HÃY KHOAN DUNG KHI THẤT BẠI

Hillary Clinton: Bí Mật Quốc Gia Và Sự Hồi Sinh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2

❊ ❊ ❊

Vào ngày 6 tháng Sáu, ba ngày sau vòng cuối bầu cử tổng thống sơ bộ, Hillary mời khoảng hai trăm trợ lý, cố vấn của cuộc vận động bầu cử và bạn bè dự buổi họp mặt nội bộ tại ngôi nhà gạch đỏ trị giá hơn bốn triệu đô-la của gia đình bà ở Whitehaven Street. Đây là sự kiện biểu thị lần cuối lòng tri ân đối với công sức, trí tuệ, những giọt nước mắt và cả sự ngọt ngào mà họ đã dành cho sự nghiệp của bà suốt hơn một năm trời.

Hôm đó, mồ hôi vẫn túa ra. Đó là một ngày thứ Sáu oi ả ở thủ đô, với những cơn bão mùa hè dữ dội đang hoành hành ở vài vùng ngoại ô, và trong căn nhà có điều hòa của Clinton khách khứa đã đông quá sức chứa của nó, ngoại trừ một phòng tắm có thể vào từ bên ngoài. Một số trợ lý của bà phải cởi giày và nhúng chân xuống bể nước cho mát. Hillary bất chấp cái nóng và độ ẩm ngộp thở để tiếp nhóm cuối cùng, chụp ảnh với các nhân viên bậc trung trong những chiếc sơ-mi sũng mồ hôi.

Bill Clinton nhóm họp nội bộ của mình, phàn nàn về người dẫn chương trình Meet the Press Tim Russert với bất kỳ ai muốn nghe. Russert đã nói đến thời điểm thất bại trong chiến dịch tranh cử của Hillary vào trước đêm bỏ phiếu sơ bộ ở Bắc Carolina và Indiana một tháng. “Đôi khi trong các đợt tranh cử, ứng viên là người cuối cùng nhận ra thời điểm thích hợp nhất,” Russert nói. “Chẳng khác nào việc “sống bằng máy thở” trong bệnh viện. Một khi người ta tháo bỏ thiết bị hỗ trợ ra, anh chẳng còn lựa chọn nào cả.”

Dù Bill đổ lỗi nặng nề cho các ông lớn truyền thông đã nhảy vào phe Obama, thì thật ra Russert chỉ tường thuật một sự thật hiển nhiên, ngay cả với bà Hillary. Chiến thắng sát nút của Hillary tại Indiana – nơi bà từng hoạt động vất vả cho chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1976 của Jimmy Carter – cũng đầy ấn tượng như những gì bà đã đạt được tại Bắc Carolina đêm đó. Một ngày sau các cuộc bỏ phiếu sơ bộ, bà triệu tập một cuộc họp gồm các yếu nhân điều hành chiến dịch, và ra lệnh chấm dứt ngay và triệt thoái hẳn mọi cuộc tấn công có thể gây tổn thương Obama trong cuộc tổng tuyển cử. Tháng cuối cùng của chiến dịch là một hành trình chậm chạp tiến đến định mệnh không thể tránh khỏi của bà.

Ở cuối chặng đường nhọc nhằn ấy, bữa tiệc nội bộ gợi cảm giác của một đêm canh xác chết, một cuộc chia tay có vị ngọt-đắng. Mặc dù dư luận Washington dày đặc những đồn đoán liệu Obama có chọn Hillary đứng liên danh với mình hay không, hai cựu đối thủ đã có cuộc gặp mặt đêm trước đó tại nhà của Thượng Nghị sĩ Dianne Feinstein ở DC, và những người dự tiệc ở nhà Hillary còn chưa hề biết rằng Obama đã nói rõ là mình không có ý định đề nghị Hillary. Đối với đa số mọi người, đại gia đình Clinton cùng các bạn hữu và trợ tá luôn cố giữ không khí vui vẻ. Nhưng vẻ vui tươi bề ngoài đó không che giấu được sự thật rằng hành trình của họ đã kết thúc tại sân cỏ phía bắc tòa nhà Whitehaven Street, chứ không phải ở Sân cỏ phía Nam Nhà Trắng.

Trong khi Hillary lắng nghe những câu chuyện về các chặng đua, chia sẻ những nụ cười, hay ghé đầu chụp ảnh chung, bà không hề thoáng lộ chút xúc động hay hé lộ nhiệm vụ chính trị tế nhị nung nấu trong đầu bà từ đêm trước. Khi người cuối cùng trong các chính trị gia và phóng viên báo chí ra về, Hillary vội tới phòng ăn để viết dự thảo lần cuối của bài diễn văn dự kiến nhường bước mà bà sẽ đọc sáng hôm sau trước những người của Đảng Dân chủ đang chờ đợi xem liệu bà có ủng hộ Obama với lòng tin tưởng hay không. Phòng ăn, ngăn cách với tiền sảnh bằng một cửa trượt kiểu Pháp, là trung tâm làm việc ở tòa nhà Washington của ông bà Clinton, một giáo đường thánh Georgy rộng 5.500 foot [1] vuông được xây dựng từ những năm 1950 và được họ mua lại năm 2000 để Hillary có chỗ ở trong thời gian bà công tác tại Thượng viện.

Cho đến cuối buổi chiều hôm ấy, khi Hillary ngồi cùng với các trợ lý Doug Hattaway và Sarah Hurwitz, bản dự thảo diễn văn đã phản ánh cả những vết bầm dập của một bộ máy vận động tranh cử. Gần như tất cả đều đồng ý rằng Hillary cần ủng hộ Obama và cảm ơn những người ủng hộ cho bà, nhưng họ không thống nhất được xem nội dung của bản dự thảo nên đi theo hướng nào là tốt nhất. Suốt mấy ngày, các cố vấn truyền thông khác nhau của bà gửi những bản thảo qua email, khi tiến khi thoái, với những nội dung trái ngược nhau trong việc biên tập câu chữ. Nhóm lớn hơn, gồm toàn những cố vấn hàng đầu như chiến lược gia chủ chốt Geoff Garin, đề nghị bà thể hiện sự ủng hộ Obama một cách toàn tâm toàn ý để có thể thuyết phục đội của ông ta, Đảng Dân chủ và cả nước rằng bà hoàn toàn chung chí hướng.

Nhóm nhỏ hơn, gồm nhiều phụ nữ thân cận với Hillary, cũng như với Hattaway và Hurwitz, lại khăng khăng rằng bà sẽ không thể toàn tâm toàn ý về phe Obama nếu bà không tuyên bố về lòng biết ơn sâu sắc trước việc bà là nữ ứng viên duy nhất trong lịch sử các cuộc tranh cử tổng thống, và đặc biệt là trước những phụ nữ ủng hộ điều đó. Mấu chốt của vấn đề ở đây là câu hỏi vốn từng gây trở ngại cho chiến dịch tranh cử ngay từ những ngày đầu: Hillary đáng được ủng hộ như thế nào khi là ứng viên nữ đầu tiên cho chức tổng thống?

Trong gần như toàn bộ chiến dịch vận động, bà nghiêng về phía các chuyên gia thuộc trường phái cũ, những người tin rằng bà cần đưa ra những đề án mạnh mẽ và do đó chỉ đề cập tư cách phụ nữ của bà ở mức tối thiểu. Bà đã không có những bài phát biểu kêu gọi sự ủng hộ về giới tính, như cách Obama đã có hẳn một diễn văn về vấn đề chủng tộc. Nhưng, chiến dịch vận động của bà đã được hồi sinh bởi chính sự yếu mềm, trong một khoảnh khắc kiệt sức cảm động, khi giọt nước mắt lăn dài trên khuôn mặt bà giữa lúc ngừng lời ở New Hampshire. Những ai cảm thấy bà thể hiện tốt hơn khi bày tỏ mình với tư cách người thua cuộc, thì đều tin rằng bài diễn văn nhường bước đã tặng cho Hillary một cơ hội để nói về khía cạnh cá nhân mà bà đã kìm nén quá lâu, và chính điều ấy đã thu hút khá nhiều lá phiếu.

Khi Hillary ngồi xuống cùng Hurwitz và Hattaway, bản dự thảo mà họ duyệt lại đã bao gồm cả sự ủng hộ Obama lẫn lời lẽ hùng hồn về vị thế lịch sử của bà. Suốt nhiều tháng trời, bà từng chống lại vòng vây của các cố vấn thân cận, những người muốn bà chốt lại việc tranh cử trong ý nghĩa lịch sử của nó, như cách Obama đã làm. Giờ đây, những dòng chữ trước mắt bà đang thể hiện chính điều đó. Jim Kennedy, cánh tay đắc lực kỳ cựu của Clinton, đã làm nổi bật những câu chữ thể hiện sự thống nhất của Hillary với cử tri của bà trong tiến trình liên tục của phong trào nữ quyền. Gửi bản dự thảo gồm các suy nghĩ của mình từ nhà riêng ở Venice Beach, California hồi đầu tuần, Kennedy đã nhắn nhủ rằng Hillary cần phải nói về “18 triệu khe nứt vỡ [2]” mà chiến dịch của bà đã xuyên thủng tấm trần thủy tinh kiên cố nhất của tất thảy họ.

Hillary vốn luôn thích bày tỏ sự ủng hộ theo cách mạnh mẽ, quả quyết, các trợ lý của bà cho biết. Nhưng khi xem lại bản dự thảo mới nhất trên bàn phòng ăn, bà vẫn không bằng lòng về việc nhấn mạnh vị thế lịch sử của mình. Bà có thiên hướng bày tỏ trước hết và trên hết rằng bà chỉ là thành viên của một đội chơi – một phẩm hạnh mà bà tự hào, một điều cũng rất quan trọng để bảo đảm tương lai chính trị của bà. Bà phải trăn trở rất nhiều vì cách thể hiện quá cường điệu nhằm tôn vinh thành tựu của bà như một phụ nữ đã tiến gần nhất đến việc được một chính đảng lớn đề cử làm ứng viên tổng thống.

Bà đánh một dấu hỏi bên lề đoạn nói về mình.

“ Đừng nhấn mạnh việc là một phụ nữ,” Hillary nói.

“Tìm cách để không nói về chị với tư cách một phụ nữ, mà nói về những người phụ nữ đã hỗ trợ chị,” Hattaway đề nghị, mở rộng lý lẽ của mình, vì biết rằng điều đó thích hợp với một tín đồ Giám lý miền trung tây,[3] vốn sẽ lập tức khó chịu nếu bị xem là đã tự tạo ra sự chú ý đến mình. “Đó sẽ là một thành quả lớn đối với họ.”

Hillary không bị thuyết phục. “Đầu óc bà ấy để đi đâu ấy,” một nguồn tin kể. Sau đó Hurwitz, một luật sư được đào tạo ở Harvard và là chuyên gia viết diễn văn, người đang lặng lẽ ghi chép mọi việc, bỗng ngả người về phía trước và trình bày ý kiến: với một phụ nữ đứng tuổi đang đến gần với quyền lực, đây chính là thời khắc để nói với hàng triệu phụ nữ cùng tuổi, cũng như với những người mẹ, người bà, những người đã gắn bó với Hillary. Họ nóng lòng được nhìn thấy người phụ nữ đầu tiên tại Phòng Bầu dục, khi việc lựa chọn theo lý do ấy được ưu tiên hơn niềm hy vọng nung nấu khác ở phần đông trong họ – bầu cho vị tổng thống da màu đầu tiên. Điều đó, trên tất cả những điều khác, mới là hệ trọng. Không phải Hurwitz mang lòng thù ghét Obama. Vài tuần nữa, có thể, Hurwitz sẽ gia nhập chiến dịch tranh cử của Obama và kết thúc công việc đáng mơ ước là đứng trong đội ngũ viết diễn văn của tòa Bạch Ốc. Nhưng thời điểm này rất hệ trọng đối với khá nhiều phụ nữ đã gửi gắm trọn niềm hy vọng của mình vào Hillary. Cuối cùng, lòng nhiệt thành của Hurwitz và lý do cô đưa ra đã thắng.

Okay, vậy đi, Hillary nói.

Đoạn kết là then chốt, vừa để nói về kế hoạch triển khai hoạt động của Hillary trong những năm tới, vừa là khúc vĩ thanh âm vang cho bài diễn văn bà sẽ đọc ngày hôm sau. Sự cứng cỏi của Hillary và nữ tính nơi bà không hề loại trừ nhau; chúng gắn kết với nhau. Các cử tri, nhất là phụ nữ, gắn bó với bà chính vì đó là một người phụ nữ thép. Suốt mùa hè ấy, từ chiếc bàn phòng ăn hồi tháng Sáu cho đến Đại hội Toàn quốc Đảng Dân chủ ở Denver vào tháng Tám, bà đã bắt đầu mở ra một thiên truyện mới với hoài bão trở thành một sức mạnh chính trị khai sơn phá thạch trong khả năng của mình.

Dù đã hạ dấu chấm cho bài phát biểu, nhưng Hillary vẫn chưa thể đi ngủ. Vẫn còn nhiều chỗ trong bài diễn văn này cần phải gọt giũa cho ăn khớp hoàn toàn với việc ủng hộ. Bà không thể khiến cho những người vẫn trung thành với bà cảm thấy xa cách. Các cố vấn thậm chí lo rằng những người ủng hộ bà có thể quay lưng nếu bà ủng hộ Obama quá mạnh mẽ. Bà biết rằng có khoảng 10% trong số họ sẽ chẳng bao giờ chấp nhận Obama, song bà phải làm sao để có thể vận động được 90% kia. Đây chưa phải lúc bà có thể quay ngoắt sang tán dương Obama. Thật sự, cũng chưa phải lúc cho những đề nghị này nọ. Nhưng nếu bà không đưa ra lời ủng hộ đủ sức nặng, bà có thể gây hủy hoại nghiêm trọng và vĩnh viễn vị thế của chính mình trong Đảng Dân chủ. Không ai muốn tái diễn tình huống vô cùng khó xử khi Ted Kennedy từ chối bắt tay Jimmy Carter sau vòng đầu cuộc đấu năm 1980 giữa họ.

Hillary thức cùng bài diễn văn đến hơn 4 giờ sáng, và sau đó nó được gửi lần lượt tới các cố vấn chóp bu. Garin, chiến lược gia trưởng, điếng người với bản dự thảo cuối, mà ông cho rằng nói quá nhiều về Hillary và chưa đủ về Obama. Ông gửi một e-mail đầy dấu chấm câu chữ-F [4] để lưu ý những chỗ cần khôi phục như cũ.

Ngày hôm đó vẫn còn các bất đồng giữa những cố vấn của Hillary về mức độ gia giảm các nội dung đã làm lúc sáng. “Chẳng ai phản đối hay miễn cưỡng trong việc khôi phục bản thảo về như trước,” một người theo quan điểm của Garin nói. “Vì điều đó là không cần tranh cãi.”

Nhưng một người bạn thích phương án của Hillary đã phản bác kết luận ấy. “Đã có quá nhiều người, kể cả những phe phái khác, nỗ lực đưa ra khá nhiều các điệp khúc về Obama,” người bạn này nói. “Bà ấy đã tận lực hoàn thiện bản thảo này suốt cả đêm.”

Buổi sáng hôm Hillary đọc bài diễn văn nhường bước theo một cách vui nhộn không cố ý – nửa như đám cưới hoàng gia, nửa như cuộc đua ô tô buổi chiều. Giới truyền thông quây khắp tòa nhà Whitehaven, và người xem chứng kiến giờ phút đoàn mô tô hộ tống của bà di chuyển đến Bảo tàng Xây dựng Quốc gia. Bảo tàng này đặc sắc bởi dãy cột Corinth cao hơn 20 mét trong Đại sảnh, nguyên là Văn phòng Cục Trợ cấp Hưu trí ở thế kỷ XIX mà sau này được Nghị viện chuyển thành một đài tưởng niệm về “cảnh quan xây dựng.” Phía trong là kiến trúc kiểu La Mã với chủ ý làm cho ngôi nhà vừa là cơ quan trợ cấp hưu trí Liên bang, vừa là nơi tổ chức các lễ hội lớn ở Washington. Cả Hội trường Đại sảnh, cùng hàng nghìn người hâm mộ nhà Clinton len lỏi vào đó, phải chờ đợi vì Hillary đến muộn. Thậm chí sự chậm trễ này đã bị các đài truyền hình tô vẽ thành một kịch bản có tính toán.

Những chỗ gia giảm cuối cùng cho bài diễn văn đã được thực hiện vào phút chót. Hillary đến chậm gần một tiếng đồng hồ, vượt quá cả “Chuẩn chậm giờ của Clinton,” thuật ngữ người Washington quen dùng để nói về sự thờ ơ của Bill Clinton đối với thời gian biểu của người khác.

Hillary phải chôn sâu cuộc vận động của chính mình trước khi ca ngợi Obama, và bà đã có một bài phát biểu ca tụng dài. Trong hơn 6 phút, với gần 700 từ, Hillary trình bày cả hai vấn đề then chốt nhất ấy, “Cách thức để ngay từ bây giờ tiếp tục cuộc tranh đấu của chúng ta, để hoàn thành những mục tiêu mà chúng ta đang nhắm tới với tất cả năng lực, nhiệt huyết và sức mạnh của chúng ta, là làm tất cả những gì có thể để thúc đẩy cuộc vận động bầu cử cho Barack Obama, tổng thống sắp tới của Hợp chúng quốc,” bà nói.

Trong đoạn cuối cùng, bài diễn văn ở Bảo tàng Xây dựng của Hillary đã nối kết lại thành một những nguyên tắc của bà, của Obama, và các giá trị dân chủ chung mà họ chia sẻ. Như vẫn thường diễn ra giữa các chính trị gia và những bước nhân nhượng của họ, bài diễn văn được đánh giá là diễn văn hay nhất trong chiến dịch của bà. Nhưng điều làm nó sẽ được nhắc nhở đến nhiều hơn cả chính là những ý tứ từng khiến Hillary lưỡng lự đêm hôm trước.

“Giờ đây, về một lời nhắn hỏi riêng tư cho tôi rằng vì mục đích gì mà một người phụ nữ lại tranh cử tổng thống, tôi đã luôn luôn có chỉ cùng một câu trả lời, rằng tôi tự hào tranh cử với tư cách là một phụ nữ, nhưng tôi đã tranh cử vì nghĩ rằng mình sẽ là một tổng thống tốt nhất,” bà nói, tạo ra một âm hưởng vang vọng về câu nói nổi tiếng: “Giá như tôi không phải một phụ nữ” mà Sojourner Truth thốt ra tại một Đại hội Phụ nữ vào năm 1851. “Nhưng tôi là một phụ nữ, và cũng như hàng triệu phụ nữ, tôi biết vẫn còn đầy rẫy những rào cản và định kiến, thường là vô thức, và tôi muốn dựng xây một nước Mỹ biết tôn trọng cũng như tiếp nhận năng lực đến tận người phụ nữ cuối cùng trong chúng ta.”

Sau khi gắn kết các cuộc đấu tranh của phụ nữ và của những người Mỹ gốc Phi lại với nhau, bằng cách tế nhị bày tỏ lòng quý trọng đối với Truth, Hillary bỗng hạ bớt cao trào, để cử tọa bình tĩnh lại – chỉ một khoảnh khắc – trước khi khắc họa một dòng không thể quên trong ký ức chính trị của đất nước.

“Mặc dù lần này chúng ta chưa thể đập vỡ cái trần thủy tinh cao nhất, cứng nhất, nhưng nhờ các bạn, nó đã phải nhận lấy mười tám triệu vết nứt,” bà nói, khi những người ủng hộ bà, một số đã trào lệ, bùng lên hoan hô. “Và ánh sáng đang tỏa rạng qua đó, trước nay chưa từng có, làm tràn ngập trong lòng tất cả chúng ta niềm hy vọng và tin tưởng vững chắc rằng con đường sẽ trở nên dễ dàng hơn trong lần sau.”

Với mọi người đang bừng lên niềm say mê mới mẻ, Hillary đã gắn chặt sự nghiệp của bà với sự nghiệp của Obama nhờ “cuộc kết hôn” hoàn hảo giữa phong trào nữ quyền và phong trào dân quyền cho người da màu. “Hãy nhớ đến những nhà tranh đấu vì quyền bầu cử cho phụ nữ tập hợp nhau ở Seneca Falls năm 1848, và những người đã kiên trì đấu tranh cho đến khi phụ nữ có được lá phiếu của họ,” bà nói. “Hãy nhớ đến những người đòi bãi bỏ chế độ nô lệ đã chiến đấu và hy sinh để được chứng kiến sự kết liễu chế độ này. Hãy nhớ đến những người anh hùng vì dân quyền và các chiến sĩ chân đất, những người diễu hành, phản kháng, và mạo hiểm cả mạng sống của mình để chấm dứt nạn kỳ thị chủng tộc và đạo luật Jim Crow.” [5]

Đó là một sự xoay chuyển mạnh mẽ, từ sức lôi kéo cảm động của phong trào nữ quyền và niềm hy vọng bầu ra vị nữ tổng thống đầu tiên sang một giao thức tương tự của phong trào dân quyền, và khả năng mà những người ủng hộ bà vẫn có thể làm nên lịch sử bằng cách bầu cho Obama. Phụ nữ và những người Mỹ gốc Phi, và nhiều nhà hoạt động xã hội có cùng một cuộc đấu tranh vì bình quyền và bình đẳng. Không những thế, đây còn là một cuộc chiến có tính cá nhân.

“Nhờ có họ, tôi đã lớn lên và mặc nhiên được hưởng quyền bầu cử của phụ nữ, và cũng nhờ có họ, con gái tôi đã lớn lên khi trẻ em thuộc mọi màu da đều có thể cùng nhau đến trường,” Hillary nói. “Nhờ có họ, Barack Obama và tôi có thể tiến hành một cuộc vận động cam go vì chiến thắng của Đảng Dân chủ. Nhờ có họ và nhờ các bạn, trẻ em ngày nay khi lớn lên được thấy một điều hiển nhiên rằng dù là một người Mỹ gốc Phi, hay là một phụ nữ đều có thể, vâng, trở thành tổng thống Hoa Kỳ.”

Không nghi ngờ gì rằng cùng một logic tương tự có thể được áp dụng để tập hợp những người Mỹ gốc Phi, những người gốc Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, những người đồng tính và những nhóm thiểu số khác ủng hộ sự nghiệp của bà một khi bà tái tranh cử tổng thống.

Những lập luận này nghe thật chân thành, vì chính bà cũng đã phải từ bỏ giấc mơ của mình, hay chí ít là trì hoãn nó. Chương trình để bước vào Nhà Trắng của bà đã từng tỏ ra đương nhiên và chắc chắn, và bà chắc chắn sẽ được Đảng Dân chủ nhất trí đề cử, vậy mà giờ đây bà đang được yêu cầu phải ủng hộ một người đàn ông trẻ hơn mình gần 15 tuổi, người đã nhảy vượt lên trước mặt bà. Bà lại còn phải yêu cầu hàng triệu người ủng hộ mình phải cùng làm việc ấy, nên bà cần đưa ra một lời giải thích thuyết phục cho sự thay đổi của chính mình.

Hai phái khác nhau trong đội vận động tranh cử của Hillary đã vật lộn rất lâu để tìm cách cân bằng giữa phần tán dương việc ứng cử của riêng bà với phần ủng hộ việc đề cử Obama, đến mức các thông cáo báo chí chỉ được thảo ra vào buổi chiều sau khi bài diễn văn đã được trình bày. Bài diễn văn thật sự rất khó viết, bà nghĩ, và cũng khó trình bày. Nhưng nó đáng tin cậy, bởi lẽ bà không yêu cầu những người ủng hộ mình phải làm bất cứ điều gì mà bản thân bà không sẵn lòng làm. Giống như việc ra ứng cử của bà, vừa là tham vọng vừa là cảm hứng, và quyết định của bà trong việc gắn mình trực tiếp với sự nghiệp nữ quyền đã là một dấu hiệu sớm chứng tỏ rằng bà đã sẵn sàng viết nên một thiên chính trị mới, thể hiện mình như một người tiên phong, một người trung thành với Obama, còn hơn cả chồng bà hay các cố vấn chính trị lâu năm của ông ấy có thể làm.

Hillary biến mất khỏi con mắt công chúng suốt hai tuần sau bài diễn văn đó, lưu lại một thời gian nơi căn nhà thuở ban đầu của vợ chồng bà tại Chappaqua, New York, rồi đi thăm Cộng hòa Dominica, sau đó trở lại Thượng viện với nghi thức phô trương như một tổng thống vào ngày 24 tháng Sáu, một thứ Ba ẩm ướt. Khi đoàn mô tô hộ tống bà lên Capitol Hill sáng hôm ấy, nhân viên của bà đón bà ở bên ngoài quảng trường phía Đông.

Họ biết đây sẽ là một cuộc trở về khó khăn đối với bà chủ của họ; việc ở lại Thượng viện chưa bao giờ nằm trong kế hoạch. Chính vì thế, họ sắp xếp để việc hạ cánh của bà được êm ái một chút. Thay vì chạm trán các biểu ngữ “Chào mừng trở lại!” và những diễn từ trào lệ bi ai, bà bước vào văn phòng của mình và chứng kiến một trận giao đấu bóng bàn đang sôi nổi. Các nhân viên, trong trang phục thể thao, đầu quấn dải băng, mặc quần soóc, đi tất cao kẻ sọc, đang đánh bóng tới lui. Dan Schwerin, một trợ lý báo chí, người đã quay lại Thượng viện sau thời gian làm việc với Balderston và Elrod cho chiến dịch tranh cử, đã lái xe khắp thành phố để tìm bằng được chiếc bàn bóng này kịp khi Hillary quay về.

Clinton thích thú nhìn cảnh huyên náo, chẳng giống gì quang cảnh trong Thượng viện mà bà không nhìn thấy nhiều tháng qua. Bà nở nụ cười cởi mở. Theo những kẻ thạo tin, âm thanh tiếng cười tràn đầy của bà mang “giọng mái” khiến các trợ lý của bà sợ run; nhưng đối với những nhân viên ái mộ và sốt sắng thì đó lại là một tín hiệu của sự trở lại bình thường. “Tôi thích bóng bàn,” bà thốt lên.

Bà chăm chú xem trận giao đấu, nhìn trái bóng được đập vút đi và bị quật trở lại theo hướng khác, một thứ động năng quá quen thuộc với bà. Không thể kìm được, bà đưa ra cho người trợ lý pháp lý vừa thua trận một lời khuyên mà chính mình vừa tự ngộ ra.

“Hãy khoan dung khi thất bại,” bà nói.

Trong những tuần đó, Hillary luôn nhắc tới lời khuyên của bản thân bà, nhưng bà khó mà làm cho những người ủng hộ cực đoan hoàn toàn nghe theo. Các nhà vận động bầu cử đã đặt một phòng khiêu vũ ở Khách sạn Mayflower tại Washington sau đó hai đêm, đêm 26 tháng Sáu, để bà có thể nhóm họp những nhà tài trợ và các chính trị gia ủng hộ hàng đầu của mình trong một buổi trình diễn tình đoàn kết với Obama. Quả là một cuộc chiến thật sự khi lập danh sách các vị khách, vì nhiều người ủng hộ trung thành nhất của bà vẫn không hào hứng gì với việc chuyển đổi bổn phận. Nhưng căn phòng đã kín người khi Obama và Hillary cùng nhau xuất hiện, và Terry McAuliffe, người từng nhiều năm phụ trách công tác gây quỹ cho gia đình Clinton, đứng ra giới thiệu họ với đám đông. Hillary đã phát biểu rất nhiệt tình về Obama, và ông ta cũng đáp lại với lòng biết ơn, khi thuật lại lời cô con gái Malia nói với mình rằng “sắp đến lúc” để một phụ nữ là tổng thống.

“Tôi cần Hillary đứng về phía tôi để vận động trong cuộc bầu cử này, và tôi cũng cần tất cả các bạn,” Obama nói, sau khi thông báo rằng ông đã ký tờ séc trị giá 2.300 đô-la góp phần thanh toán khoản nợ trong chiến dịch vận động tranh cử của Hillary và cũng đề nghị các nhà tài trợ hàng đầu của mình hành động tương tự. Nhưng cành ô liu hòa bình của ông đã mau chóng bị bẻ làm đôi. Suốt phần hỏi-và-đáp, những người ủng hộ Hillary đã “rắc hạt tiêu” lên ông với những câu hỏi như “mũi kim bọc vải mỏng.”

“Hỏi-và-đáp quả thực đã biến thành một cuộc tranh luận, và một số người ủng hộ quan trọng nhất của bà ấy đã rất thẳng thắn với những câu hỏi có sức thuyết phục,” một người tham dự nhớ lại. “Obama hơi bực bội. Điều đó chẳng hay ho gì... Chẳng ai trong họ thấy vui vẻ. Câu chuyện không hề được dự kiến sẽ xảy ra như thế. Nó vốn được trù tính thành một dịp để bày tỏ tình đoàn kết.”

Cuối cùng Lanny Davis, một luật sư ở Washington và là người trung thành với Hillary, đứng lên dừng cuộc đấu khẩu bằng việc kêu gọi mọi người hãy lịch sự. Trong khi Davis là một người nhiệt thành ủng hộ Hillary, thì con trai ông ta lại là một chàng mê Obama – một dấu hiệu của sự chia cách thế hệ, giờ đây cần khép lại để mang lại lợi ích cho đảng. “Đã đến lúc gia đình cần ngồi lại với nhau và thống nhất hành động như một, bởi lẽ chúng ta cần chiến thắng,” Davis nói.

Đoàn kết, hóa ra không chỉ là một quan niệm mà Hillary muốn thể hiện. Đó còn là tên một thị trấn xa xôi mà bà đã đến thăm để bày tỏ lòng trung thành của mình. Người quản lý chiến dịch của Obama, David Plouffe, bị ám ảnh bởi hàm ý rằng thị trấn Unity,[6] vùng New Hampshire là tượng trưng cho sự hợp nhất bắt buộc giữa Barack Obama và Hillary Clinton. Cái tên của thị trấn nhỏ đó không chỉ là một thông điệp lý tưởng thu hút phe Hillary về với Obama, mà bản thân thị trấn này cũng đã dành cho mỗi ứng cử viên 107 phiếu bầu trong cuộc bầu cử sơ bộ hồi tháng Hai. Unity đã trở thành một ẩn dụ cho bản thân Plouffe: đây là “cuộc hôn nhân” hoàn hảo giữa dữ liệu và truyền tin. Có lẽ đó chính là lý do mà ông ta, hơn bất kỳ ai khác, đã cố gắng hết sức với ý tưởng tổ chức một sự kiện hợp nhất công khai đầu tiên sau vòng sơ bộ tại một thị trấn nhỏ, cách Concord một giờ bay theo hướng Tây.

Chắc chắn sẽ dễ hơn nhiều về mặt hậu cần nếu để Obama và Hillary tập hợp lực lượng trung thành trong Đảng Dân chủ ngay tại Bắc Virginia, ngoại vi Washington DC. tại một bang phồn vinh và quan trọng. Ngoài ra, họ đã tập họp nhau tại Khách sạn Mayflower ở Washington từ đêm hôm trước. Để đến Unity, xa gần 500 dặm, các đối thủ và các trợ thủ của họ phải cùng dồn lại vào một góc chật chội trên máy bay và bay gần 90 phút từ Washington tới New Hampshire. Cứ như hình phạt ấy còn chưa đủ, sau đó họ còn bị nhồi vào xe buýt chạy liền một giờ đồng hồ đến Trường Trung học Phổ thông Unity.

Mỗi một sự kiện của chiến dịch tranh cử tổng thống đều được sắp đặt rất cẩn trọng, nhưng sự kiện Unity thì được dàn dựng chuẩn xác như một điệu vũ ba-lê. Các nhân viên thậm chí còn e-mail để bảo đảm rằng chiếc cà vạt màu hồng-ốc hương của Obama phù hợp với màu bộ vét nữ của Clinton. Các nhân viên vận động bầu cử của Obama chưa bao giờ được sắp xếp trước chỗ ngồi trong một chuyến bay cho đến khi họ lên khoang máy bay. Một trợ lý của Obama ngoan ngoãn làm các tấm thẻ ghi tên cho mấy người trên máy bay, những người có thể xem nhau như “kỳ đà cản mũi” thì ngồi giữa. Obama ngồi ở ghế bên cửa sổ ở hàng thứ hai. Hillary ngồi cạnh ông. Bà đi chuyến này rất gọn nhẹ: chỉ có các trợ lý là Huma Abedin và giám đốc báo chí chuyến đi, Jamie Smith, đi cùng bà.

Trên máy bay, Obama và Hillary thảo luận những gì vợ chồng bà có thể giúp ông ta trong đợt tổng tuyển cử. Hillary nói với ông ta rằng họ sẽ hết lòng, nhưng cũng báo trước rằng những người khác đang ủng hộ bà có lẽ khó lay chuyển hơn. Bà cảm thấy buộc phải tác động họ, nhưng việc đó không dễ đối với bà. Bà muốn Obama hiểu rằng việc đó không diễn ra chỉ sau một đêm, cũng như những người ủng hộ ông sẽ không nhảy sang đội của bà ngay lập tức nếu bà thắng ở vòng đầu.

“Xem nào,” bà nói với ông ta khi họ bay về phía bắc, “phần việc khó khăn hơn là thuyết phục những người ủng hộ tôi ở cấp cơ sở, hoặc ở cấp tài trợ, còn những người ở cấp trung gian thì đều nhiệt tình với chiến dịch của ông.”

Không khí sôi nổi trên máy bay có lẽ cũng góp phần thuận lợi. “Nhiều người trong Hillaryland đã tự kiềm chế khi phải làm điều đó,” một cựu trợ lý cao cấp hiểu biết về chuyến đi ấy cho biết. Ông cảm nhận đó là cố gắng từ cả hai phía. Plouffe – người thuộc phía Obama – che giấu mối hận thù đối với Hillary. Chiến dịch này cũng đã chữa lành mối quan hệ của Hillary đối với David Axelrod, cố vấn cao cấp của Obama. Một thập kỷ trước, Hillary từng phát biểu tại một bữa tiệc tối thường niên lần đầu để gây quỹ cho chương trình từ thiện về bệnh động kinh CURE – một quỹ do Axelrod và vợ ông ta, Susan, thành lập nhân danh con gái của họ, nạn nhân căn bệnh, và bà Clinton đã cảm ơn Axelrod bằng việc ghi tên ông trong “Lời cảm tạ” của cuốn hồi ký Living History (Lịch sử đang sống) của bà. David Axelrod sau này nói rằng Hillary là “vị thánh đỡ đầu” cho chương trình CURE, rằng bà đã không “lợi dụng những tội lỗi của người cha để chống lại người mẹ và đứa con gái,” nhưng Susan Axelrod thì biết rằng từng có “một chút phiền muộn” trong mối quan hệ giữa họ suốt thời gian tranh cử. Hillary xem cuộc đối thoại với Axelrod trên xe buýt từ sân bay về thị trấn Unity là một “con kênh mở đường.”

“Xin chào, Unity!” bà reo lên, với nụ cười thân thiết, khi bước lên bục sân khấu dựng tạm ở sân ngoài trời trước một đám đông ồn ào khoảng 4 nghìn người. “Unity không chỉ là một nơi đẹp đẽ, như chúng ta có thể thấy, mà nó còn mang lại cảm giác rất tuyệt vời, phải vậy không?” Trong khi bà phát biểu, Obama lắng nghe chăm chú từng từ của bà và là người đầu tiên vỗ tay ở mỗi đoạn hay. Khi bà kết thúc bài phát biểu, ông ta đã ôm hôn và cảm ơn bà. Hillary vỗ nhẹ vào lưng Obama. “Rất hân hạnh,” bà nói.

Đám đông reo hò hoan hô, với sự bốc đồng lan tỏa bên cạnh niềm phấn chấn đặc biệt ở các thành viên của đội Obama và Clinton khi sự kiện kết thúc. “Tôi nhớ cảm giác như trút được một gánh nặng lớn khi mọi chuyện kết thúc, bởi nó đã diễn ra êm xuôi,” một trợ lý của Obama nhớ lại. “Người của bà ấy đã cố gắng tỏ ra hào hiệp.”

Có lẽ vẫn còn những sức ép rơi rớt sau sự kiện Unity, nhưng cả Obama và Hillary chẳng còn thời gian hay tâm trí mà nghĩ về nó. Gần hai tuần sau, họ lại xuất hiện cùng nhau lần nữa để đi gây quỹ tại New York, nơi họ trưng cho nhau thấy danh tiếng của mình. Với Obama, đó là một con đường nữa dẫn tới sự hậu thuẫn khổng lồ về tài chính của Hillary. Với Clinton, đó cũng là một cơ hội giúp bà thanh toán những khoản nợ sụn lưng của đợt vận động tranh cử vừa qua – hơn 22 triệu đô-la – khoản tiền mà bà đã đổ vào những nỗ lực tuyệt vọng nhằm bắt kịp Obama. (Tại một nơi gây quỹ, Obama phải hai lần cầm lại mic sau khi rời sân khấu. Ông quên chưa đề nghị những người ủng hộ mình ký séc cho Clinton và nhắc họ điền vào các văn bản đặt sẵn trên bàn họ). Về phía mình, Hillary còn phải đánh vật với nhiều nhà tài trợ hàng đầu, tán tỉnh họ dốc hầu bao cho thắng lợi của Đảng Dân chủ dù không có tên bà trên tấm biên lai.

Suốt mùa hè ấy, khi Obama diễu hành tới ghế tổng thống, thì Hillary lặng lẽ tổ chức hàng loạt cuộc họp “hậu kiểm” với các trợ thủ và cố vấn tại Văn phòng Thượng viện và tại ngôi nhà của bà ở Whitehaven Street. Mỗi cuộc họp đều có nội dung, sắc thái và mục tiêu riêng, nhưng tất cả đều nhằm tìm hiểu nguyên nhân sai lầm, rút ra bài học từ đó và hoạch định những bước tiếp theo trong sự nghiệp của bà.

Không mất quá lâu để tìm ra những nguyên nhân cơ bản đã khiến chiến dịch của bà bị thất bại. “Tôi đã rất ấn tượng về sự mẫn tiệp nơi bà, cả trước khi tôi đề cập những vấn đề đã diễn ra tại đó [trụ sở]” – một cố vấn nói. “Bà có thể ghép các mảnh thông tin lại với nhau mà nếu ta đọc một bản ghi chép về nó, ta sẽ tưởng nó được viết ra bởi một người luôn ngồi trực hằng ngày tại trụ sở, và nó khá chính xác... Bà đã vừa chốt nó lại.”

Trong các cuộc họp, đa số mọi người đều bảo rằng bà đã trả công cho những người xấu bằng một số công việc tốt. Patti Solis Doyle, quản lý đầu tiên của chiến dịch và chiến lược gia trưởng Mark Penn phải gánh chịu các cáo buộc này. Nhưng những người khác, kể cả sếp truyền thông Howard Wolfson và giám đốc chính sách Neera Tanden, cũng phải mang tiếng về cái mà một trợ thủ gọi là “thói ngạo mạn của những kẻ chóp bu.”

“Tại sao anh đã không nói với tôi điều ấy?” Hillary hỏi người trợ lý.

“Chúng tôi đã nói rồi,” anh ta đáp.

Nhìn lại quả thật không có gì ngạc nhiên, các cố vấn đã từng cảnh báo Hillary từ trước rằng đừng giao cho Doyle làm quản lý chiến dịch, và giữa chừng cuộc đua Doyle đã phải nhường chỗ cho người tâm phúc lâu năm của Hillary là Maggie Williams. Tất nhiên, Penn, Doyle và những chỉ huy cấp cao khác của Hillary đều là những vật tế thần [7] thích hợp. Xét đến cùng, chính Hillary cũng phải chịu trách nhiệm cho sự chỉ đạo yếu kém của mình, và bà sẽ có nhiều điều phải học cho việc quản lý chiến dịch chính trị tiếp theo.

Dù đánh giá ấy khiến Hillary rất thất vọng, bà vẫn không để lộ ra ngoài một chút nào. “Bà ấy không vật vã,” một người bạn nói, khi kể rằng tính khí của bà “nhạy bén hơn bất cứ cái gì.” Nhưng đối với nhiều cố vấn của bà, các phiên họp giữa hè đó tạo ra không khí hào hứng hơn là phán xét. Họ cảm thấy mình – với tư cách cá nhân – đã khiến bà thua vì không đòi hỏi bà chú trọng sớm hơn tới các vấn đề phát sinh trong quá trình vận động.

Trong khi đang làm việc ở Hạ viện tại Capitol Hill, Burns Strider – cầu nối giữa Hillary với các nhóm hậu thuẫn trung thành trong chiến dịch – đã gửi e-mail cho bà một ngày sau vòng đầu tranh cử. “Tôi rất buồn,” anh viết.

“Đến đây đi,” Hillary trả lời.

Đó là một ngày nóng nực, và Strider – sau này đã giảm cân nhờ chế độ ăn kiêng và những chỉ dẫn do Bill Clinton gửi cho – lúc đó vẫn rất phục phịch. Anh ta bắt đầu đổ mồ hôi hột khi họ cùng nhau đi bộ đến phòng họp Thượng viện, rồi quay lại văn phòng của Hillary. Cuối cùng, họ ngồi xuống bên bàn làm việc của bà, Strider không thể tìm nổi lời nào để bộc lộ cảm xúc của mình. Sau cặp kính, nước mắt anh cứ ứa ra.

“Cậu cần bình tĩnh,” Hillary động viên.

“Vâng.” Strider đáp lại bằng chất giọng đặc sệt Mississippi. “Tôi chỉ buồn thôi.”

“Chúng ta ai cũng đau buồn,” Hillary nói, thừa nhận nỗi đau của chính mình. Tiếp đó, bà giải thích phương pháp ứng phó của bà.

“Tất cả chúng ta đều đau buồn theo những cách riêng của mình, và sau đó chúng ta sẽ đi tiếp. Chúng ta luôn tiến về phía trước.”

Hillary cảm thấy như đã mất hết. Bà kiệt sức, nhưng bà đã tìm được sự thanh thản của mình trước kết cuộc ấy. Bà tự hào vì đã đi qua chặng đường dài.

“Tôi không phải dạng người sống với quá khứ hoặc nhai đi nhai lại ‘nếu thế này, nếu thế nọ, nếu thế kia?’” bà nói. “Đã có quá đủ người quanh tôi làm thế. Bởi vậy tôi không nên như thế. Tôi nhường nó cho người khác.”

Bà tin rằng “một số đứt gãy ở đâu đó có lẽ đã gây ra một hậu quả khác hẳn,” bà nói. “Cho nên, quan điểm của tôi là, okay, tôi đã làm nên lịch sử, tôi là người phụ nữ đầu tiên chiến thắng ở vòng phiếu phổ thông, tôi đã giành được tất cả những lá phiếu ấy, và tôi rất tự hào về nỗ lực đó. Nhưng rồi mọi thứ sụp đổ. Vậy thì hãy bắt tay làm việc để bảo đảm rằng những gì tôi đã mơ ước, và đã thể hiện trong chiến dịch tranh cử, vẫn sẽ được tiếp tục thông qua việc ứng cử của Barack Obama. Thế là tôi đã có ngay một cách tiếp cận trở-về-thực-tại, rất thực tế.”

Đối với Hillary và các trợ lý, việc tiến về phía trước là cách duy nhất để không chỉ vượt qua thất bại choáng váng, mà còn vượt qua cả cú sốc của việc phải quay lại Thượng viện. Viễn cảnh về những chức vụ chót vót tại Nhà Trắng đã lộn ngược thành thực tại tẻ nhạt của những sinh hoạt tại Thượng viện. Những nhân vật hạng A từng điều khiển cuộc vận động của bà ở Capitol Hill đã quen đứng bên phía thắng thế; giờ đây tất cả đều quay về với một chữ cái “L” [8] to tướng trên lưng.

Hillary không phải là ứng viên đầu tiên bị té nhào từ thế thượng phong của người tham gia tranh cử tổng thống xuống Thượng viện hơi kém đặc quyền hơn. Suốt nhiều năm, vô số thượng nghị sĩ đã ra tranh cử tổng thống, rồi sau đó lại quay về cái ghế ban đầu của mình. Nhưng cú ngã của bà kéo dài hơn và dữ dội hơn. Bà cùng một lúc vừa nổi tiếng hơn, vừa ít chức vụ hơn những người đi trước. Không có chức vụ chủ tịch của một ủy ban trọng yếu nào đang chờ bà trên Capitol Hill. Hơn nữa, Thượng viện mà bà trở lại đôi khi gần giống như cái hang rắn. Trong số ba vị lãnh đạo chóp bu của Đảng Dân chủ, Richard Durbin (D-Ill)[9], đồng chủ tịch của chiến dịch Obama, có lẽ đã cư xử tốt nhất với bà suốt vòng đầu chỉ bằng việc đứng lên tỏ rõ lập trường của ông ta. Hai người kia, là Harry Reid (D-Nev.) và Chuck Schumer (D-NY.), thì làm cố vấn hậu trường cho Obama, mặc dù về mặt kỹ thuật thì Reid là trung lập còn Schumer thì tỏ ra công khai đứng về phía Hillary.

“Tôi cho rằng bà ấy bị tổn thương vì hành vi của một số đồng nghiệp và bằng hữu tại Thượng viện, kéo dài suốt chiến dịch tranh cử,” theo lời một cố vấn, người đã từng trách cứ Hillary, chỉ vài ngày sau khi bà bỏ cuộc. “Đó là những người ủng hộ Obama, những người tưởng chỉ đứng bên lề, và nhất là những kẻ nấp trong bóng tối.”

Các cựu binh lão luyện của Hillaryland khẳng định rằng Hillary đã hào hứng quay lại công việc tại Thượng viện, sốt sắng nắm các vấn đề càng nhanh càng tốt. Không phải người dân New York đã bầu bà là để bà có vài ba tháng nghỉ ngơi than thân trách phận. “Từ lúc bà bước vào, có vẻ bà rất muốn trở lại với công việc thường ngày,” một trợ lý vốn ở bên bà suốt nhiều năm sau chiến dịch kể. “Bà ấy đã quay về với công việc tại ủy ban của mình.”

Nhưng sự trở lại của Hillary đã gây khó cho mọi người trên Capitol Hill, theo lời một cựu trợ lý, người từng chạm trán bà trong một công viên gần văn phòng tại Tòa nhà Russell của bà.

“Cô khỏe không?” Hillary hỏi từ sau cặp kính râm to đùng.

“Chào Thượng Nghị sĩ, bà khỏe không ạ?” người phụ nữ trẻ đáp lời, và nói thêm, “Việc trở lại của bà ổn chứ?”

Phản ứng lạnh lùng của Hillary cho thấy sự coi thường của bà trước một câu hỏi đã có sẵn câu trả lời quá hiển nhiên, và bà nhanh chóng tự cho mình miễn phải trò chuyện.

Bên ngoài Capitol Hill, vào tháng Sáu và tháng Bảy ấy, một trợ lý điều hành trẻ đang nổi, Rob Russo, đã hoàn thành tốt một trọng trách chính trị phi thường cho Hillary. Russo vừa tốt nghiệp Đại học George Washington và đang là thực tập sinh nội trú làm việc cho Maggie Williams – người quản lý chiến dịch; anh được giao nhiệm vụ gửi đi 16.054 bức thư cảm ơn của Hillary đến những người thuộc giới tinh hoa ủng hộ Hillary, từ những nhà tài trợ, những người tình nguyện hàng đầu, cho đến các chính trị gia. Bản danh sách kẻ-xấu-và-người-tốt mà Balderston và Elrod đã tập hợp chỉ là góc nhỏ của một thế giới chính trị đầy những người vốn từng trợ giúp hoặc làm hại Hillary. Russo có trách nhiệm bảo đảm rằng các “chiến hữu” được xếp vào hạng đặc biệt hào phóng phải được giữ liên lạc đến tận phút cuối cùng.

Các chiến dịch tranh cử tổng thống, nhất là các cuộc đua nước rút cuối cùng đối với một chính trị gia nào đó, thông thường đều tàn lụi mà không một người ủng hộ chóp bu nào được ứng viên nói lời cảm ơn với tư cách cá nhân đến tận lúc cuối cùng. Hillary đã xác định rằng chiến dịch của bà sẽ không như vậy. Đó không chỉ là một cách lịch sự nhằm bày tỏ lòng biết ơn của một người phụ nữ miền Trung-Tây theo phong cách-cổ điển, như các trợ lý của bà đề xuất. Giống hệt cuộc họp “hậu kiểm” rất có phương pháp mà bà chỉ đạo hồi mùa hè, chiến dịch gửi lời cảm ơn rộng lớn ấy còn ngụ ý cho người ta thấy rằng Hillary vẫn nung nấu những đường lối chính trị hướng đến tranh cử. Đó chính là một cách bà thể hiện tình yêu và sự quan tâm đặc biệt đối với chính những người bà sẽ kêu gọi giúp đỡ nếu bà một lần nữa vận động tranh chức tổng thống.

Hầu hết mọi người trên bản danh sách của Russo đều nhận được một e-mail. Suốt gần hai tháng trời, viên trợ lý trẻ với bộ đồ chuẩn mực, đeo kính gọng đen hipster, đã chuyển đi các lô thư cảm ơn của Hillary, xếp theo từng bang một. Suốt những lúc rảnh tại Thượng viện, bà đọc hơn 16 nghìn thư đánh máy ấy, thường tự sửa lại bằng tay, rồi ký vào những bức thư đã xong để gửi đi. Russo tiếp tục phụ trách chuyển thư từ tại Bộ Ngoại giao, và tại Văn phòng Hillary Rodham Clinton mà Hillary thành lập sau khi rời chính quyền Obama, bảo đảm tiếp tục các nỗ lực của bà nhằm kết nối chặt chẽ với bạn bè và những người ủng hộ. Bản danh sách các liên hệ chính trị và riêng tư, từ chức vụ này sang chức vụ khác, ngày càng mở rộng mạng lưới của Hillary.

Vì Thượng viện đang trong kỳ nghỉ, và công việc cảm ơn cũng đã hoàn tất, Hillary dành gần trọn tháng Tám cho bản thân, trước khi đến Denver vào cuối tháng để tham dự Đại hội toàn quốc của Đảng Dân chủ, nơi bà từng hy vọng được chỉ định là ứng viên tổng thống. Thay vào đó, bà sẽ phải đọc một bài diễn văn ủng hộ (Obama) vào tối thứ Ba, và lần thứ hai trong cùng mùa hè ấy, sự chuẩn bị kỹ về nội dung và văn phong của một bài diễn văn sẽ giúp định hình tố chất luôn tiến lên phía trước của Hillary.

Suốt mấy chục năm là Đệ nhất phu nhân bang Arkansas và Đệ nhất Phu nhân Hoa Kỳ, ngay cả khi làm Thượng Nghị sĩ New York, hình ảnh Hillary đa phần được nhìn nhận chỉ dựa vào mối quan hệ với Bill Clinton, người đàn ông có lẽ là tài hoa nhất nước Mỹ. Ngay cả khi bà tranh cử tổng thống theo chủ ý riêng của mình, thì vai trò của Bill vẫn là một ẩn số phải xem xét, không chỉ đối với các đối thủ của bà và giới báo chí, mà cả chính trong phe của bà nữa. Nhưng giờ đây, khi Bill phải bối rối về những lần ông sốt sắng vận động bầu cử cho Hillary, thì vận hội chính trị tương lai của bà sẽ phải ít lệ thuộc vào ông hơn bất kỳ khi nào trước đây. Nếu bà muốn có một tương lai chính trị, bà sẽ phải kiểm soát được chuyện của mình – và không còn phải thanh minh về vai trò của người chồng cựu tổng thống trong sự nghiệp của bà như trong cuộc vận động tranh cử vừa qua.

Đội Clinton đã đặt phòng tác chiến của mình trong tuần lễ ấy tại Brown Palace, một khách sạn sang trọng, cách vòng ngoài an ninh của Đại hội khoảng một dặm. Bài diễn văn được viết trong suốt mấy tuần lễ. Lissa Muscatine, bấy giờ là đồng sở hữu của nhà sách chính trị hàng đầu của Washington, Politics and Prose (Chính trị và Văn học), nắm quyền chỉ đạo những cây viết diễn văn trẻ hơn của Hillary và điều hành việc phát tài liệu cùng những nhân viên khác trong một gian phòng hội nghị, với một chiếc bàn hẹp chạy dài.

Vào thứ Hai, lúc đêm khuya, chưa đầy 24 giờ trước thời điểm trọng đại khi bà bước lên diễn đàn, Hillary gặp mặt nhiều nữ cộng sự trong nhóm nội bộ của bà, gồm cả Muscatine, Maggie Williams, Cheryl Mills và Melanne Verveer để thảo luận về bài viết. Nó tốt rồi, Hillary nghĩ, nhưng chưa hoàn hảo. Bà đưa bản thảo ra để nhóm phụ nữ trau chuốt lại. Muscatine bắt tay vào việc, ngồi tách riêng ở một góc phòng họp khách sạn để đánh bóng bản thảo, trong khi các đồng nghiệp làm những việc khác bên bàn. Cho đến sáng thứ Ba, khoảng 80% công việc đã xong – tỉ lệ tạm đủ để Hillary tự tin về nội dung. Mối quan tâm lúc này chỉ còn là phong cách. Chẳng hạn, làm sao tạo nên kịch tính trong một đoạn nói về Harriet Tubman, người điều hành Hệ thống Đường sắt Ngầm? Bà đã gần đến đích – hoặc bà tưởng vậy. Bà bước ra giữa phòng họp để diễn thử trên một sân khấu tưởng tượng.

Nhưng đến chiều hôm đó, khi Hillary quay lại phòng hội nghị tại khách sạn Brown Palace để tập lại một lần nữa trước máy TelePrompTer [10], thì lại nảy sinh một vấn đề nữa về bài diễn văn. Khi vừa cất tiếng đọc to lên, bà chợt dừng lại. Bài viết đã thay đổi.

“Cái gì thế này?” Bà hỏi, chiếu ánh mắt nghi ngờ về phía những người viết diễn văn và các cố vấn truyền thông trong phòng. Bà thường bộc lộ sự khó chịu với giọng quở trách của một bà mẹ, và giọng bà lúc này đúng là như thế.

Trong khi bà ở chỗ “sân khấu giả tưởng” tại trung tâm hội nghị, thì ông Bill đã sửa lại diễn văn. Ông sửa đổi cấu trúc, thêm vào một số lời lẽ văn hoa thi hứng của riêng ông. Các trợ lý Clinton, nhiều người trong họ làm việc cho cả Bill và Hillary, vẫn gọi ông là “Ngài Tổng thống.” Họ chỉ đơn giản làm đúng những gì họ được ra lệnh.

Nhưng Hillary không muốn vậy. Bill và các cố vấn bà đã thuê từ chiến dịch năm 1996 của ông đã thất bại rõ ràng trong việc triển khai chủ trương và chiến lược cho chiến dịch của bà. Giờ đây bà đang một mình ngồi trên ghế nóng. Đây chính là thời điểm “được ăn cả – ngã về không” của bà với tư cách một đảng viên Đảng Dân chủ trung thành, cũng là lúc để bà chỉ huy theo đúng cách của mình.

“Đây là diễn văn của tôi,” bà tuyên bố khi rời bục sân khấu đi tìm “Ngài Tổng thống.”

Khi chắc chắn Hillary đã ra khỏi phòng, Hattaway khuyên các trợ lý khác nhà Clinton nên khôi phục theo bản diễn văn trước. Giữ lại những chỗ “Ngài Tổng thống” biến câu chữ thành “thi ca,” ông bảo mọi người, nhưng phải khôi phục theo cấu trúc ban đầu của bài diễn văn. Trong chỉ vài giờ còn lại trước khi bà bước lên diễn đàn, các trợ lý nhà Clinton lao vào cắt dán các đoạn với nhau để bài diễn văn trở lại như trước giống như chơi trò xếp hình vậy.

Họ di chuyển các đoạn văn và gia giảm câu chữ cho đến phút chót. Đi xuyên qua đám đông ồn ào náo nhiệt, khi kim đồng hồ nhích dần đến “giờ G” đọc diễn văn, Hillary ăn vận khá giản dị. Bà vẫn mặc bộ đồ từ buổi tối hôm trước – một bộ vét màu vàng cam nổi bật trên nền phông màu xanh lơ của Đảng Dân chủ trong phòng hội nghị. Điện thoại của Hattaway lại rung lên. Những tay kỳ cựu của đội Obama liên tục gọi để xin bản copy bài diễn văn. Sẽ có ngay thôi, anh ta cố trấn an mọi người. Nhưng họ đều rất lo lắng. Dù đã từng chụp ảnh chung tại Unity, những người của Obama vẫn không hoàn toàn tin tưởng những người nhà Clinton. Mối quan hệ vẫn dễ gây cáu giận trong suốt cả mùa hè, khi đội Hillary cố gắng moi được những lời hứa rằng Obama sẽ giúp thanh toán hết các khoản nợ của Hillary, mỗi khi các cố vấn cấp cao của ông đề nghị ông bà Clinton xuất hiện như những người đại diện. Cứ thế vở diễn của thế giới Clinton đã chọc tức đội hình chiến dịch chặt chẽ của Obama.

Khi Hillary và bài diễn văn của mình cuối cùng đã sẵn sàng, lúc gần 8 giờ tối tại Denver, một bản copy được gửi qua e-mail cho đội của Obama. Jon Lovett, một cây bút trẻ chuyên viết diễn văn của nhà Clinton – người sau này sang làm cùng với Hurwitz tại Nhà Trắng thời Obama – trèo vào một chiếc bán tải, xách theo laptop và một cái USB trong đó có bản copy bài diễn văn. Anh ta nói to để thông báo rằng Hillary sắp có mặt ở Trung tâm Pepsi, địa điểm tổ chức Đại hội. Lập tức người ta xô đẩy nhau chạy qua lối đi men tường tòa nhà để chuyển cái USB cho những người đang cầm máy TelePrompTer. “Chẳng có khi nào được yên với nhà Clinton” – Jim Margolis, một trợ lý của Obama dè bỉu khi họ vừa tới.

Sau khi vuốt lại mái tóc và trang điểm lần cuối, Hillary và đội của bà đi qua phòng nhân viên của Obama trên đường tới sân khấu. Bà dừng bước, chào thân mật mấy vị trợ lý chóp bu của Obama, kể cả Anita Dunn và Dan Pfeiffer. Khi bà nghiền ngẫm bài diễn văn trong đầu, một người tâm phúc của bà nhớ lại, “bà ấy cảm nhận tất cả áp lực này.”

Các cử tri cuối cùng của bà nói toạc ra rằng sự đồng thuận này là liều lĩnh, và là ép buộc người ta phải đề cử Obama; họ không muốn nghe theo yêu cầu của bà. Không khó để ngăn họ lại, đơn giản là bà không làm nổi. Bà nhận ra rằng mình sẽ bị chê trách nếu họ làm hỏng buổi lễ. Điều này tăng thêm căng thẳng cho bà khi sắp bước lên diễn đàn. Dù chỉ một lần này thôi, chỉ một thời khắc Clinton thê thảm cũng quá đủ cho đội Obama thích thú. Đây đã là lần thứ ba trong chưa đầy ba tháng bà phải đứng trước cử tọa toàn quốc để đưa ra “di chúc” của mình. Do giọng điệu của nó và do thời điểm đó, ngay trước lúc John McCain liên danh với một phụ nữ khác là Sarah Palin làm cặp đôi tranh cử của Đảng Cộng hòa, việc bà ủng hộ Obama sẽ chính là mấu chốt quan trọng nhất.

Cuối cùng khi bà xuất hiện nổi bật trước một đám đông ồn ào, chỉ còn khoảng 20 phút nữa là kết thúc giờ Thánh lễ đầu ngày lúc 6 giờ tại Bờ Đông, bỗng vang rền “thánh ca” với điệp khúc “Hil-la-ry, Hil-la-ry” và một trận hoan hô cuồng nhiệt như sấm. Những người ủng hộ Clinton và Obama cùng nhau giơ cao những tấm biển trắng mang hình chữ ký của bà tô màu xanh lơ và đường gạch dưới màu đỏ. Một camera truyền hình chớp được hình ảnh Bill Clinton đang hét to “anh yêu em” từ chỗ ông ngồi.

Sau khi mở đầu với một điệp khúc ngắn về niềm tự hào của mình trong tư cách một người mẹ, một thượng nghị sĩ New York và một người Mỹ, bà hạ một câu quyết định khi gọi mình là “một người ủng hộ đầy tự hào của Barack Obama.” Chắc chẳng ai ngạc nhiên nếu sau sân khấu, mấy người phe Obama đã chuẩn bị tinh thần để đếm xem bao nhiêu phút trôi qua trước khi bà nhắc đến tên ông ta. Nhưng hóa ra chỉ sau mấy giây đồng hồ. Nó đây, cho cả thế giới nghe. Trong hàng ghế của họ, cả Joe Biden và Michelle Obama đều cùng nhảy dựng.

Sau đó, lần đầu tiên Hillary đeo găng, đấm tới tấp vào McCain, người bạn và là vị thượng nghị sĩ đã đồng hành mà bà từng có trận đấu vodka cùng ông tại Estonia. “Thưa các bạn,” bà nói, giọng ngân nga, có vẻ hơi nhạo báng – đây là thuật hùng biện ưa chuộng của ứng viên Đảng Cộng hòa. “Đã đến lúc đòi lại đất nước yêu dấu của chúng ta.”

Bà tiếp tục, “Tôi đã dành ba mươi lăm năm qua trên chiến lũy bênh vực trẻ em, vận động cho việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng, trợ giúp các bậc cha mẹ cân bằng giữa công việc với gia đình, và đấu tranh cho nữ quyền trong nước và khắp nơi trên thế giới… không phải để nhìn một người Cộng hòa khác trong Nhà Trắng phung phí các cam kết của đất nước chúng ta và niềm hy vọng của nhân dân chúng ta thêm nữa ư… Không thể được. Không vì lẽ gì hết. Không thể là McCain.”

Nhưng trái tim và linh hồn của bài diễn văn chính là ở đoạn cuối cùng về việc tìm kiếm niềm tin để bền gan vững chí đối mặt với mọi thử thách cam go. Khi mở rộng tầm nhìn mà bà đã nêu lên trong bài diễn văn nhường bước về cuộc đấu tranh chung cho phụ nữ và người Mỹ gốc Phi, Hillary đã viện dẫn chủ nghĩa anh hùng của một người phụ nữ da đen thứ hai để giành điểm cho mình.

Hillary nói, “Trên con đường dẫn đến tự do, Harriet Tubman có lần đã đưa ra lời khuyên: ‘Nếu bạn nghe tiếng chó sủa, hãy đi tiếp. Nếu bạn thấy ánh lửa trong rừng, cứ đi tiếp. Nếu nghe thấy tiếng la hét sau lưng, cứ đi tiếp. Đừng bao giờ bỏ cuộc. Cứ tiếp tục đi. Nếu bạn muốn được nếm mùi vị tự do, hãy cứ tiếp tục đi...’ Nhưng hãy nhớ, trước khi chúng ta có thể đi tiếp, chúng ta sẽ đi tiếp bằng cách bầu Barack Obama làm tổng thống.”

Đám đông bùng lên hoan hô một lần nữa khi Hillary kết thúc. Bill và Chelsea cười rạng rỡ. Biden thì thầm lời tán thưởng của ông ta vào tai Michelle Obama. Ông ta đã từng là đồng minh của Hillary tại Capitol Hill của Nhà Trắng thời Bill Clinton, sau đó trở thành một người bạn tốt của bà tại Thượng viện cũng như khi đeo bám tranh cử. Tại những vòng đầu tranh luận ứng cử tổng thống, khi vẫn còn là một ứng viên tìm sự đề cử, Biden đã tỏ ra gắn bó với Hillary hơn với Obama, và Hillary rõ ràng cũng thích Biden hơn Obama. “Ngay khi họ là đối thủ trong vòng phiếu bầu phổ thông, mỗi khi có ai đó nhắc đến tên ông ta trước mặt bà, bà chỉ mỉm cười,” một trong các trợ lý chóp bu của bà kể. “Bà ấy thật sự mến ông ta. Ông ấy cũng thật sự quý mến bà.”

Nghe những lời ủng hộ hùng hồn của bà, Biden chạy hẳn đến nơi Hillary đang đứng. Tìm thấy bà, ông khuỵu chân và chắp hai tay làm một điệu bộ ngưỡng mộ rất cảm động.

Sau Đại hội, Hillary dành hết sự quan tâm của mình cho Thượng viện. Chìm ngập trong sự trang trọng, nghi thức và lười biếng, Thượng viện không hề giống một đấu trường lý tưởng cho cựu đệ nhất phu nhân, người còn phải học cách kiểm soát bản tính nôn nóng của mình.

“Tôi không biết tôi có thể làm việc này không,” bà đã nói với một trợ lý khi họ đi bộ về văn phòng sau cuộc bỏ phiếu ở Capitol vào năm đầu tiên bà ở đó. “Tôi không biết liệu tôi có ở lại chức vụ này và chỉ đi tới đi lui bỏ phiếu rồi đi nghe ủy ban điều trần hay không.”

Nhưng 8 năm đã trôi qua, bà đã tìm thấy những việc đáng làm trong chức vụ của mình. Bà đã tranh đấu quyết liệt để giành vị trí từng do Robert FKennedy nắm giữ này, và dùng nó như một bệ phóng quyền lực để vươn ra ngoài các bức tường Thượng viện. Dù rằng lần đầu tiên bà giành được vị trí này là dưới cái bóng của Bill Clinton trong giai đoạn cuối nhiệm kỳ tổng thống, song bà lập tức chứng tỏ rằng mình là có vị thế chính trị riêng bằng quyền hạn của một thượng nghị sĩ. Bà thích hoàn thành các phận sự, trách nhiệm, và Thượng viện cung cấp cho bà một diễn đàn lập pháp, một tiếng nói trong các cuộc thảo luận mang tính quốc gia, và thậm chí cả ở những cuộc tranh luận công kích từ bên ngoài tiến trình lập pháp. Trong một hệ thống đã được thiết định sẵn, với những cản trở và đối trọng kìm hãm mọi thay đổi, Hillary đã luôn tìm cách sử dụng cả hai thứ: quyền lực chính thức của một quan chức và danh tiếng riêng có của mình để khởi động các hoạt động ban hành chính sách. Bà đã hãnh diện đóng góp vào nhiều dự án bằng cái mà bà gọi là “quyền triệu tập” – khả năng hiếm có của bà trong việc lôi kéo những người bảo trợ từ phía chính phủ, khu vực tư nhân, và giới hàn lâm, để cùng nhau giải quyết các khó khăn. Rất ít người nói không với lời mời họp của Hillary Clinton.

Cũng như sau này bà sử dụng quyền lực của mình một cách sáng tạo để tung ra những sáng kiến chung-riêng ở Bộ Ngoại giao, Hillary đã chứng thực mình như một tay chơi đầy uy lực tại Thượng viện. Thành viên Nghị viện nào muốn đưa ra các dự luật, tiến hành bỏ phiếu, hay giúp đỡ các cử tri, đều phải vượt trùng dương là chế độ quan liêu Liên bang, và rất khó khăn mới giành được những khoản trợ cấp cho cựu chiến binh hay các khoản chi cho an sinh xã hội. Nhưng Hillary lại xem chức vụ này như một bệ phóng để kết nối các tổ chức, thiết chế trong những bộ phận xã hội khác nhau nhằm đạt mục tiêu. Bà đã thuyết phục Đại học Cornell liên kết những nông dân vùng nông thôn New York với các chợ trong thành phố vốn chỉ quen mua sản phẩm từ New Jersey. Bà đã đóng một vai trò hữu ích trong việc lập khu định cư nằm giữa Sở Điện lực New York và thành phố Buffalo, nhằm quy hoạch lại thành phố hướng ra biển.

Trở về làm việc toàn thời gian ở Thượng viện sau ngày Quốc tế Lao động, Hillary rất phấn khích với viễn cảnh làm việc tại một Nghị viện do Đảng Dân chủ kiểm soát với một vị tổng thống cũng là người của Đảng Dân chủ, những điều được xem là điềm báo tốt lành cho việc thúc đẩy cải cách hệ thống chăm sóc y tế toàn quốc. Nhìn vẻ ngoài, bà trông có vẻ yếu đi vì thất bại tại vòng bầu cử sơ bộ. Nhưng trong Thượng viện, các đồng minh của bà đều quả quyết rằng lãnh đạo phe đa số, Harry Reid, phải tìm ra cách vực bà dậy. Điều đó là đặc biệt chân thành giữa chị em phụ nữ với nhau, và không chỉ trong nhóm ủng hộ bà. Đó là một tình cảm mạnh mẽ, sâu sắc mà Hillary sẽ phải ghi nhớ, một mối cảm tình mà Hillary gần như chắc chắn cảm nhận được.

Thượng nghị sĩ có tầm vóc nhỏ bé nhất, Barbara Mikulski từ Maryland, có lẽ là người hỗ trợ Hillary mạnh mẽ nhất ở hậu trường. Mikulski đã phục vụ 22 năm tại Thượng viện, từng ủng hộ Hillary trong cuộc bầu cử phổ thông, hối thúc các lãnh đạo Đảng Dân chủ tìm kiếm cho Hillary một vai trò cao hơn. Mary Landrieu từ Louisiana cũng thuộc số những người dẫn đầu việc hỗ trợ Hillary. Moon Landrieu, cô con gái ăn nói chậm rãi của vị cựu Thị trưởng New Orleans này, tỏ ra nuối tiếc về chiến dịch bầu cử vòng đầu. Cô tự xem mình thuộc số những người ủng hộ Bill Clinton mạnh mẽ nhất và thuộc số những người ngưỡng mộ Hillary nhiều nhất. Nhưng khi Obama đưa ra yêu cầu, thì là lúc Mary Landrieu đang lo vận động tái cử và cần đến một số phiếu lớn của người da đen ở New Orleans và khắp bang, nên cô đành phải kín đáo cam kết bỏ phiếu cho ông ta ở Đại hội. Giờ đây Mary Landrieu muốn trả lại sự công bằng. Một lần bà nài nỉ Reid quan tâm đến Hillary. Reid nửa-chế giễu đáp lại Landrieu lắm chuyện, rằng Hillary có thể nhận chức chủ tịch Ủy ban Doanh nghiệp Nhỏ.

Reid ngăn chặn tới cùng mọi nẻo trở về của Hillary. Ông ta và Schumer không muốn chọc giận các đồng nghiệp của Đảng Dân chủ khác bằng cách nâng đỡ Hillary. Luôn có một rủi ro tiềm tàng rình rập nếu cho bà một vai trò quan trọng hơn ở Thượng viện, nhất là về chăm sóc y tế: bà sẽ có chỗ đứng tốt hơn để từ đó thách thức Obama. Nếu có một vị thuộc Đảng Dân chủ nào đáng mặt để phụ trách cải cách chăm sóc y tế ở Thượng viện, thì đó phải là ngài Ted Kennedy đang hấp hối, mà việc tán thành Obama của ông ta đã là một trong những mấu chốt quan trọng nhất của vòng đầu tranh cử, cũng như là một trong các đòn đả kích độc hại nhất đối với Hillary. Nếu không phải là Kennedy, thì phải là người bạn tốt nhất của ông ta tại Thượng viện, Chris Dodd, một người tóc bạc trắng, má đỏ au, con trai của một thượng nghị sĩ vốn là bạn cánh hẩu của Kennedy trong những ngày non trẻ của họ tại Capitol Hill. Clinton đã đề nghị Kennedy để bà chủ trì tiểu ban chăm sóc y tế, nhưng ông ta lạnh lùng từ chối. Thay vào đó, ông ta dành cho bà cái ghế hạng hai, chủ tọa một nhóm đặc trách về luật bảo hiểm công nghiệp – cái ngành đã bóp cổ bóp họng những nỗ lực cải cách y tế của bà từ ngày còn ở Nhà Trắng.

Đã vậy thì, trong khi Reid điều hành Thượng viện, những người bênh vực Hillary, bao gồm cả một số người có thiện chí bất ngờ, bèn quay sang Obama, người đứng đầu mới của Đảng Dân chủ, xin giúp đỡ. Thậm chí Claire McCaskill còn đích thân thuyết phục các trợ lý của Obama rằng ông ấy phải can thiệp để tìm ra một vị trí xứng đáng cho Hillary, hoặc tại Thượng viện hoặc trong Chính phủ Obama. “Thông điệp của bà ấy là: Hillary cũng như đội của bà ấy cần phải được những người của Obama tiếp tục ưu tiên,” một nguồn tin thân cận cho hay. “Bà ấy phải được mời vào. Bà ấy phải có chỗ ngồi ở bàn tiệc.”

❀ ❀ ❀

[1] 1 foot = 0,3048 m.

[2] Trích từ bài phát biểu khép lại chiến dịch chạy đua của bà năm 2008, khi bà cảm ơn những người ủng hộ mình; ý nói tuy bà không phá vỡ được trần bằng kính nhưng đã tạo ra được 18 triệu kẽ nứt (18 triệu người ủng hộ) mở ra hy vọng cho con đường tranh cử sau này. (ND)

[3] Ngụ ý Hillary. (ND)

[4] Fourteen Punctuation Marks – “14 dấu chấm câu” của tiếng Anh, ngụ ý là viết sai. (ND)

[5] Bộ luật phân biệt chủng tộc tồn tại từ 1876 đến 1965. (ND)

[6] Tiếng Việt: Đoàn kết. (BT)

[7] Nguyên văn: “scapegoats”, chỉ con dê mà thầy tế dùng để tượng trưng cho mọi tội lỗi của cộng đồng, sau đó người ta đuổi nó ra hoang mạc. Hình ảnh dê tế này còn dùng để chỉ người bị trút tội lỗi lên đầu, nhận tội thay cho kẻ khác. (BT)

[8] Nghĩa là loss, thua cuộc. (ND)

[9] Ở đây, “D-” chỉ nghị sĩ đang được nói đến thuộc Đảng Dân chủ, tương tự trong sách này, “R-” chỉ nghị sĩ đang được nói đến thuộc Đảng Cộng hòa. Chữ viết tắt sau đó “-Ill” chỉ bang mà nghị sĩ đó là đại diện là Illinois. Theo đó, các chữ viết tắt trong sách này: “-Nv” là Nevada; “-N.Y.”: New York, “-MD”: Maryland; “-S.C”: South Carolina; “-Ky”: Kentucky; “-N.J”: New Jersey; “-Ariz”: Arizona; “-Maine”: Maine; “-Mich”: Michigan; “-Utah”: Utah; “-VA”: Virginia. (BT)

[10] Máy phóng đại chữ, dùng cho người phát biểu trên truyền hình có thể đọc được văn bản bài viết của mình trên một màn hình đặt trước mặt mà khán giả không nhìn thấy được. (BT)

LLARY CLINTON: BÍ MẬT QUỐC GIA VÀ SỰ HỒI SINH ebook©MotSAch TVE-4u©nguyenthanh-cuibap —★— Nhà xuất bản: NXB Thanh Niên
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.