay phá vỡ những mạng lưới của người khác, đó là ý tưởng mà Hillary muốn nắm lấy.
Việc Hillary đầu tư cho Slaughter, Ross và Cohen có thể được xem là dấu hiệu rõ ràng cho thấy bà đã học được rất nhiều sau thất bại của chiến dịch tranh cử năm 2008. Với một phụ nữ mà hoạt động của người đó nổi tiếng là hẹp hòi, bà đặt niềm tin lớn vào ba người bên ngoài: Slaughter từ Princeton, Ross từ chiến dịch tranh cử của Obama, và Cohen từ nhiệm kỳ của Bush – để xây dựng và thực hiện các nhiệm vụ trong lĩnh vực mà chỉ mấy tháng trước bà còn hết sức bỡ ngỡ. Thiên hướng đổi mới này có thể giúp bà đạt được mục đích, không chỉ trong việc chỉ huy chính sách đối ngoại, mà cả trong trường hợp bà bước ra tranh cử tổng thống một lần nữa. Điều này cho thấy hiểu biết sâu sắc của bà về sức mạnh thật sự của công nghệ như một công cụ chính trị. “Bà ấy sẽ không bao giờ rơi vào cái bẫy ‘chỉ sử dụng công nghệ cho việc truyền bá ngoại giao,’” một trong những trợ lý sành sỏi về công nghệ cho biết. “Bà ấy đã kết hợp công nghệ với việc tổ chức bộ máy từ cơ sở bởi vì hệ quy chiếu của cuộc vận động.”
Nhưng, ngay trong Bộ Ngoại giao, niềm tin của Hillary vào sức mạnh công nghệ trong triển khai chính sách ngoại giao vẫn luôn gây tranh cãi, khiến Ross xung đột với Jim Steinberg – một thứ trưởng ngoại giao – xung quanh việc duy trì cân bằng giữa ngoại giao truyền thống và ngoại giao dựa vào các công cụ hiện đại, nhất là khi Ross dự đoán rằng thế giới sẽ chứng kiến những cuộc cách mạng không có người lãnh đạo trong nhiệm kỳ ngoại trưởng của Hillary. Cho dù cách tiếp cận quyền lực thông minh được Slaughter hỗ trợ rất nhiều bằng sức mạnh tri thức, Hillary vẫn ngày càng bị cô lập bởi các thế lực quan liêu, nhất là khi bà xúc tiến xây dựng QDDR. Thậm chí, những người vốn đánh giá cao Ross và Cohen cũng xem họ là những “con sói đơn độc.” “Rất khó làm việc chung với họ,” một trong những người làm việc lâu năm trong Hillaryland và hiện công tác ở Bộ Ngoại giao cho biết. “Họ không phải là các người chơi mang tính đồng đội, có lẽ vì họ quá giỏi. Họ độc lập, làm theo những gì mình thích và tự do sáng tạo. Họ đều sáng chói.”
Cả một thời kỳ dài không phụ thuộc vào ai đã khiến Cohen, vào buổi sáng sau khi can thiệp vào Twitter, đã trở thành một trong những chủ đề bàn luận nóng hổi của những nhân viên cấp cao quanh Hillary. Vốn chủ trì các cuộc họp hằng ngày, nhưng Hillary lại không tham gia cuộc họp hôm đó; và cũng không có mặt Cohen, người ở vị trí quá thấp để tham gia. Nhưng anh ta đã gây chú ý đối với P. J. Crowley, trợ lý ngoại trưởng phụ trách quan hệ công chúng, muốn đảm bảo rằng cánh báo chí hiểu được chuyện gì đã diễn ra. Khi Mark Landler của tờ New York Times hỏi về vụ việc, Crowley đã cung cấp nhiều chi tiết, và đánh giá rằng bước đi của Cohen có thể là điều tốt cho Bộ Ngoại giao.
Sự can thiệp nơi hậu trường của Cohen rồi cũng bị tiết lộ trước công chúng. Trong khoảng thời gian từ sau cuộc gặp gỡ giao ban nhân viên buổi sáng đến lúc Landler trình bày bài báo cáo của mình, câu chuyện đã lan đi khắp Bộ Ngoại giao đến hai lần. Gần như các quan chức cấp cao đều nói về chuyện đó.
Mills triệu tập Ross và Sullivan đến văn phòng; và trên đường đi, hai người tình cờ va vào nhau tại khu vực an ninh của tầng bảy, nơi các bí mật quốc gia vẫn thường được bàn luận.
“Tất cả những gì Jared làm sẽ lên trang nhất New York Times,” Sullivan bực bội nói với Ross.
“Anh muốn ám chỉ điều quái quỷ gì vậy?” Ross đáp. “P. J. đã cung cấp cho New York Times về sự can thiệp của Jared?”
“Ông ta đã cung cấp thông tin,” Sullivan nói. “Nó sẽ lên trang nhất.”
Sullivan, Ross, và Crowley đều có mặt trong phòng Mills, họ gọi điện cho Philippe Reines. Sullivan hơi bối rối. Đây là một quyết định gây ra hậu quả, anh ta nghĩ, việc này đáng lẽ phải được cân nhắc kỹ lưỡng để đưa ra thông điệp, chứ không phải đưa tin theo kiểu bông đùa và rồi kể lể nhiều chuyện cho tờ báo có tầm ảnh hưởng thế giới như thế. Sullivan, người đã trở thành cầu nối có nhiều ảnh hưởng giữa Bộ Ngoại giao với Nhà Trắng, đã nhìn xa trông rộng hơn Cohen về chiến lược của Chính phủ tại Iran. Những người thuộc Phong trào Xanh đã đánh tiếng với các quan chức Mỹ là hãy tránh xa họ, bởi sự can thiệp của Chính phủ chỉ gây suy giảm uy tín của các “nhà cách mạng” với người dân Iran, cũng như “thêm dầu vào lửa” đối với bầu không khí đang lên án phong trào này là do đám bù nhìn của Mỹ dẫn dắt. Sullivan chủ yếu quan tâm đến cáo buộc cho rằng Bộ Ngoại giao đang làm mất mặt Nhà Trắng. Obama đang phải nhận một đòn nặng nề từ những người bảo thủ vốn luôn tin rằng ông nên chủ động tăng cường hỗ trợ Phong trào Xanh; và chính việc Cohen là nhân viên kỳ cựu của Tổng thống Bush càng làm dấy lên nghi ngờ về mục đích của Obama. Cách giải quyết đơn giản nhất để giữ thể diện cho tất cả là sa thải Cohen.
Người dè dặt như Sullivan cũng bắt đầu lớn tiếng. Crowley thì mỉm cười và cố trấn tĩnh. “Tôi nghĩ là ông sẽ thấy chuyện này có lợi cho chúng ta,” ông ta nói và nhấn mạnh về yếu tố lợi ích lâu dài cho Mỹ nếu ủng hộ cuộc cách mạng tại Iran.
“Tại sao chúng ta còn phải tranh cãi về điều này?” Sullivan nói. “Anh ta phải ra đi.”
Reines, vốn thân cận với Hillary hơn cả Crowley, cũng đề nghị một phương án nhằm đảo ngược những gì Cohen đã làm. Vấn đề động cơ rất quan trọng với Reines, và ông ấy không thấy mưu toan hiểm độc nào trong hành động của Cohen. Những người khác lại cho rằng, ông ấy đang cố gắng tìm ra phương án để cứu Cohen bằng cách xoa dịu xung đột giữa chính sách của tổng thống với sự can thiệp của Cohen. Ý định của Reines trùng khớp với suy tính của Sullivan.
Nhưng Mills liên tục cắt ngang lời ông ta và cho rằng sẽ không có phương án nào tốt để giải quyết chuyện này.
Họ gọi điện cho Denis McDonough, người đứng đầu mảng truyền thông chiến lược của NSC. Theo chỉ thị của ông này, không ai trong Bộ Ngoại giao được công khai đề cập chuyện này nữa. Họ ngồi lại cùng nhau, chờ đợi bài báo của Times và quyết định không thêm dầu vào lửa qua những cuộc phỏng vấn với các hãng thông tấn khác về vấn đề này. Kịch bản khả dĩ nhất là câu chuyện trên tờ Times không khiến Obama cảm thấy mất mặt vì đã duy trì lập trường thụ động đối với phong trào đấu tranh tại Iran.
Cohen đang bị trói buộc, anh không còn nắm giữ được kết cục của mình nữa. Con dao dài không chỉ kề vào anh ta, mà còn vào Ross, người bảo hộ cho anh; và cả Crowley, người cũng nhúng tay vào câu chuyện khi kể cho tờ Times về một quan chức tầm trung của Bộ Ngoại giao theo đuổi một chính sách lạc lõng với tổng thống. Cohen không cố ý gây ra bất cứ mối nguy nào, nhưng giờ anh hiểu rằng hành động của mình có thể phải trả giá bằng cả sự nghiệp; và tệ hơn, nó có thể khiến công việc mà anh ta và Ross đang làm đi đến thất bại.
Hoạt động trên quy mô rộng lớn ngoài sự chú ý của Nhà Trắng, cả hai được Hillary dành cho những điều kiện thuận lợi để khai thác sự kết hợp giữa công nghệ và ngoại giao, không chỉ trên lý thuyết mà cả trong thực tế. Vào tháng Hai, bà đã cử Cohen đến Afghanistan cùng với Holbrooke và Tướng Mike Mullen, Tổng tham mưu trưởng Hội đồng Liên quân. Ở đó, họ chứng kiến quân Taliban buôn lậu điện thoại iPhone để cung cấp cho một nhà tù. Holbrooke viết cho Hillary mấy dòng về vai trò của công nghệ trong cuộc chiến ở Afghanistan, điều này làm tăng thêm sự quan tâm của bà trong việc điều động Cohen và Ross. Cùng lúc có cả Ross và Slaughter đóng vai trò như những người hướng dẫn, Hillary giống một học trò chăm chú học hỏi về phương thức mà công nghệ thông tin tương tác với chính sách đối ngoại. Bà đã cho xây dựng một phòng thí nghiệm nhỏ về sáng tạo tại Bộ Ngoại giao, tại đó Ross và Cohen âm thầm làm việc của mình.
Nhưng giờ thì họ đã trở thành những đốm sáng nhấp nháy trên màn radar của Nhà Trắng. Chưa nói đến vấn đề liệu những gì Cohen làm là có lợi hay có hại cho Phong trào Xanh, hay việc anh làm lên đến cấp độ nào của việc bất tuân lệnh tổng thống từ phía chính anh ta hay về phía Hillary, thì tình trạng này cũng cho thấy rõ hơn về sự khác biệt trong quan điểm về thế giới giữa Obama và Hillary. Ít nhất, trong những ngày đầu ở Thượng viện, nơi bà đại diện cho cử tri New York để ủng hộ cộng đồng Do Thái gốc Israel, Hillary đã tỏ ra hiếu chiến hơn với Iran. Khi Obama tuyên bố trong suốt chiến dịch rằng ông sẵn sàng đàm phán song phương với Ahmadinejad trong năm đầu tiên làm tổng thống, Hillary từng cảnh báo Obama có cách tiếp cận ngây thơ. “Tôi không muốn bị lợi dụng cho mục đích tuyên truyền này,” bà khẳng định.
So với Obama, giờ đây cơ quan của bà, hoặc ít nhất là Cohen, đã có những hành động mạnh hơn đối với Ahmadinejad bằng cách sử dụng truyền thông xã hội. Các chuyên gia công nghệ của Obama trong suốt mùa chiến dịch năm 2008 cho rằng nhóm của ông đã chậm trễ không nắm lấy sức mạnh truyền thông để tạo ra những thay đổi toàn cầu. Tương tự, những nhân viên lâu năm trong Bộ Ngoại giao cũng ít áp dụng cách thức mới của Cohen và Ross trong hoạt động ngoại giao. Câu chuyện này là một ví dụ hoàn hảo cho họ về mối nguy hiểm đối với “Tập thể Bộ Ngoại giao trong thế kỷ XXI,” một thuật ngữ có vẻ xuất phát từ game dành cho giới trẻ, đó là trò World of Warcraft.
Tuy nhiên Hillary đáp trả rằng đây là chuyển biến lớn trong quan điểm ngoại giao mới về thế giới trong một Thời đại Mới đang trong quá trình định hình, và bà sớm ủng hộ nó. Cá nhân Hillary từng nhiều lần nói rằng bà muốn những lỗi lầm của thành viên trong nhóm nên được nhìn nhận theo hướng khích lệ để sửa chữa hơn là trừng phạt. Nhưng không ai dám chắc liệu có thể như thế hay không, khi lỗi xảy ra có thể làm Obama mất mặt, hoặc trở thành mối nguy tiềm tàng phá hủy những nỗ lực của Mỹ nhằm đưa Iran quay lại bàn đàm phán, chấm dứt chương trình hạt nhân. Thoạt nhìn, việc Nhà Trắng từ chối hậu thuẫn những người Iran đấu tranh có vẻ đi ngược những giá trị Mỹ. Làm sao một nền dân chủ lãnh đạo cả thế giới với quyền lực mạnh mẽ nhất lại có thể ngồi yên trong khi Iran đang thẳng tay đàn áp các lực lượng bất đồng chính kiến. Những câu hỏi này càng nhức nhối khi tờ Times bất ngờ đưa lên mạng câu chuyện này vào tối thứ Ba.
Đến sáng thứ Tư, khi câu chuyện xuất hiện trên tờ báo mà Obama tin tưởng nhất, những cố vấn hàng đầu của Hillary tập hợp lại trong cuộc họp khẩn vào 8 giờ 45 phút sáng. Họ lo lắng chờ chỉ đạo của Hillary. Nếu bà tức giận, họ sẽ biết ngay. Hillary có thể mỉa mai, cay độc khi nhận thấy các phụ tá khiến mình thất vọng. Giọng của bà sẽ không giấu được nỗi thất vọng, hoặc bà sẽ hỏi những câu đầy ẩn ý mà người ta không thể trả lời nếu không muốn bị lôi vào rắc rối sau đó.
Câu chuyện của Cohen dẫn đến nhiều căng thẳng. Có phải Hillary là kiểu nhà lãnh đạo bảo vệ người của mình, hay bà sẽ ném anh ta vào gầm xe buýt? Liệu việc gây rắc rối với một chính phủ khác có phải là một học thuyết thông minh hay một công cụ ngoại giao hiện đại? Liệu bà có tỏ rõ mình là xương sống trong cuộc đương đầu với Nhà Trắng?
Vụ rắc rối này đeo đẳng tâm trí Hillary buổi sáng hôm đó, khi bà bước vào phòng hội thảo ở tầng bảy qua một hành lang hẹp từ văn phòng của mình. Hiếm khi Hillary cầm theo cả một tờ báo, mà thường chỉ chọn ra một vài bài nào đó và mang tới cuộc họp. Nhưng sáng hôm đó, bà có cả tờ Times trên tay. Câu chuyện được đăng ở trang 12, không phải trang nhất. Các trợ lý chăm chú quan sát bất kỳ một dấu hiệu nào cho thấy bà đã nghĩ gì.
Bà đặt tờ báo xuống chiếc bàn gỗ vuông với 14 chỗ ngồi ngay trước mặt và nhìn các cộng sự một lượt. “Thật tuyệt, đây chính xác là điều đáng lẽ chúng ta nên làm,” bà nói.
Cam kết đổi mới của Hillary ở Bộ Ngoại giao quá sâu sắc, khó có thể khiến bà chệch hướng chỉ bởi những ý nghĩ có thể nổi khùng xung quanh việc liệu Jared Cohen đã nêu rõ động cơ của mình với những người thích hợp hay chưa, hay lại gây hiểu lầm về chính sách của chính phủ đối với việc Ahmadinejad tái đắc cử. Trong lúc chưa rõ ràng, Williams, Mills, và cả Hillary đã bàn luận về nhu cầu không chỉ bắt kịp nhịp độ đổi mới mà còn phải đi trước thời đại. Họ muốn biến sai sót thành tài sản, và Hillary sẽ không chịu từ bỏ sứ mệnh ấy chỉ vì một cuộc tranh luận nhỏ.
Trong năm tháng đầu tiên ở Bộ Ngoại giao, Hillary đã dồn hết tâm trí và nguồn lực nhằm bảo đảm rằng hoạt động của bà thiên về dùng công nghệ như một công cụ chính trị nhiều hơn so với chiến dịch tranh cử năm 2008. Chẳng hạn, tài khoản Twitter-vention của Cohen là một bằng chứng khẳng định sức mạnh về hiểu biết và vận dụng hạ tầng công nghệ. Không chỉ đội ngũ đổi mới của Hillary là một công cụ mạnh mẽ tại Bộ Ngoại giao, Hillary còn rất sắc sảo khi cho rằng việc khai thác tính ưu việt của công nghệ có thể là động lực thứ hai cho việc chạy đua vào ghế tổng thống. “Các công cụ này được dùng để tạo ảnh hưởng với các phong trào chính trị tại nước ngoài,” một cố vấn của Hillary nói, “và cũng có thể dễ dàng dùng như một đòn bẩy trong nước.”
Đội ngũ đổi mới thậm chí lên đến hơn 100 người ở các bộ phận khác nhau trong Bộ Ngoại giao; nhiều trợ lý cố gắng tích hợp các hoạt động trong khuôn khổ sáng kiến “Tập thể Bộ Ngoại giao Thế kỷ XXI” vào công việc của mình. Họ là một lực lượng đặc biệt mạnh mẽ đối với Hillary, và nỗ lực của họ tập trung vào các dự án, như thành lập tài khoản thông tin xã hội cho Bộ Ngoại giao tại các nước, âm thầm cung cấp các phương tiện công nghệ và huấn luyện lực lượng nổi dậy tại các nước Trung Đông. Hillary gia tăng khả năng không chỉ trong việc gây tác động đến sự trỗi dậy hay sụp đổ của các chính phủ hoặc những ứng viên chính trị, mà còn trong việc bảo vệ và tăng sức mạnh cho những cộng đồng dễ bị tổn thương trên thế giới thông qua tiềm năng công nghệ. Đổi mới đồng thời gắn liền với tham vọng của Hillary với tư cách một nhà ngoại giao, với những cơ hội thành công của bà trong chiến dịch vận động tranh cử tổng thống, và với cả những cam kết về công bằng xã hội.
Hillary quay lại với đội ngũ công nghệ của mình vào tháng Tám năm 2009, thời điểm khó khăn nhất trong năm đầu tiên trên cương vị ngoại trưởng. Trong cuộc gặp gỡ với sinh viên Congo tại Kinshasa, Hillary đã được hỏi, chồng bà nghĩ gì về việc Ngân hàng Thế giới can thiệp vào các hợp đồng của Trung Quốc với Congo. Đây là một trong những câu hỏi khiếm nhã nhất đã gây tổn thương vị thế của Hillary: tại Washington, nhóm của Obama vẫn tỏ ra chậm chạp trong việc ra quyết định bổ nhiệm bà; các nhà báo từ Ben Smith đến Tina Brown đều viết rằng bà thiếu tầm ảnh hưởng; và Obama thậm chí gửi Bill đến Bắc Triều Tiên để đàm phán việc thả hai nhà báo Mỹ hiện bị giam giữ ở đó.
Giờ đây, khi đã cách Beltway tới 6.500 dặm, trong một chuyến đi mà Hillary chọn để tăng cường quyền bình đẳng cho phụ nữ và chống lại nạn lạm dụng họ, vậy mà mấy đứa trẻ còn ngồi trên ghế nhà trường lại hỏi quan điểm của chồng bà về một vấn đề chính trị. Một vấn đề nóng hổi. Tại một nơi sặc mùi nước tiểu trẻ con. Hillarry đã đi qua nửa chặng đường của chuyến công du 12 ngày, tới 7 quốc gia.
Bà mất bình tĩnh, “Chồng tôi không phải là ngoại trưởng. Mà là tôi,” bà phản pháo. “Nếu bạn muốn biết ý kiến của tôi, tôi sẽ nói cho bạn biết. Còn tôi không có ý định nói hộ ý kiến của chồng mình.”
Các trợ lý của Hillary thông báo tới Nhà Trắng, báo hiệu rằng những gì họ chứng kiến có thể trở thành câu chuyện trong ngày tại nước Mỹ; một trong những trợ lý truyền thông của Obama, người đã làm việc trong chiến dịch vận động tranh cử năm 2008, bày tỏ cảm thông về những phản ứng của Hillary, điều mà những trợ lý của bà mô tả như kết quả của việc phiên dịch tồi hay cấu trúc nghèo nàn của câu hỏi. “Thật phát điên lên,” trợ lý của Obama viết trong e-mail gửi Reines. “Bà ấy đã bay đến một trong những nơi nguy hiểm nhất ở một trong những đất nước nguy hiểm nhất hành tinh chỉ để làm nổi bật lên nỗi thống khổ mà những người phụ nữ đang phải gánh chịu do nhiều điều khủng khiếp chưa thể nói ra, trong khi báo chí chỉ nhắm vào những điều ngớ ngẩn về áp lực gia đình từ năm 1998.”
Khoảnh khắc giữa hai người trợ lý, những cựu đối thủ và cũng là những phụ tá tận tụy, là một tín hiệu đáng chú ý về tinh thần đoàn kết, thống nhất giữa hai bên đã được phát đi.
“Hiện giờ tôi có cảm giác như một thành viên PUMA vậy,” người trợ lý viết, ám chỉ đến đám đông “Party Unity My Ass” [1] bám lấy Hillary rất lâu sau khi bầu cử kết thúc. “Tôi sẽ lập tức gọi cho Geraldine Ferraro.”
Đoạn video giống như bị nhiễm virus. Tờ Today đưa ra câu hỏi liệu bà mệt mỏi vì lệch múi giờ hay ghen tị với Bill. Cả hai đều có phần đúng, Andrea Mitchell của NBC trả lời. Tờ New York Post đăng hình Hillary với dòng tít: “Tôi là Bà chủ”. Một trong số những trợ lý của Hillary nói: “Nhiều người nghĩ rằng bà ấy là một người máy,” trong khi bà ấy cũng có cảm xúc như bất kỳ ai.
Ngày tiếp theo thậm chí còn tệ hơn – và cũng tốt hơn nhiều theo cách thức mà bạn bè và cộng sự hiểu rõ về Hillary nói. Bà có chuyến đi đến trại tị nạn Mugunga ở phía Bắc của Goma, một thành phố tồi tàn ở hồ Kivu đầy rẫy những người chạy trốn khỏi nạn diệt chủng Rwanda, nơi Hillary được nghe chi tiết câu chuyện về hai người sống sót trong một cuộc tấn công tình dục. Trong suốt những cuộc xung đột tưởng chừng bất tận ở Congo và những nước láng giềng, bạo lực tình dục cũng không hề chấm dứt. Các quan chức an ninh ngoại giao khuyên Hillary không nên đi đến vùng này, nhưng bà vẫn quyết tâm đến. Hành động cưỡng hiếp, cả do lính Congo thực hiện, “đã khiến ma quỷ hiện nguyên hình,” bà nói.
Tại một diễn đàn trong ngày hôm đó, Hillary thông báo rằng Chính phủ Mỹ sẽ viện trợ 17 triệu đô-la để giúp Congo ngăn chặn các cuộc tấn công và bảo vệ những người sống sót. Trong cuộc gặp các quan chức cấp cao của Congo, bà đã thẳng thắn nêu vấn đề rằng Mỹ sẽ không bỏ qua việc chính phủ nước này dung túng tình trạng cưỡng hiếp có hệ thống. Tuy vậy, bà hiểu rằng sẽ cần phải làm nhiều hơn thế. Ngay sau chuyến đi, Burns Strider, cố vấn trung thành của Hillary trong chiến dịch năm 2008, đã viết e-mail cho bà và hỏi tình hình. “Tôi chỉ vừa mới rời Congo,” bà viết thư trả lời. “Tôi không thể kể hết được. Thật khủng khiếp. Nỗi đau đớn, cảnh hung bạo đang diễn ra ở đó”.
Sự chịu đựng giày vò Hillary, nhưng bà cũng gây dựng được sức mạnh mới từ những gì đã thấy và nghe được. “Điều đã cho tôi hy vọng,” bà viết, “là những người phụ nữ đã trốn thoát, nhận ra điều cần làm, nên quay trở lại để giúp những người chưa thoát được.” Hillary không hay khóc trước mặt người khác, nước mắt của bà để dành cho những giây phút như trong chiến dịch tranh cử tại New Hampshire khi cảm ơn những người ủng hộ đã giúp bà tìm được tiếng nói của mình. Vào giai đoạn khủng hoảng trong chiến dịch tranh cử và cả ở Bộ Ngoại giao, bạn bè và trợ lý của Hillary kể rằng bà giữ được điềm tĩnh trong khi những người xung quanh thì không.
Cách mà Hillary tỏ ra thương tiếc, bạn bè của bà nói, là dồn hết cảm xúc vào việc hàn gắn và sửa chữa, một cách tiếp cận có căn nguyên từ bài giảng của John Wesley, người sáng lập Giáo hội Giám lý. Đó là những điều Hillary đã làm sau khi trở về từ Congo, dù người ta vẫn cho rằng bà đang trong thời gian sa sút. Bà mở rộng các mối quan hệ bạn bè, trợ lý, cố vấn tinh thần để xem có thể làm được gì cho những người phụ nữ ở các trại tị nạn. “Bà ấy cảm thấy dằn vặt vì những gì nghe được, và gửi e-mail cho mọi người trong kỳ nghỉ của bà,” một nguồn tin từ Bộ Ngoại giao cho biết.
“Có điều gì đó còn lớn hơn quyền lực đã dẫn dắt bà. Bà ấy có một kim chỉ nam về đạo đức mà bản thân luôn hướng theo,” một người bạn lâu năm của Hillary nói. “Vì vậy bà ấy không cần phải gắn thêm [tôn giáo] lên ống tay áo, nhưng tôi nghĩ, nếu bạn có thời gian trò chuyện với bà ấy như một người theo Giáo hội Giám lý về niềm tin của bà ấy, bạn sẽ thấy bà ấy rất sâu sắc.”
Hillary yêu cầu Cohen và Ross đến miền đông Congo. Họ muốn nói chuyện trực tiếp với binh lính và cảnh sát để có thể dễ hình dung hơn về nạn tham nhũng góp phần vào tình trạng bạo lực giới. Tuy nhiên sứ quán từ chối giúp họ tiếp xúc với những binh sĩ nhận hối lộ.
Biết rằng không thể có phương án giải quyết nếu không tường tận gốc rễ của vấn đề, Cohen tìm cơ hội để đánh lừa các nhân viên sứ quán. Đang chạy trên đường giữa đoàn xe hộ tống, anh nhảy ra khỏi xe, chạy lên trước dòng xe và yêu cầu được ngồi ghế trước của chiếc xe dẫn đoàn, do một nhân viên an ninh lái. Anh không cần phiên dịch nhờ nói được tiếng Bantu. Cohen và Ross đã nói chuyện với các binh lính đủ để hiểu được tại sao quân chính phủ lại tham gia cùng dân quân địa phương lạm dụng tình dục phụ nữ một cách có hệ thống.
Binh lính thường phải nhận thêm việc hỗ trợ cho các lực lượng dân quân, vì đã xảy ra hiện tượng biển thủ phổ biến trong hệ thống trả lương của Chính phủ Congo. Chính phủ thường chuyển những khoản tiền lớn cho các tướng lĩnh, họ sẽ có nhiệm vụ phát lại cho binh lính. Nhưng các vị tướng đó giống những “ông trời con” hơn là sĩ quan quân đội cấp cao, họ đã bỏ túi gần hết số tiền đó.
Nếu Cohen và Ross có thể tìm ra cách bảo đảm rằng những người lính sẽ được trả lương thỏa đáng, thì có lẽ binh lính sẽ bảo vệ những phụ nữ ở phía đông Congo thay vì giao kèo với những kẻ tấn công. Họ nghĩ ra kế hoạch để Chính phủ trả tiền cho binh sĩ thông qua công nghệ thanh toán di động, không qua các vị tướng. Tổng thống Joseph Kabila đã trút bỏ được gánh nặng nhờ ý tưởng này, và Quốc hội Congo thông qua điều luật cho phép trả lương theo hình thức thanh toán di động. Luật cũng quy định về trách nhiệm của ngân hàng trung ương, nhưng vì vốn có quan hệ với các vị tướng, nên tổ chức này đã từ chối áp dụng chương trình.
Cohen và Ross cũng cố tạo ra hệ thống nhắn tin cảnh báo cho những trại tị nạn đang trong tình trạng nguy hiểm do bị các lực lượng dân quân địa phương quấy phá. Ý tưởng là cung cấp tin tức tình báo từ Lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc về sự di chuyển của các lực lượng dân quân, tới lãnh đạo các trại tị nạn, các bệnh viện, các tổ chức phi chính phủ một cách nhanh nhất. Nhưng sáng kiến này không bao giờ được thực hiện vì hai lý do: một, Ross và Cohen không thể chắc chắn rằng những thông tin này sẽ không bị một lực lượng dân quân thuộc phe này hay phe khác chặn lại; hai, chính việc cảnh báo này có thể gây ra tình trạng “mất cảnh giác phòng vệ” và buộc Lực lượng gìn giữ hòa bình phải can thiệp quân sự.
Dù Ross và Cohen ra về tay không, Hillary vẫn không ngừng các nỗ lực tìm kiếm phương án để giảm thiểu nạn hối lộ và nạn cưỡng bức tình dục tại đây. Ở trong nước, bà đã khởi động hội nghị thường niên nhằm chấm dứt nạn bạo hành tình dục cho khu vực này. Cả tinh thần bền bỉ của những phụ nữ Congo cam chịu mà bà đã gặp, lẫn thất bại trong việc tìm hướng giải quyết đã ám ảnh bà suốt nhiều năm liền.
“Bà ấy đã nghe những câu chuyện này không chỉ bằng cái đầu sáng suốt, mà nó còn đi thẳng vào trái tim của bà ấy,” một người bạn gần gũi, cùng đến Congo và chia sẻ quan điểm với Hillary lý giải. “Chúng tôi thảo luận với nhau về việc phụ nữ Congo kiên cường đến mức nào. Quan điểm của Hillary là ‘Không khó để đi đến Congo. Bạn đã làm chứng rồi, và bạn tôn trọng họ.’ Những người phụ nữ ở Congo cùng nắm tay và cùng khích lệ nhau, và tôi nghĩ Hillary nhận thấy điều đó.”
Với những ai cho đến tận năm 2008 vẫn còn bị xem là người bảo thủ theo kiểu nhóm công nhân Luddite phản đối công nghệ hồi đầu thế kỷ XIX, thì Hillary đang xây dựng một mạng lưới của riêng mình theo cách thức giống như tạo ra các phong trào chính trị rộng khắp. Bà cũng thường xuyên tìm cách kết nối với mọi người ở các cấp độ khác nhau để kêu gọi họ – như một chương trình mục tiêu nhỏ nhưng kết hợp được sở thích, cách sống của những người sử dụng web, và tiếp cận họ dựa vào chính những sở thích đó. Mọi người có xu hướng đánh giá cao nỗ lực này với sự mở rộng nó – và nhiều hơn thế – một cách có tính toán. Nhiều chính trị gia có ý tưởng như vậy, nhưng đa số lại không giỏi chuyện này. Bill thường chinh phục mọi người nhờ sức hút của mình, nhưng Hillary phải làm việc vất vả hơn nhằm tìm kiếm sự tương đồng và phát triển các mối quan hệ. Vì thế, khối liên minh của Bill thường là tạm thời – bạn bè giới chính trị của ông đến rồi đi – trong khi với Hillary, họ có xu hướng ở lại lâu hơn.
Có thể đánh giá qua sự mở rộng các đồng minh mới mà Hillary có được trong thời gian làm ngoại trưởng, từ những gã khổng lồ về công nghệ đến những ngôi sao tại Lầu Năm góc, sẽ gắn bó với Hillary nếu bà tranh cử tổng thống. Về khía cạnh đổi mới, việc vươn tay tới các vị điều hành các công ty lớn cho thấy nỗ lực của bà nhằm đưa những nữ lãnh đạo từ khắp nơi trên thế giới vào Bộ Ngoại giao – hậu thuẫn cho những sáng kiến nhằm hỗ trợ phụ nữ và bé gái, cũng như các đối tác quan hệ công-tư mà bà đã tạo ra trong dự án Shanghai Expo và chương trình «clean cookstoves» (bếp lò sạch) quốc tế.
Vào tháng Một năm 2010, hai tuần trước khi có bài phát biểu quan trọng về tự do Internet, Hillary mời các giám đốc điều hành Twitter, Google, Cisco và một loạt các công ty khác đến dự bữa tiệc cá nhân tại Bộ Ngoại giao. Tôi không xem mình là một chuyên gia về công nghệ thông tin, bà nói với họ. Tôi cũng không cho mình là người gần gũi nhất với công nghệ thông tin, nhưng tôi biết những gì mà các vị đang làm là quan trọng. Và tôi đang ở vị trí có thể giành được hỗ trợ để mở rộng tác động của những gì mà các vị đang làm.
“Hãy dùng tôi như một phần mềm ứng dụng,” bà nói, làm mọi người xung quanh cười ồ.
Câu nói vui giúp Hillary truyền đi một thông điệp nhiều sắc thái. Bà sẽ không viết mã cho máy tính trong những giờ rảnh rỗi, nhưng rất quan tâm cả về việc đổi mới lẫn kinh doanh. Hillary tin rằng quan hệ đối tác giữa Chính phủ và các tập đoàn Mỹ sẽ giúp thực thi chính sách đối ngoại cũng như mở rộng cơ hội cho doanh nghiệp Mỹ. Hơn thế, thương mại Mỹ có thể được sử dụng như “cây gậy và củ cà rốt” trong công tác đối ngoại; đa phần các nước đều thích ý tưởng Mỹ đặt các nhà máy mới tại nước họ, ngược lại không hề thích việc Mỹ tìm cách để các doanh nghiệp Mỹ rời đi.
Vài tháng sau bữa tiệc tại Bộ Ngoại giao, Ross và Cohen dẫn đầu đoàn đại biểu gồm năm giám đốc điều hành các tập đoàn công nghệ Mỹ tới Syria. Tổng thống Bashar al-Assad đã nêu vấn đề Mỹ cấm vận với Bill Burns, Thứ trưởng phụ trách vấn đề chính trị, hồi đầu năm đó. Assad nói rằng trong khi người Mỹ nói về tự do Internet nhưng lại áp đặt lệnh cấm vận, ngăn cản các quốc gia như Syria có được những công nghệ giúp khơi thông dòng chảy tự do của thông tin? Nếu các tập đoàn công nghệ được miễn trừ lệnh cấm vận, Assad dự đoán, họ sẽ đổ xô vào nước của ông, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Chuyến đi được báo cáo là nỗ lực của Mỹ nhằm ngăn chặn nguy cơ Syria liên minh với Iran, qua việc cho Tổng thống Assad thấy những điều mà công nghệ Mỹ có thể làm được cho đất nước của ông ta. Nhưng, đó chỉ là tấm màn che phủ bên ngoài, còn câu chuyện thật sự lại mang thông điệp khác, khiêu khích hơn, đó là dùng công nghệ để Assad thấy rằng ai mới là người đang nắm giữ quân át chủ bài. Theo một nguồn tin thân cận, Ross và Cohen đã mang theo các giám đốc điều hành của Microsoft, Cisco và Dell đến Damascus, nhằm thông báo rằng các công ty Mỹ đang mong muốn có mặt ở thị trường Syria nhỏ bé.
“Đúng là họ không đưa ra điều gì vớ vẩn,” nguồn tin này nói. “Thực tế, các công ty nói với Assad rằng đối với họ Syria cũng như Rhode Island.[2] Và rằng, họ hoàn toàn ủng hộ chính sách giúp họ tiếp tục giao dịch thương mại với Syria.” Họ cũng mong sớm nhận được tín hiệu của Chính phủ Mỹ trong việc thúc đẩy bãi bỏ lệnh cấm vận.
Tiếp đó các quan chức Mỹ đe dọa mạnh hơn. “Những điều chúng tôi nói khiến họ tức giận,” nguồn tin cho hay, “đó là, nếu như ngài không thực thi cải cách về nhân quyền tại đất nước ngài, thì chúng tôi sẽ không chỉ từ chối miễn trừ lệnh cấm vận cho các công ty này, mà còn áp dụng lệnh đó đối với các công ty khác nữa, điều mà, ồ, nhân tiện, chắc ngài không muốn điều đó xảy ra ở nước mình đâu.”
Cuối cùng, sau khi Assad phớt lờ thời hạn 90 ngày về cải cách nhân quyền, Mỹ đã âm thầm miễn trừ cho một vài tập đoàn, gồm cả Skype, trong một nỗ lực nhằm chống lại Assad.
Khi còn ở đó, Cohen đã đăng dòng tweet là anh đã thưởng thức một cốc Frappuccino hàng đầu thế giới tại một trường đại học ở Syria. Là người thích phiêu lưu mạo hiểm trên thế giới và từng lén lút vào Iran, Cohen muốn giới trẻ ở Syria biết rằng Chính phủ Mỹ đã có mặt ở đó và rất quan tâm đến họ. Các quan chức cấp cao của Bộ Ngoại giao, nhất là Steinberg, đã rất giận dữ. Trong khi nước Mỹ đang cố gắng một cách lịch thiệp để quay lại làm ăn trực tiếp với Syria, thì dòng tweet của Cohen chẳng phục vụ gì mục đích này. Một lần nữa, Ross và Cohen có thể nghe thấy tiếng các giám đốc đang mài kiếm!
Tuy nhiên, vài ngày sau khi họ trở về, Hillary gửi một thông điệp mạnh mẽ đến toàn thể nhân viên và Nhà Trắng về việc Ross và Cohen đang ở đâu trong suy nghĩ của mình. Trong bài phát biểu về Chương trình Đối tác Xã hội Dân sự Mỹ-Nga, Hillary đã dùng hết lời lẽ để nói về lực lượng công nghệ của bà. “Tôi đã thấy Jared Cohen khi đến đây. Tôi không chắc Alec Ross có ở đây hay không. Còn những người khác? Có ai trong nhóm của anh đang ở đây không, Jared?” bà hỏi từ bục phát biểu tại khách sạn Renaissance Marriott ở Washington. “Chúng tôi có một đội ngũ trẻ tuyệt vời, tận tụy cống hiến, những người thật sự quan tâm đến việc kết nối con người với nhau.”
Lo rằng thông điệp chưa được tiếp nhận, một lát sau Hillary tiếp tục: “Tôi rất tự hào về công việc họ đang làm. Họ có mặt ở mọi nơi, từ Mexico, Cộng hòa Dân chủ Congo, cho đến Syria, Nga và khắp mọi nơi trên thế giới.”
Một trong những bài học Hillary rút ra sau hàng thập niên phát biểu trước công chúng, dù là tốt hơn hay tệ đi, đó là sự chỉ trích của đám đông, dù công khai hay không, đều không thể khiến bà ngừng theo đuổi một chính sách. Mối quan tâm mới về quyền lực của công nghệ trong và ngoài nước, cũng như sự tín nhiệm của bà vào những trợ lý đến từ ngoài vòng thân cận, là bằng chứng rõ ràng về sự sẵn sàng đề ra một chiến lược mới sau những thất bại trước đó. Chúng nhanh chóng trở thành chỉ dấu cho sự cam kết tiếp tục theo đuổi xu hướng mới của Hillary, bất chấp mọi trở ngại trên đường.
Trong bốn năm, bà đã giữ vững lập trường về khái niệm “Tập thể Bộ Ngoại giao thế kỷ XXI.” Bà đã thể hiện lòng trung thành không chỉ với triết lý sống của mình mà còn với những người đi theo triết lý ấy, kể cả khi buộc phải hành động ngược với Nhà Trắng hoặc một số người trong Bộ Ngoại giao. Với Hillary, lòng trung thành giống như con đường hai chiều, và việc bà bảo vệ đội ngũ đổi mới của mình chính là biểu hiện của lòng trung thành vốn không thể mua bán từ những công ty tư vấn chính trị. Những người trung thành đó sẽ theo bà, cả khi bà rời Bộ Ngoại giao. Giờ đây bà đang có hàng tá người trung thành, những người luôn trong tư thế sẵn sàng vận dụng các kiến thức chuyên môn về cơ sở dữ liệu, mạng xã hội, công nghệ di động và xây dựng phong trào… vào công việc chính trị. Có người trong số họ tham gia nhóm của Hillary khi bà chuyển sang làm các hoạt động từ thiện vào mùa xuân năm 2013. Và cả hơn trăm nhân viên Bộ Ngoại giao, thành viên trong “Tập thể Bộ Ngoại giao thế kỷ XXI”, chắc chắn sẽ tham gia chuẩn bị cho chiến dịch vận động tranh cử tổng thống sắp tới của bà, điều mà một trong những trợ lý cho rằng có thể khiến nỗ lực của Obama năm 2012 trở nên lỗi thời, nếu như Hillary chạy đua thêm lần nữa.
“Như người ta có thể hình dung, bà ấy có những người rất, rất gần gũi với mình, sẵn sàng đi theo,” một người bạn thân của Clinton làm việc tại Bộ Ngoại giao cho biết. “Những người này gồm cả những ai ủng hộ, lẫn những người khác nữa, sẽ liên kết lại để tạo nên một chiến dịch vận động tranh cử của thế kỷ XXI khác hoàn toàn với chiến dịch năm 2008. Đây là những người trong độ tuổi từ 20 đến 35, với một tư duy khác hẳn so với những người từng tham gia chiến dịch [trước đây].”
Là ngoại trưởng, nhưng giống như một vị tổng thống đương nhiệm, Hillary có khả năng làm “lên gân” chính trị bên trong vỏ bọc hoạt động phục vụ lợi ích của Mỹ. Hillary không thể tham gia các đợt vận động hay gây quỹ cho các ứng viên Đảng Dân chủ, nhưng Bộ Ngoại giao đã tạo nhiều cơ hội để bà vận động bè bạn, bổ sung các hoạt động, vươn tới những thế lực hùng mạnh hơn trong giới kinh doanh, cả trong Chính phủ và khu vực phi lợi nhuận. Ngoài những địa chỉ liên lạc của các nhà tài trợ cho Shanghai Expo và nỗ lực bổ sung những thiếu hụt về công nghệ số, Hillary còn xây dựng được các mối quan hệ đối tác công-tư nhằm trao quyền cho phụ nữ và các bé gái; bà cũng đã cử lãnh đạo các tập đoàn đến các nước với vai trò của những nhà ngoại giao không chính thức để tìm kiếm những địa bàn thương mại mới, và thúc đẩy mối quan hệ với các chính trị gia thuộc cả hai đảng để thúc đẩy lợi ích của Bộ Ngoại giao ở Capitol Hill. Bằng những cách đó, Hillary đã quan tâm chăm sóc cho bộ máy chính trị của nhà Clinton.
❀ ❀ ❀
[1] Một số cử tri đã bỏ phiếu cho Hillary trong kỳ bầu cử sơ bộ nhưng không chịu ủng hộ cho Obama. Họ gọi cuộc đoàn kết Obama/Clinton là PUMA, viết tắt của “Party Unity My Ass” (Thống nhất Đảng, cái đít tao). Thậm chí, họ tuyên bố sẽ bỏ phiếu cho John McCain. (BT)
[2] Rhode Island: tiểu bang có diện tích nhỏ nhất của Mỹ. Tên chính thức của Rhode Island là The State of Rhode Island and Providence Plantations. (BT)