DƯỚI ĐƯỜNG MỚN NƯỚC

Hillary Clinton: Bí Mật Quốc Gia Và Sự Hồi Sinh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 11 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
11

❊ ❊ ❊

Leon Panetta có một bí mật. Đó là thời gian vị giám đốc CIA này hướng dẫn Hillary làm quen với tình hình. Tại cuộc họp trong Phòng Tình huống ở Nhà Trắng, ông nói với Hillary là muốn nói chuyện riêng với bà. Vì thế, ngày 7 tháng Ba năm 2001, Panetta đã đến Bộ Ngoại giao thăm Hillary để thông báo về một chiến dịch sẽ rất nhạy cảm và nhiều áp lực, đến nỗi bà vẫn không thoải mái ngay cả khi kể lại với chồng. Panetta biết Hillary từ rất lâu khi ông còn là chánh văn phòng của Tổng thống Bill Clinton nhiệm kỳ đầu, khi ông ta cố gắng kéo bà ra khỏi những quyết định được đưa ra ở khu West Wing. Trong Phòng Tình huống, họ thể hiện đúng tính cách của mình, vì họ thường hành động như người trong cùng một nhà, có thể chảnh chọe với nhau theo cách không giống ai.

Mối quan hệ thân thiết đó đã tác động nhiều đến Panetta khi hai nhân vật chính trị kỳ cựu ngồi trên hai chiếc ghế bành có hình đại bàng tại phòng ăn ấm cúng của Tổng thống James Madison [1] nằm ở tầng trên cùng của Bộ Ngoại giao. Trong phòng có một bức tượng bán thân bằng đá cẩm thạch của Daniel Webster [2] trị giá 70 nghìn đô-la. Trong lúc ăn trưa, Panetta nói với Hillary rằng các nhân viên tình báo đã xác định được nơi trú ẩn của Osama bin Laden tại một khu nhà ở Abbottabad, Pakistan. Tổng thống đã được thông báo tin này và chỉ một vài quan chức quân đội và tình báo cấp cao mới được biết. Panetta thông báo cho Hillary vì ông cần bà lên kế hoạch hành động. Vẫn có ý kiến nghi ngại ở cả Nhà Trắng và Lầu Năm góc – và CIA không thể chắc chắn rằng Bin Laden ở trong khu nhà đó.

Nhưng Panetta tin cơ hội này là có thật, và ông cần một người ủng hộ mạnh mẽ rằng đây là thời điểm tấn công. Một nhân viên tình báo cấp cao nói, “Mọi chuyện ngày càng rõ ràng, chúng ta sẽ phải sử dụng tình báo, và bất cứ hành động nào đều phải có sự đồng ý của Ủy ban An ninh Quốc gia, việc này xảy ra trên đất Pakistan nên cần sự đồng ý của cả Hillary. Thứ hai, tôi nghĩ rằng ông ta tin bà ấy có khả năng giải quyết vụ Bin Laden.” Hillary và Panetta cũng tin rằng, Obama có thể sẽ quá bàn luận, quá do dự, quá cầu toàn. Trong khi đó, Hillary là “người có thiên hướng hành động.”

Như nhiều quan chức hàng đầu trong chính quyền Obama, Hillary đã được tổng thống đích thân ủy thác hoạch định hoạt động bí mật vào thời điểm Bin Laden cuối cùng cũng xuất hiện lại trong tiêu cự ống ngắm của Mỹ. Chịu trách nhiệm tại các cuộc đàm phán trực tiếp với Chính phủ Pakistan về các vấn đề ngoại giao và phát triển, Hillary được xem là “găng tay nhung bọc quả đấm sắt” của sức mạnh Mỹ tại Pakistan. Bà mang tới cuộc tranh luận một số quan điểm đặc trưng của một thượng nghị sĩ đại biểu cho New York nơi Bin Laden đã giết hại gần ba nghìn người; của một đảng viên trung kiên của Đảng Dân chủ hiểu được mối nguy mà tổng thống sẽ đối mặt nếu để Bin Laden trốn thoát; của một nhà ngoại giao đã sử dụng mọi kênh có thể để bảo đảm rằng CIA hoặc tình báo Pakistan phải tìm thấy được nơi ẩn náu của Bin Laden. Những người khác có thể tranh luận về cách thức và thời gian chính xác cho cuộc tập kích, nhưng không ai thể hiện quyền uy hơn Hillary trong cách lập luận về phương diện chính trị và đạo đức khi thực hiện một cuộc tấn công hoặc bào chữa cho việc xâm phạm chủ quyền Pakistan. Hillary nghĩ, không gì quan trọng hơn việc tóm được tên khủng bố hàng đầu thế giới. Năm 2007, bà đã lớn tiếng với David Petraeus tại một buổi điều trần, bà đã lên kế hoạch chỉ trích Tổng thống George W. Bush về sự kiện nổi dậy của Iraq, một phần do ông đã để xổng mất Bin Laden.

Hillary rất ngạc nhiên khi Panetta trình bày thẳng thắn những gì khiến ông ta tin đây là một tình huống có một không hai để xử lý Bin Laden. Bà nói, “Leon và tôi làm việc với nhau đã lâu. Tôi nghĩ, trong tất cả những lần nói chuyện với nhau những năm qua – đặc biệt là khi ông ấy phụ trách CIA và tôi làm việc ở Bộ Ngoại giao – ông ấy hiểu rằng, nếu đây là cơ hội đặc biệt để tóm được Bin Laden, chúng tôi phải nắm lấy ngay, và đây cũng là cơ hội tăng cường niềm tin của người dân Mỹ với hành động của chúng tôi. Với riêng tôi, đó còn là vấn đề cá nhân, bởi bản thân tôi vẫn chưa thoát khỏi những ám ảnh của vụ tấn công khủng bố 11 tháng Chín.”

Hillary đã cân nhắc kỹ lưỡng giữa khả năng cần đến sự hỗ trợ của Pakistan, với lợi ích của Mỹ trong việc truy đuổi và tiêu diệt khủng bố, từ trước khi bà tiếp nhận công việc hiện tại, ít nhất trong những buổi họp chuyển giao diễn ra vào mùa thu năm 2008. Hillary gọi Holbrooke là “đại diện đặc biệt tại Afghanistan và Pakistan,” xem ông như một phần của nỗ lực rộng lớn hơn của chính quyền nhằm tìm hiểu và xử lý cái sự thật hiển nhiên rằng Pakistan, nơi trú ẩn của các tổ chức khủng bố, vẫn là vấn đề cốt lõi nhất tại khu vực này. Để tranh thủ sự hợp tác của quân đội và Chính phủ Pakistan trong cuộc chiến chống khủng bố và khả năng đàm phán về hòa bình tại Afghanistan, Hillary và những nhân vật cấp cao trong chính quyền Obama đã liên tiếp bày tỏ sự quan tâm mới đối với đất nước này, khiến các nhà lãnh đạo Pakistan tin rằng mình đang được tôn trọng ngang bằng với nước đối thủ là Ấn Độ trên trường quốc tế. Uy tín và sự hỗ trợ của Mỹ chính là những củ cà rốt. Nhưng đằng sau đó là rất nhiều cây gậy.

Tháng Mười năm 2009, trong chuyến công du đến Pakistan trên cương vị ngoại trưởng Mỹ, Hillary đội một chiếc khăn quấn đầu, một biểu tượng tôn trọng truyền thống ôn hòa – và cả sự bất bình đẳng với phụ nữ, trong hình thức che mặt – trong đại bộ phận thế giới Hồi giáo. Nhưng không có bất cứ một yếu tố ôn hòa hoặc che mặt nào xuất hiện trong thông điệp của Hillary. Bà đã cáo buộc Chính phủ Pakistan dung túng và tiếp tay cho Bin Laden, tổ chức Al Qaeda và những kẻ đứng đầu Taliban. Bà đã nói với một nhóm phóng viên Pakistan rằng, “Tôi thấy thật khó tin khi chẳng ai trong Chính phủ của các bạn biết được nơi ẩn náu của bọn khủng bố và không thể tiêu diệt được chúng dù họ muốn thực hiện. Có thể, sự thật là thế – và cũng có thể, họ không có khả năng. Theo chúng tôi được biết, bọn khủng bố đang ẩn náu tại Pakistan.”

Chẳng cần bí mật về việc Obama không tin tưởng Chính phủ Pakistan. Trong một buổi nói chuyện riêng khi mới nhậm chức nhiệm kỳ thứ nhất, Obama nói, “Tôi có thể nói rất rõ ràng rằng, chúng ta đều biết Pakistan đang nói dối mỗi khi chúng ta trao đổi với họ.” Ông nói sẽ cho phép đơn phương không kích vào những mục tiêu bên trong Pakistan nếu Chính phủ nước này không thể hoặc không muốn giúp Mỹ. Lần đó, Hillary đã chỉ trích tổng thống – chỉ vì ông quá thẳng thắn. Bà nói, “Có thể rất hay nếu chiến lược mà chúng ta theo đuổi dựa trên tình báo dẫn đến một hành động chắc chắn. Nhưng tôi nghĩ sẽ là sai lầm lớn nếu như chúng ta gửi điện báo về vấn đề này.”

Nhưng đến tháng Mười một năm 2009, khi trở thành nhân vật ngoại giao hàng đầu của Obama, Hillary đã tránh không nhắc lại chính xác những gì Obama đã tuyên bố gần hai năm trước, rằng nếu Pakistan không muốn hợp tác trong cuộc chiến chống khủng bố thì Mỹ sẽ không ngại hành động một mình. Song Pakistan không nên hiểu sai rằng có sự khác biệt giữa ngoại trưởng và tổng thống trong vấn đề này.

Hillary không xin phép để từng bước đẩy mạnh việc gây sức ép công khai với các nhà lãnh đạo Pakistan, và khi những bình luận về bà trở thành tâm điểm của báo chí quốc tế, Jake Sullivan đã gọi điện về Washington để báo cáo điều này với Ben Rhodes ở Nhà Trắng. Hillary không yêu cầu sự khoan dung, mà muốn tìm ra một sáng kiến hay hơn về điều mà tổng thống mong muốn bà thực hiện, khi bà được hỏi ý kiến về việc này một lần nữa – điều chắc chắn sẽ xảy ra vào lần kế tiếp khi bà bị phỏng vấn. Những gì bà ấy đã nói đều đúng cả chứ? Bà ấy đã đi quá xa chăng? Bà ấy có nên rút lại quan điểm về vấn đề này không?

Thay vì phản đối, viên cố vấn của tổng thống nói rằng ông thích tính thẳng thắn và mạnh mẽ của Hillary. Dù thế nào chăng nữa, tầm nhìn của Obama về chính sách của Mỹ trong khu vực “AfPak” đã khiến ông càng nghi ngờ Pakistan. “Hãy nhắc lại lần nữa,” Rhodes bảo Sullivan, khuyến khích Hillary nhắc lại mệnh lệnh trong chuyến công du kia.

Bin Laden chính là “chiếc chén thánh” về an ninh quốc gia đối với Obama. Nhưng chính tại Pakistan, người Mỹ phải thực hiện một sứ mạng cực kỳ nhạy cảm. Ngoài vấn đề Bin Laden, Mỹ cần Pakistan hỗ trợ chống lại lực lượng khủng bố Taliban tại Afghanistan và tiêu diệt những phần tử khủng bố hoạt động trong lãnh thổ của Pakistan dọc theo biên giới Afghanistan. Các nhân viên tình báo Mỹ cần phải được tạo điều kiện để hoạt động trong lãnh thổ Pakistan, Lầu Năm góc cần phối hợp các hoạt động quân sự với Pakistan, chia sẻ thông tin tình báo, Mỹ phải được sử dụng các tuyến vận tải từ cảng Karachi của Pakistan tới Afghanistan.

Mỹ đã phải duy trì quan hệ tốt đẹp ngắn hạn với Pakistan – với cả chính phủ và người dân – để bảo đảm sự hợp tác tiếp theo, thậm chí cả thời điểm Mỹ và NATO thực hiện những nhiệm vụ bí mật trong lãnh thổ Pakistan, vốn ngày càng gia tăng tần suất và đôi khi giết nhầm đối tượng. Nhưng ít nhất tại thời điểm khởi đầu của chính quyền Obama, các quan chức Mỹ đều lạc quan cho rằng họ có thể xây dựng được mối quan hệ lâu dài tốt hơn với Pakistan.

Mục đích chuyến công du của Hillary là nhắm tới hai mục tiêu ngắn hạn và dài hạn. Phối hợp với Holbrooke, bà chịu trách nhiệm cung cấp cho Pakistan các dịch vụ cứu trợ dân thường, gồm tiền và quan trọng hơn là kỹ thuật, trong mọi lĩnh vực, từ nông nghiệp, điện năng đến giáo dục. Ở Mỹ, Hillary tập trung xây dựng mối quan hệ giữa Bộ Ngoại giao Mỹ và cộng đồng Pakistan sống tại Mỹ thông qua nỗ lực cung cấp hàng cứu trợ đến đúng nơi cần thiết và biến người Mỹ gốc Pakistan thành những đại sứ không chính thức với chính gia đình họ ở Pakistan. Cũng giống các nhóm Do Thái mà Hillary đã kết nối thông qua Kris Balderston và Văn phòng Đối tác Toàn cầu của ông ta, cộng đồng người Pakistan cũng tạo ra cơ hội vừa củng cố quan hệ giữa Mỹ và người dân Pakistan, vừa giúp Hillary củng cố quan hệ với các nhà hoạt động và tài trợ trong các cộng đồng người Mỹ gốc Pakistan. Tất nhiên, sự giận dữ của người Pakistan về những hành động của Mỹ trong việc vi phạm chủ quyền nước họ và cả việc giết hại dân thường sẽ không bao giờ nguôi, cho dù Mỹ đang nỗ lực xây dựng cầu đường, tham gia viện trợ người dân Pakistan hoặc giúp đỡ quá trình hiện đại hóa cơ sở vật chất điện năng của nước này. Nhiệm vụ của Hillary là giảm nhẹ sự chống đối của Pakistan đối với sự hiện diện của người Mỹ trên đất nước họ.

Mỹ có cả một câu chuyện hay để kể về việc họ đã viện trợ Pakistan như thế nào, nhưng Hillary tin rằng, chẳng ai ở đất nước này lắng nghe câu chuyện đó. Mỗi lần Trung Quốc xây dựng một con đường hay một cây cầu ở Pakistan – một sự viện trợ rõ ràng – là một lần họ có thêm sự tín nhiệm. Nhưng viện trợ của người Mỹ, mặc dù gồm cả cứu trợ nạn nhân động đất, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và các dự án cấp thấp khác, lại chỉ được ghi nhận khá hạn chế. Hillary cố gắng khiến người dân chú ý đến những điều tốt đẹp mà nước Mỹ đang làm cho họ. Bà nói, “Nếu những người đóng thuế ở Mỹ trả tiền cho những việc ở Pakistan để chúng ta giành lấy những đặc ân, sự cảm thông cũng như sự công nhận, thì chúng ta cần phải làm ngay.”

Ở Pakistan, Hillary không chỉ gặp các quan chức chính phủ cấp cao mà còn gặp các nhà lãnh đạo tinh thần và người dân, đây là một ví dụ cho thấy việc bà thiết lập quan hệ trực tiếp với người dân của một đất nước – và những công dân Mỹ là người thân của họ – để gây ảnh hưởng lên chính sách đối ngoại của quốc gia đó. Trong một mô hình quá quen thuộc suốt nhiệm kỳ của mình, bà đã gặp gỡ người dân và các nhà báo Pakistan trong các sự kiện được tổ chức tại các hội trường thành phố, giống như lần tranh cử chức thượng nghị sĩ New York. Tại một diễn đàn, một sinh viên Đại học Peshawar so sánh các cuộc tấn công khủng bố nhằm vào dân thường với các cuộc không kích nhầm của quân đội Mỹ. Sinh viên đó hỏi bà, “Ở nước Mỹ, bà có xem nạn nhân của cả hai trường hợp này đều là nạn nhân của chủ nghĩa khủng bố không?”

Hillary trả lời, “Không, tôi không nghĩ vậy.”

Về phương diện ngoại giao và cả trên thực tế, Hillary là bộ mặt phản ánh nỗ lực của Mỹ trong việc xây dựng mối quan hệ lâu dài hơn với Pakistan. Nhưng về mặt kỹ thuật, bà lại tạo ra khoảng trống để CIA và quân đội tiếp tục thực hiện các chiến dịch có thể gây tổn hại đến người Pakistan, cũng như làm cho Chính phủ Pakistan khó hợp tác với Mỹ hơn, đó là nhận định từ các nguồn tin tình báo và cộng đồng ngoại giao.

“Bà ấy có các chủ đề nổi và cả những chủ đề ngầm,” một quan chức cấp cao Mỹ chuyên nghiên cứu về vấn đề Pakistan nói. “Những chủ đề nổi bao gồm phát triển, ngoại giao, viện trợ nước ngoài, thậm chí là trợ giúp an ninh. Những chủ đề này dễ nhận ra, cho nên bà có thể thực hiện các chủ đề ngầm kèm theo đó. Đó là các cuộc không kích, hợp tác chống khủng bố và chia sẻ thông tin tình báo với Pakistan.”

Ngày 1 tháng Năm năm 2010, Faisal Shahzad, một người Mỹ gốc Pakistan có liên hệ với lực lượng Taliban hoạt động ở Pakistan đã thất bại trong việc kích nổ xe bom đặt trên quảng trường Thời đại. Sau đó, các quan chức Mỹ đã triển khai gấp đôi số nhân viên ở các địa bàn. Vài ngày sau vụ đánh bom bất thành đó, Panetta và cố vấn an ninh quốc gia Jim Jones bay sang Pakistan mang theo một cảnh báo cứng rắn. Họ đưa cho phía Pakistan những thông tin về mối liên hệ giữa Al Qaeda, Taliban, những tín đồ Hồi giáo thánh chiến ở Pakistan và những tổ chức tôn giáo đang hoạt động ngoài biên giới nước này. Tận dụng vụ quảng trường Thời đại làm cái cớ để tăng cường các hoạt động tình báo trên lãnh thổ Pakistan, các nhân viên an ninh Mỹ đã nói với các đồng sự Pakistan rằng đất nước Pakistan của họ đang bị bao vây và họ thậm chí không nhận thấy điều này.

Panetta nói, “Nếu xảy ra một vụ như thế nữa, và nó thành công – nếu một ai đó đánh bom vào mục tiêu nào đó ở Mỹ – và nó liên quan đến Pakistan, chúng tôi sẽ phải làm gì đó.” Tổng thống Asif Ali Zardari đáp lại rằng, Shahzad là người Mỹ, và Mỹ cần phải tiến hành nhiều biện pháp hơn nữa để kiểm soát những công dân Mỹ có liên hệ với bọn khủng bố.

Một nhân viên có mặt trong cuộc họp đó nói, “Tôi thấy [Panetta và Jones] đang cố gắng tạo ra những điều kiện để thực hiện những hành động đơn phương thông qua những sai lầm đang diễn ra.” Nguồn tin từ cuộc họp còn cho biết thêm, thái độ của Mỹ là thái độ ủng hộ việc đẩy tới giới hạn cao nhất các hoạt động ngầm ở Pakistan theo quan điểm cho rằng các quan chức Pakistan đang dung dưỡng bọn khủng bố. “Theo tôi, tất cả quá trình này tạo điều kiện cho việc điều tra nơi trú ẩn của Bin Laden. Hai ông này đang cố gắng xây dựng một môi trường thuận lợi như vậy,” nhân viên này nói.

Tất nhiên, vào năm 2010, số lượng các cuộc không kích tiến hành theo thông tin tình báo trên lãnh thổ Pakistan đã tăng lên gấp đôi và khiến phía Pakistan tức giận, đặc biệt vì họ không được thông báo chính xác, hoặc các cuộc không kích đó đã sát hại nhầm dân thường. Điều này đặt Hillary trước một sứ mệnh phức tạp khi hoạt động như tấm đệm cho quân đội và các cộng đồng tình báo. Một quan chức tình báo cho biết, “Bà ấy đã tổ chức nhiều cuộc họp, đã phát biểu rất nhiều ở các tòa thị chính, tổ chức nhiều cuộc họp báo và thực hiện nhiều chuyến công du; điều này đã làm thay đổi toàn bộ tiến trình thảo luận. Nó đã thật sự dọn đường cho chúng tôi làm việc của mình.”

Căng thẳng giữa hai nước lên đến đỉnh điểm vào cuối tháng Một năm 2011 khi Raymond Davis, nhân viên CIA dưới vỏ bọc ngoại giao, đã bắn chết hai dân thường Pakistan đang đi xe máy tiến lại gần ô tô của anh ta. Chính quyền Pakistan đã phát hiện trong chiếc máy ảnh tìm thấy trong ô tô của anh ta có những bức ảnh chụp các mục tiêu quân sự, một số người cho rằng anh ta đang cố gắng thu thập thông tin về mối liên hệ giữa tình báo Pakistan và các nhóm khủng bố đã tổ chức cuộc tấn công đẫm máu ở Mumbai, Ấn Độ cuối năm 2008. Đó thật sự là cơn ác mộng về ngoại giao đối với Mỹ: một gián điệp Mỹ giết hại hai dân thường Pakistan. Obama đột nhiên bị đẩy vào tình huống phải tranh biện để bảo vệ nhân viên tình báo này khỏi bị xét xử, theo quy định miễn trừ ngoại giao quốc tế – mặc dù mọi người đều hiểu rằng anh ta không phải là nhân viên ngoại giao. Vì chỉ quan tâm đến việc truy tìm Bin Laden và chỉ có một vài quan chức cấp cao của chính phủ được biết, nên không dại gì Mỹ lại để lộ thông tin này với Pakistan. Nhưng Mỹ cũng không thể ngồi cùng bàn với Pakistan nếu nước này xử tử nhân viên tình báo Mỹ. Hillary đã ép Zardari phải thả Davis và thể hiện sự không hài lòng với Chính phủ Pakistan khi họ từ chối. Bộ Ngoại giao Mỹ đã hủy kế hoạch hội đàm giữa Mỹ, Pakistan và Afghanistan.

Rất may cho Davis và cho cả nước Mỹ khi mối căng thẳng này được giải quyết vào ngày 16 tháng Ba bằng việc bồi thường 2,3 triệu đô-la cho gia đình các nạn nhân, nhờ các nỗ lực đàm phán của Thượng Nghị sĩ John Kerry – người giữ vai trò chính về phía Nghị viện trong việc cung cấp viện trợ của Mỹ cho Pakistan, và của Panetta – người góp phần quan trọng trong một thỏa thuận lớn hơn về yêu cầu lâu dài của Pakistan đòi Mỹ chia sẻ thông tin tình báo trên đất Pakistan. Khi phát biểu ở Ai Cập trong chuyến công du nhằm xây dựng mối quan hệ đồng minh cho việc can thiệp quân sự vào Libya, Hillary đã phủ nhận việc Mỹ trả tiền bồi thường cho các gia đình nạn nhân để Davis được thả, nhưng điều này cũng đồng thời thừa nhận họ đã có cách bồi thường. Một quan chức cấp cao của Pakistan trả lời phỏng vấn của phóng viên Josh Rogin của tạp chí Foreign Policy rằng, “Chúng ta có thể hiểu rằng Chính phủ Pakistan sẽ dàn xếp với gia đình của nạn nhân và Chính phủ Mỹ sẽ đền bù Pakistan bằng cách này hay cách khác.”

Như vậy đã có sự chuyển đổi lớn trong cách Mỹ tiếp cận Pakistan từ khi Obama nắm quyền. Trong khi một số quan chức cấp cao Mỹ tin rằng Hillary sử dụng một cách hiệu quả các phương tiện quyền lực mềm trong ngoại giao và phát triển chúng để tạo điều kiện cho các hoạt động quân sự và tình báo Mỹ ở Pakistan ngay từ khi bà bắt đầu nhiệm kỳ, thì những người khác lại cho rằng bà bị ép vào tình thế phải làm nhiệm vụ của mình.

Một trợ lý an ninh quốc gia của Obama cho biết: “Ngay từ đầu, đã có luồng thông tin rằng có thể phát triển một mối quan hệ sâu sắc hơn với Pakistan. Những mục tiêu sẽ lớn lên từ một hay nhiều bước tiến trong sự hợp tác kiểm soát khủng hoảng... Liệu đó là nhận thức về vai trò của hai bên hay là một tình thế buộc chúng tôi phải thực hiện bước đi này, khó mà nói chính xác được.”

Với Hillary, chẳng có sự lưỡng lự nào cả. Cả hai bên đều gắn kết với nhau. “Chúng ta phải nhìn nhận vấn đề theo cách đó,” bà nói.

Vụ Davis có thể đã không xảy ra trong thời điểm ít thuận lợi hơn đối với Mỹ, khi một vài quan chức cấp cao biết rằng Mỹ sẽ thực hiện cuộc tấn công đơn phương nhằm vào Bin Laden. Một quan chức an ninh của Nhà Trắng nói, “Có thể chiến dịch tấn công Bin Laden sẽ khó triển khai hơn nhiều khi tình hình trước mắt vẫn chưa giải quyết xong. Nói vậy không có nghĩa là chúng ta đã không thực hiện theo cách đó.”

Trong thời điểm này, CIA đã xác định được danh tính người đưa tin của Bin Laden, theo dõi anh ta đến một khu nhà ở Abbottabad, mất hàng tháng để phát hiện xem liệu Bin Laden có sống ở đó hay không. Nhưng tình trạng mất niềm tin giữa Pakistan và Mỹ đang vào lúc căng thẳng nhất và cũng không thể nói được liệu khi nào cuộc truy tìm Bin Laden sẽ chấm dứt. Panetta tin đây là thời điểm hành động và Hillary sẽ giúp thúc đẩy hành động này.

Bà giữ kín bí mật, thậm chí không tiết lộ những gì bà biết được từ Panetta với những trợ lý cấp cao nhất. Nhưng họ vẫn có cảm giác rằng sẽ có chuyện lớn xảy ra. Hillary đến dự các cuộc họp không nằm trong lịch công tác của mình. Thi thoảng, bà mất tích vài giờ, và không giải thích mình đi đâu hay gặp ai. Đôi khi bà xuất hiện tại Nhà Trắng mà hầu như những nhân viên ngoại giao chẳng biết làm thế nào bà đến đó được. Nhà Trắng đã cử Lona Valmoro, một nhân viên chuyên sắp lịch làm việc đáng tin cậy, sắp xếp kế hoạch cho Hillary và chỉ ghi mỗi chữ “họp” vào mục lịch làm việc cá nhân được gửi đến các trợ lý của Hillary. Nó là một ghi chú bất thường.

Từ giữa tháng Ba năm 2011, khi vấn đề Libya trở thành tâm điểm chú ý, đến cuối tháng Tư, Tổng thống Obama đã chủ trì ít nhất năm cuộc họp của Ủy ban An ninh Quốc gia về nơi trú ẩn của Bin Laden và những phương án tiêu diệt trùm khủng bố; đã có hàng loạt các cuộc họp diễn ra tại Phòng Tình huống giữa các quan chức hàng đầu về quân sự, ngoại giao, tình báo và chống khủng bố. Bill Burns, thứ trưởng ngoại giao phụ trách về chính sách, là người duy nhất trong số những phụ tá cấp cao của Hillary tham gia cuộc họp về Bin Laden tại Phòng Tình huống. Ông ấy và Hillary phụ trách việc đàm phán với Pakistan sau cuộc tấn công, đặc biệt nếu nó lan sang phía nam. Thậm chí nếu như cuộc tấn công được thực hiện một cách hoàn hảo, Bộ Ngoại giao cũng cần phải sẵn sàng trước những phản ứng mạnh mẽ không chỉ từ Pakistan, mà còn từ các quốc gia khác. Cần phải có sẵn kế hoạch để bảo vệ các đại sứ quán và lãnh sự quán trước những hành động trả đũa.

Cuộc thảo luận quy mô nhỏ ở Washington xoay quanh hai câu hỏi chính: Nếu các nhân viên tình báo không chắc chắn việc Bin Laden ẩn náu trong khu nhà đó, thì liệu Obama có nên phát lệnh tấn công? Và nếu ông ấy ra lệnh tấn công, thì có nên sử dụng bom, lực lượng đột kích hoặc máy bay không người lái loại nhỏ để nhắm vào mục tiêu hạn chế là Bin Laden?

Hillary thường tự tạo ra một khoảng trống để tiện hoạt động trong các cuộc họp ở Phòng Tình huống. Theo nguồn tin của những quan chức Lầu Năm góc và tình báo tham gia cuộc thảo luận về Bin Laden, mọi người có thể nhận ra rằng ngay từ những ngày đầu thảo luận, Hillary luôn ủng hộ một cuộc tấn công, có thể bằng máy bay thường, máy bay không người lái, hoặc lực lượng biệt kích SEAL.

“Ngoại trưởng Clinton rất chú trọng đến thực tế rằng chúng ta phải hành động sớm hơn, không được để muộn,” một quan chức tình báo cao cấp nói. “Đây là cơ hội tốt nhất để chúng ta bắt Bin Laden kể từ sau sự kiện Tora Bora [3]; chúng ta không được để bất cứ quốc gia nào, kể cả Pakistan, tham gia chiến dịch lần này, hoặc than phiền về họ theo bất cứ cách nào; chúng ta phải làm bằng được. Lúc đầu, cuộc thảo luận tập trung vào cách thức không kích, tôi nghĩ đó có lẽ là điều làm Hillary hài lòng.”

Suốt sáu tuần, nhiều quan chức đã đưa ra hàng loạt những lo ngại và cảnh báo, điều quan trọng nhất là họ vẫn chưa chắc chắn liệu Bin Laden có thật sự ẩn náu trong khu nhà ở Abbottabad hay không. Trong một cuộc họp, các cố vấn của Obama đã thảo luận về việc có nên hợp tác với Pakistan trong chiến dịch này hay không. Ý kiến này nhanh chóng bị bác bỏ vì nguy cơ lộ kế hoạch – hoặc phía Pakistan có thể đánh động cho Bin Laden.

Sau đó, một câu hỏi khác được đưa ra một cách vô tình về việc liệu danh dự của Pakistan có bị xúc phạm hay không vì một cuộc tấn công đơn phương. Hillary thốt lên: “Thế còn danh dự của chúng ta thì sao!?”

Một nỗi lo ngại khác đã khiến một số quan chức phải bận tâm đôi chút khi nghe về những gì đang xảy ra bên ngoài biên giới Mỹ. Một quan chức cho biết, cuộc đột kích Bin Laden được chuẩn bị triển khai ngay trong đêm – đêm thứ Bảy – khi Nhà Trắng tổ chức bữa cơm tối dành cho Hội Nhà báo, một bữa tiệc đặc biệt trang trọng dành cho giới truyền thông hàng đầu ở Washington, những nhân vật đứng đầu Chính phủ và thậm chí một số diễn viên Hollywood nổi tiếng. Cũng có ý kiến ngờ vực liệu mọi người có chú ý nếu như toàn bộ lực lượng tình báo bỏ qua bữa tiệc đó, hoặc liệu mọi chuyện sẽ trở nên xấu hơn không nếu như tất cả đều có mặt tại bữa tiệc mà cuộc tập kích lại thất bại.

“Quan điểm của bà ấy là chúng ta phải làm bất cứ điều gì để bảo đảm giữ bí mật về chiến dịch,” theo một nguồn tin có mặt tại phòng họp. Khi đã nghe đủ những ý kiến tiến-và-thoái về các phương án, Hillary nói, “Quên ngay cái bữa tiệc chiêu đãi nhà báo ở Nhà Trắng đi.”

Bà còn có một lo ngại lớn hơn. Bà tin rằng phạm vi những người được biết kế hoạch đã bị mở rộng, khiến việc giữ bí mật về chiến dịch ngày càng khó khăn. Nếu kế hoạch bị lộ, Bin Laden sẽ thoát khỏi tay Mỹ một lần nữa, giống như trong sự kiện Tora Bora khi người Mỹ xâm nhập Afghanistan.

Sau một thời gian, chủ đề thảo luận đã không hướng đến cuộc không kích, vì cần quá nhiều vũ khí để chắc chắn tiêu diệt được Bin Laden, và mọi người chuyển sang thảo luận về việc sử dụng lực lượng đột kích đặc biệt. Ý tưởng thứ hai được Hillary ủng hộ và bà có vẻ bị thuyết phục bởi yêu cầu cần phải tóm được Bin Laden, hơn là việc “tìm dấu ADN trên một viên đá nào đó” sau khi tiến hành tập kích bằng không quân.

Đô đốc Bill McRaven, chỉ huy trưởng lực lượng bộ binh, đã thuyết phục được Hillary đi đến quyết định cuối cùng là xem đội tập kích SEAL là lựa chọn tốt nhất.

McRaven nói, “Chúng tôi biết mình phải thực hiện chiến dịch như thế nào. Chúng tôi đã tiến hành nhiều lần ở Iraq và Afghanistan rồi. Giờ thì chúng tôi rất thành thạo.”

“Nếu ông tiến sâu vào lãnh thổ Pakistan, thì ông phải hoạch định chu đáo cho mọi việc,” Hillary đáp.

Họ thảo luận về tất cả những yếu tố bất ngờ có thể xảy ra, kể cả khả năng quân đội Pakistan can thiệp ngay giữa cuộc tập kích. Cuối cùng, Hillary cho rằng kế hoạch của McRaven là hoàn hảo.

Phó Tổng thống Joe Biden và Bộ trưởng Quốc phòng Roberts Gates, hai người có tiếng nói mạnh mẽ nhất trong số ít những cố vấn của tổng thống, đã không nhất trí. Biden không bị thuyết phục hoàn toàn rằng Bin Laden đang lẩn trốn trong khu nhà đó. Gates thì nghi ngờ về sự khôn ngoan của hành động lần này. Ông đề cập đến Chiến dịch Eagle Claw [4] (Móng vuốt đại bàng) – thảm họa năm 1980 đã làm thiệt mạng nhiều binh lính Mỹ tham gia nhiệm vụ giải cứu con tin Iran, và Chiến dịch Black Hawk Down (Ó đen gãy cánh)[5] ở Somalia dưới thời Bill Cliton, gây tổn hại sinh mạng lính Mỹ và trực thăng.

Điều này khiến sự ủng hộ của Hillary càng mang tính quyết định. Obama có thể không nghe theo tư vấn của phó tổng thống và bộ trưởng quốc phòng, nhưng không thể nào phủ quyết cả ba nhân vật đứng đầu nội các của mình. Nếu cả ba đều khuyên ông không làm mà ông vẫn cứ thực hiện, thì một thất bại sau đó sẽ gây ra những tổn thất không thể phục hồi cho uy tín của ông trong những vấn đề an ninh quốc gia vốn đang ảnh hưởng không nhỏ đến chiến dịch tái tranh cử của ông.

Ngày 28 tháng Tư, trong buổi họp cuối cùng về vấn đề Bin Laden, chỉ những quan chức an ninh quốc gia chủ chốt tham dự, không cho phép ai mang theo trợ lý. Đây là thời điểm mà Hillary thể hiện quan điểm của mình, bà làm những gì mà các quan chức hàng đầu thường làm tại Phòng Tình huống: nêu ra những thuận lợi và những rủi ro từ cách nhìn nhận của Bộ Ngoại giao, gồm cả những thiệt hại có thể xảy ra đối với quan hệ Mỹ-Pakistan. Nhưng mọi người đều biết rõ quan điểm của bà. Bà sẽ ủng hộ Obama về vấn đề này, cho dù thất bại hay thành công, hoặc thậm chí bị đả kích về mặt chính trị. Hillary bỏ phiếu thuận cho cuộc tập kích.

Lần thứ hai liên tiếp, sau quyết định tiến hành tấn công Muammar Gaddafi, Hillary đã tách khỏi Gates – vị bộ trưởng quốc phòng mà giờ đây bà nghĩ rằng thiếu đi sự quyết đoán về mặt chiến lược để bà liên kết – khi một lần nữa bà khuyên Obama thực hiện hành động quân sự này. Tính diều hâu của bà một lần nữa đối lập với thiên hướng hòa hoãn của Biden, người đã phản đối các việc như gửi thêm quân vào Afghanistan, sứ mạng ở Libya và bây giờ là cuộc tập kích bắt Bin Laden. Trong cả ba trường hợp Hillary và Obama đều chung quan điểm.

Những người cũ trong chính quyền Clinton cho biết đây là quyết định của Obama, và khi Hillary nghiêng về phía có quyền quyết định, thì vai trò của bà là ủng hộ quan điểm của tổng thống. Một trong những cố vấn thân cận nhất của Hillary nói, “Khi bạn là tổng thống và cố vấn quốc phòng nói rằng họ không thấy thoải mái khi tiến hành một hoạt động quân sự nào đó, thì bạn sẽ phải đưa ra một quyết định khó khăn. Tôi nghĩ rằng khi có Hillary ở bên theo kiểu ‘cứ để chúng tôi làm đi, cứ để chúng tôi làm theo cách này,’ thì sẽ giúp ích rất nhiều cho Obama và những người khác trong phòng họp. Tôi không nghĩ tổng thống cần quan điểm của bà ấy, nhưng tôi biết những người khác trong phòng họp bị sự tự tin quả quyết của bà làm cho dao động hoặc yên tâm.”

Cuộc họp hôm thứ Năm đó của Ủy ban An ninh Quốc gia đã kết thúc mà Obama không đưa ra quyết định nào. Ngày hôm sau, Gates gọi cho Tom Donilon để gửi một thông điệp cho tổng thống. Hai quan chức cấp cao của Lầu Năm góc là Mike Vickers và Michèle Flournoy tham gia quá trình lên kế hoạch tác chiến đã thuyết phục ông rằng, cuộc tấn công này hoàn toàn đảm bảo về mặt chiến lược. Thông điệp của Gates là ông ủng hộ tổng thống. Donilon nói với Gates rằng, tổng thống đã đồng ý tiến hành chiến dịch. Cuộc tập kích dự kiến diễn ra vào thứ Bảy, cùng ngày với bữa tiệc chiêu đãi giới truyền thông tại Nhà Trắng.

Tối thứ Bảy, ngày 30 tháng Tư, các trợ lý của Obama tập trung tại Phòng Bầu dục nói chuyện phiếm trước bữa tiệc lớn. Họ phải chờ vì tổng thống bận trao đổi qua điện thoại với một viên tướng ở Afghanistan. Họ không biết rằng, người ở đầu dây bên kia là McRaven, chỉ huy chiến dịch đặc biệt, người đã lên kế hoạch bắt Bin Laden, và rằng tổng thống gọi điện chúc ông may mắn. Sau khi dập máy, Obama nói với những trợ lý rằng ông muốn xem lại bài phát biểu của mình.

“Tôi nghĩ Bin Laden đã hết trò diễn rồi và chúng ta không cần phải nói về hắn nữa,” Obama nói, chỉ tay vào một dòng trong bài phát biểu chế giễu đối thủ cạnh tranh tiềm tàng của mình trong cuộc tranh cử tổng thống 2012, trong đó có đoạn “Tim “Osama Bin” Pawlenty.” Jon Favreau, người viết diễn văn hàng đầu của Obama, thoáng nghĩ ngay ra việc đổi tên lóng của Pawlenty thành “Hosni.”

Tổng thống yêu cầu ông thêm câu “Xin Chúa ban phước lành cho các chiến sĩ” vào bài diễn thuyết.

Sau khi bày tỏ thái độ rõ ràng về bữa tiệc chiêu đãi ở Nhà Trắng trong cuộc họp về trận tập kích, Hillary đã không dự buổi chiêu đãi, mà tham dự lễ cưới bạn thân của Chelsea. Tại bữa tiệc cưới, trong những câu đối thoại thông thường giữa những người quen biết, một người khách tình cờ hỏi, “Bà có nghĩ rằng chúng ta sẽ tóm được Bin Laden không?” Ngay lúc đó, bà biết rằng chuyện gì sẽ sớm xảy ra cách đây nửa vòng Trái Đất. Bà biết rằng tổng thống đã ra lệnh tấn công vào nơi ẩn nấp của Bin Laden trên đất Pakistan và nhóm SEAL đang chuẩn bị thực hiện mệnh lệnh đó. Bà nhìn người khách đó và mỉm cười, nhẹ nhàng nói, “Tôi thật sự không biết, nhưng tôi có thể nói với bạn rằng chúng tôi sẽ cố gắng.” Bà chắp tay sau lưng khi kể lại việc đó với đài NBC. Ngày hôm sau, Hillary đến Phòng Tình huống để theo dõi cuộc tập kích cùng Obama và nội các.

Sau này Hillary thổ lộ, “Có 38 khoảnh khắc căng thẳng nhất.” Bà bị chụp ảnh khi đang lấy tay che miệng nhưng từ chối bình luận về việc có phải bức ảnh đó được chụp khi chiếc trực thăng bị rơi ngay lúc diễn ra cuộc tập kích. “Tôi không nhớ chúng tôi thấy điều gì trong mili-giây đặc biệt đó. Khi bức ảnh được chụp, hình như tôi hơi lo bị bật ra tiếng ho do dị ứng thời tiết đầu xuân. Dù sao bức ảnh đó cũng không có nhiều ý nghĩa lắm.”

Sự thật là bà sợ. Bà kể, “Chúng tôi ngồi trong căn phòng nhỏ. Tôi ngồi đó và nín thở theo dõi.”

Sau chiến dịch, Obama đã gọi điện cho Bill Clinton, lúc đó đang ở nhà riêng ở Chappaqua. “Hillary hẳn đã kể cho ông,” Tổng thống mở đầu, theo lời kể của một trợ lý Hillary.

Bill Clinton đáp, “Tôi không biết là ông đang nói về điều gì.” Hillary đã chẳng hề đề cập gì về chiến dịch.

❀ ❀ ❀

[1] James Madison (1751-1836): Tổng thống thứ 4 của Hoa Kỳ từ năm 1809 cho đến năm 1817. (BT)

[2] Daniel Webster (1782-1852): Hạ Nghị sĩ Hoa Kỳ, đại diện cho New Hampshire (1813-1817) và Massachusetts (1823-1827), từng là Thượng Nghị sĩ Massachusetts (1827-1841 và 1845-1850), và hai lần làm ngoại trưởng Mỹ dưới thời Tổng thống William Henry Harrison, Tổng thống John Tyler, và Tổng thống Millard Fillmore. (BT)

[3] Trận Tora Bora là sự kiện quân sự diễn ra tại Afghanistan vào năm 2001 trong giai đoạn mở đầu cuộc chiến chống khủng bố của Hoa Kỳ sau sự kiện 11 tháng Chín. Mỹ và các đồng minh cho rằng Osama bin Laden ẩn náu tại Tora Bora. (BT)

[4] Chiến dịch giải cứu 52 nhân viên sứ quán Mỹ ở Tehran vào ngày 24/04/1980, dưới thời Tổng thống Jimmy Carter. (BT)

[5] Chính là trận Mogadishu năm 1993 giữa khoảng 2.000 - 4.000 chiến binh của Liên minh Quốc gia Somali với 160 lính đặc nhiệm, biệt kích của quân đội Hoa Kỳ tại thủ đô Mogadishu của Somalia vào ngày 3-4 tháng Mười năm 1993. Mặc dù thương vong của phía Somalia lớn hơn rất nhiều, song với 19 binh lính chết, 84 bị thương, 1 bị bắt sống, 2 máy bay trực thăng bị bắn rơi bên phía Hoa Kỳ, trận chiến này đã gây ra một cú sốc đối với công chúng Mỹ. (BT)

LLARY CLINTON: BÍ MẬT QUỐC GIA VÀ SỰ HỒI SINH ebook©MotSAch TVE-4u©nguyenthanh-cuibap —★— Nhà xuất bản: NXB Thanh Niên
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.