“CHÚNG TA ĐÃ LÀM ĐIỀU ĐÓ, BẠN THÂN MẾN”

Hillary Clinton: Bí Mật Quốc Gia Và Sự Hồi Sinh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 32 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
7

❊ ❊ ❊

Hillary đã chọn Kris Balderston, tác giả bản danh sách đen, đảm nhiệm việc duy trì mạng lưới chính trị Clinton khắp cả nước. Là một nhân vật quen biết lâu năm với cả hai vợ chồng Clinton, Balderston – được mọi người gọi là “ông bạn” – rất thích nói theo ngôn ngữ của dân bán hàng về “quyền triệu tập” của Hillary và cam kết chắc chắn của bà ấy với đối tác rằng họ sẽ “thành công bằng cách làm tốt.” Ý của Balderston là Hillary có thể sử dụng các thông tin đối tác trong Rolodex của nhà Clinton để có được tiền bạc từ khu vực tư nhân, quyền lực nhà nước cũng như các chuyên gia từ những trường đại học hay các tổ chức phi lợi nhuận nhằm giải quyết các vấn đề toàn cầu. Gặp điều kiện tốt nhất, họ có thể tạo nên một dịch vụ công và nhanh chóng kiếm được lợi nhuận. Còn trong trường hợp xấu nhất, họ cũng có thể tạo được quan hệ với những người có thế lực. Cách gọi tốt nhất để nói lên vai trò của Balderston là “chàng nghệ sĩ” đặc biệt của Hillary tại Bộ Ngoại giao.

Ngày 8 tháng Mười hai năm 2008, ông ta đã viết cho Hillary một văn bản ghi nhớ thứ nhất thể hiện hình dung của mình về một cơ quan giống như bản sao Quỹ Sáng kiến Toàn cầu của Bill, chưa đầy một tuần sau khi bà nhậm chức và hơn sáu tuần sau khi bà đến văn phòng. Dù phải đợi hoàn tất các thủ tục kiểm tra của Obama cũng như chờ Nghị viện thông qua, bà vẫn dành ưu tiên tăng quyền cho Balderston, một con thoi chính trị – người có thể giúp bà xây dựng những mạng lưới đặc biệt, kết nối mạng lưới của bà tại Bộ Ngoại giao Mỹ với các cơ quan chính phủ, các tổ chức phi chính phủ và các tập đoàn. Phần đông người của Đảng Dân chủ cho rằng Chính phủ sẽ chịu trách nhiệm về những vấn đề thế giới, còn người của Đảng Cộng hòa thì cho rằng trách nhiệm đó thuộc các tổ chức tư nhân. Cơ quan của Balderston, hiện thân niềm tin của các “tín đồ Hillary,” cho rằng Chính phủ, các tổ chức thương mại hay tổ chức từ thiện đều là những yếu tố quan trọng của một xã hội thịnh vượng, phát triển.

“Còn hơn cả việc gây quỹ,” một nguồn tin thân cận cho biết. “Đó là một hệ thống tài sản trí tuệ, các mạng lưới, danh sách, và nhiều nhân tố đại loại như vậy. Bạn cần một người nào đó biết làm nhiều điều hơn là chỉ kiếm tiền.” Điều đó cũng giống Quỹ Sáng kiến Toàn cầu của Clinton.

Nhưng tài sản trí tuệ hay sự mở rộng mạng lưới thì phải chờ đợi – còn Hillary đang cần tiền mặt. Balderston đang bận rộn thiết lập văn phòng khi Hillary đến gặp ông ta cuối tháng Hai năm 2009. “Tôi có dự án đầu tiên cho anh đây,” bà nói. Đó là việc gây quỹ 60 triệu đô-la từ khu vực tư nhân trong vòng 9 tháng. Vào thời đại tranh cử tổng thống tốn cả tỉ đô-la, thì con số gây quỹ đó chẳng bõ bèn lắm. Nhưng, Chính phủ thường không huy động tiền từ khu vực tư nhân, chủ yếu do lo ngại rằng các tập đoàn sẽ đòi hỏi Chính phủ có hành động đáp lại cụ thể. Hơn nữa, Nghị viện và chính quyền Bush đã phớt lờ sáng kiến mà Hillary muốn Baldertson thực hiện.

Ngay khi Hillary vừa trở về từ Trung Quốc, kết thúc chuyến công du nước ngoài đầu tiên, nơi bà đã ngạc nhiên vì Mỹ không có một kế hoạch nào về một gian hàng tại hội chợ triển lãm thế giới vào năm sau đó – Shanghai Expo (Hội chợ hàng Xuất khẩu Thượng Hải). Các quan chức Trung Quốc cũng không hài lòng vì Mỹ chẳng quan tâm đến một sự kiện quốc tế lớn tại đất nước họ, và tỏ vẻ trách cứ Hillary. Họ cũng phàn nàn về các doanh nghiệp Mỹ. Theo quan điểm của Trung Quốc, thái độ thiếu quan tâm của Mỹ mang ý nghĩa xem thường, tuy chưa đến mức như lần tẩy chay Olympic, nhưng cũng không kém phần nghiêm trọng. Tại thời điểm đó, Hillary và Obama đang cố gắng vận động chính sách “xoay trục” của Mỹ hướng về châu Á, một sự chuyển hướng chiến lược từ châu Âu và Trung Đông về phía Trung Quốc, Nhật Bản và các nước láng giềng của họ. Việc nâng cao vai trò của Bộ Ngoại giao thông qua Đối thoại Chiến lược Kinh tế cho thấy xu hướng chính sách mới với việc xây dựng mối quan hệ toàn diện hơn với Trung Quốc. Hai cường quốc lớn nhất thế giới cũng tìm được lợi ích chung trong các vấn đề khác nhau, từ kinh tế thế giới cho đến chống khủng bố. Đương nhiên, việc làm mất mặt Trung Quốc ở Olympic Bắc Kinh 2008 lại gây khó khăn cho những nỗ lực đó.

Vì vậy, hội chợ triển lãm thế giới cũng là một dịp thể hiện mối quan hệ đối tác quan trọng mới mà Obama muốn thiết lập. “Điều quan trọng [với Hillary] là lãnh đạo cấp cao Trung Quốc giải thích cho bà hiểu rằng việc này rất quan trọng đối với họ,” José Villarreal, một nhân viên gây quỹ kỳ cựu của Cinton có những mối quan hệ với Trung Quốc cho biết. “Thật khó tưởng tượng rằng người Trung Quốc muốn tổ chức một triển lãm thế giới mà không có Mỹ, nhất là khi gần như chỉ Mỹ không tham gia.”

Khi ở Trung Quốc, Hillary thừa nhận mình đã không được thông báo về hội chợ – một vài chính trị gia thường không đổ lỗi cho nhân viên của mình khi cần thiết – và bà cam kết rằng sẽ chú ý đến việc này khi về nước. Sự cố ngoại giao với Shanghai Expo thật sự nghiêm trọng, nhất là khi Mỹ đang trong quá trình ve vãn Trung Quốc. Ngoài giảm thiểu rủi ro, triển lãm cũng mang đến cho Hillary hai cơ hội. Thứ nhất, bà có thể đưa ra một đường lối đối ngoại tương phản với chính quyền Bush tiền nhiệm, đó là không sử dụng các nguồn lực Chính phủ cho một gian hàng triển lãm. “Bộ Ngoại giao không có thẩm quyền và trong tương lai sẽ không được tìm kiếm sự cho phép của Nghị viện để cấp kinh phí cho các kế hoạch tham gia tại Hội chợ triển lãm Thế giới,” Bộ Ngoại giao đã viết như thế trong một văn bản năm 2006 đề xuất một đơn vị tư nhân tổ chức một gian hàng đại diện cho nước Mỹ. Nỗ lực này chẳng đi đến đâu khi người Trung Quốc tiếp cận Hillary.

Chính phủ Mỹ chua chát với ý tưởng về hội chợ thế giới sau một vụ bê bối liên quan các hoạt động của Mỹ vào năm 1998 tại triển lãm ở Lisbon, và Nghị viện sau đó đã đưa ra một lệnh cấm gần như toàn bộ các hoạt động của Bộ Ngoại giao trực tiếp tài trợ cho các gian hàng tại những hội chợ thế giới trong tương lai. Nhưng các nhà lập pháp vẫn để ngỏ cơ hội cho nhân viên gây quỹ từ các nhà tài trợ tư nhân, các tập đoàn, các tổ chức phi chính phủ và các chính phủ nước ngoài. Theo luật liên bang và các thông lệ, Hillary có thể bày tỏ sự ủng hộ các nhà tài trợ tiềm năng nhưng không được trực tiếp kêu gọi quyên tiền – một lỗ hổng pháp luật vốn đã gây ra những tranh cãi lớn khi Bộ trưởng Bộ Y tế Kathleen Sebelius đứng ra vận động gây quỹ tư nhân để thúc đẩy Chương trình Obamacare vào năm 2013.

Cơ hội thứ hai thêm vào đó là việc thiết lập các hoạt động gây quỹ cho triển lãm đã tạo cho Hillary cơ hội vô giá để củng cố và mở rộng mạng lưới tới giới điều hành doanh nghiệp hàng đầu của Mỹ, một nguồn tiềm năng để đóng góp cho chiến dịch vận động nếu bà quyết định ra tranh cử năm 2016.

Balderston về bản chất là một nhà chính trị, chứ không phải một người gây quỹ, do đó Hillary chuyển hướng sang những người từng đem tiền bạc cho nhà Clinton từ nhiều năm trước đó như Elizabeth Bagley và Villarreal. Bagley là cựu đại sứ tại Bồ Đào Nha và là nhà tài trợ đã hỗ trợ hàng triệu đô-la cho Quỹ Clinton, được biết đến như là đại diện đặc biệt của Hillary về các quan hệ đối tác toàn cầu, vai trò này về sau được chuyển giao cho Balderston. Một cố vấn cũ từ cuộc vận động tranh cử năm 2000 của Clinton và Al Gore, Villarreal, hay “Hillraiser,” là một trong những người gây quỹ lớn nhất của bà trong chiến dịch vận động tranh cử. Ông ta cũng là một cựu thành viên của Hội đồng quản trị tập đoàn Walmart.

Villarreal đã nghe nói về Shanghai Expo trong một dịp đến Trung Quốc thăm con gái vài tháng trước đó, khi Giám đốc điều hành Walmart Trung Quốc bày tỏ sự bất bình về việc Mỹ lại không tham gia hội chợ, thông tin mà sau đó Hillary nhận được từ chính phủ. Khi biết Hillary có mặt tại Trung Quốc, ông nói với Cheryl Mills là ông rất vui lòng giúp đỡ để tổ chức một gian hàng Mỹ – từ đó, Hillary cử ông làm đại diện chính thức của Mỹ tại hội chợ.

Ngoài thách thức trong việc gây quỹ, Villarreal, Bagley và Balderston còn phải đối mặt với một quy tắc phức tạp cản trở nỗ lực của họ: họ phải quyên góp tiền từ các nhà tài trợ cá nhân trong khi Hillary không được trực tiếp kêu gọi đóng góp từ các tập đoàn lớn. Chuyện trở nên tệ hơn, khi một số tập đoàn lớn nhất của Mỹ ở Trung Quốc, gồm Coca-Cola và GM, tự lập gian hàng của riêng mình để bảo vệ quan hệ của họ với Trung Quốc. Kết quả là, họ hầu như không đóng góp tiền cho gian hàng chính thức của Mỹ.

Hillary đã sử dụng mọi khả năng của mình nhằm biến một trục trặc trong quan hệ quốc tế thành một biện pháp ngoại giao cứu vãn thể diện cho cả Mỹ và Trung Quốc. Cuộc đối thoại về giải pháp của bà với tư cách một nhân vật có danh tiếng quốc tế đã diễn ra tốt đẹp, nhưng liệu bà có thể xoay chuyển tình hình? Các nhà gây quỹ của bà không bỏ phí thời gian. Họ không thể chờ đợi những cánh tay ban phát làm phúc của các tập đoàn lớn. Thay vào đó, họ đến gặp thẳng các CEO nói rõ rằng, yêu cầu này là do Hillary đưa ra.

“Chúng tôi biết cách để gặp mặt lãnh đạo các công ty, và tất nhiên, đủ khả năng cho họ thấy đây là một dự án rất, rất quan trọng đối với Ngoại trưởng Clinton để thật sự, thật sự mở ra các cánh cửa,” Villarreal nhớ lại. Hillary thậm chí cũng viết sẵn các lá thư gửi các nhà tài trợ tiềm năng, phòng khi có người trong số họ cần bằng chứng về lời kêu gọi của bà. Các nguồn tin cho biết, bà cân nhắc rất kỹ các khía cạnh pháp lý của bức thư, nhưng không có gì nghi ngờ về các nỗ lực của bà nhằm thúc đẩy tiến trình này. “Bà ấy hoàn thành xuất sắc việc vận động quyên góp,” một nguồn tin cho biết.

Hè năm 2009, Indra Nooyi, CEO PepsiCo – một trong những phụ nữ quyền lực nhất thế giới do tạp chí Forbes bình chọn – đã cam kết đóng góp năm triệu đô-la. Tiếp đó là Chevron, General Electric, Honeywell, Microsoft, Intel, Yum!, Hiệp Hội Bóng rổ Quốc gia, Pfizer, và gần năm chục tập đoàn và tổ chức khác đã chung tay. Chỉ lướt qua đã thấy danh sách bao gồm những nhà tài trợ chính cho Quỹ Clinton. Ngoài Microsoft, Pfizer, những nhà tài trợ quen thuộc cho Quỹ Clinton, còn có Bloomberg LP, Citigroup, Dow Chemical, Procter Gamble và Sidney Harman. (Công ty của Harman đóng góp cho Shanghai Expo, còn quỹ của gia đình ông ta thì đóng góp cho Quỹ Clinton.)

“Shanghai Expo,” một người chuyên gây quỹ cho Clinton nói, “là một ví dụ tiêu biểu về việc làm thế nào để có thể mở được cái vòi nhả tiền của những người mà Elizabeth [Bagley] đã theo đuổi.”

Tháng Mười một năm 2009, chín tháng sau khi bị người Trung Quốc trách cứ, Hillary quay lại Thượng Hải, nơi bản thân bà có cú đột phá để quyên góp thêm tiền. Sau khi thăm khu nhà hai ngăn chuyên chứa máy bay Boeing mới được xây dựng tại sân bay Phố Đông, Thượng Hải – nơi bà nói chuyện với một nhóm khoảng 15 đến 20 giám đốc điều hành, gồm những người đứng đầu hãng hàng không Boeing Trung Quốc, Caterpillar Trung Quốc, và GE Trung Quốc – Hillary đã đến thăm triển lãm, ngắm nhìn gian hàng vẫn trơ khung của Mỹ, và đưa ra một yêu cầu.

“Tôi biết có một số người còn đang cân nhắc việc tài trợ, một số khác đang đàm phán với ban tổ chức gian hàng của Mỹ,” bà nói. “Bây giờ chính là lúc chúng ta cần cùng nhau nỗ lực.” Boeing, đơn vị chủ trì chuyến thăm trước đó của bà, đã tăng gấp đôi mức đóng góp vào quỹ xây dựng gian hàng từ 1 triệu đô-la lên 2 triệu đô-la.

Nỗ lực cá nhân của Hillary cũng đem lại lợi ích cho Bagley, Villarreal, Balderston và cho cả mối quan hệ của Mỹ với Trung Quốc. Họ đã kêu gọi ủng hộ đủ để bảo đảm rằng nước Mỹ sẽ có mặt tại hội chợ, tuy nhiên gian hàng của Mỹ cũng chưa hoàn thành cho đến tận những phút cuối.

Hai ngày trước giờ khai mạc hội chợ, ngày 1 tháng Năm năm 2010, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, Phó Thủ tướng Vương Kỳ Sơn và Ủy viên Quốc vụ Đới Bỉnh Quốc đã đến thăm gian hàng của Mỹ, chứng kiến những gì Hillary và nhóm của bà thực hiện trong vòng chưa đầy 15 tháng – gần bằng một nửa thời gian thông thường để thực hiện một dự án như vậy.

“Chúng tôi sẽ vẫn tiếp tục tiến hành hoàn thiện những phần còn lại ngay sau khi triển lãm chính thức khai mạc,” Villarreal nói. “Nếu không có sự đóng góp của bà ấy với những nguồn lực có được nhờ uy tín cá nhân trong các mối quan hệ, chúng tôi không bao giờ thực hiện được nó.”

Cuối tháng Năm năm 2010, Hillary trở lại Thượng Hải lần thứ ba để trực tiếp là một trong 7,36 triệu khách tham quan gian hàng các-bon trung tính [1] của Mỹ trưng bày trong khoảng sáu tháng. John Pomfret của tờ Washington Post gọi đó là “một trong số ít những thành công” trong một năm rưỡi đầu tiên của Hillary tại nhiệm sở, nhưng lưu ý rằng các gian hàng trông giống một “trung tâm hội nghị ở một thành phố tầm trung của Mỹ, hơn là một gian hàng quốc gia kiểu mẫu – đó là gian hàng với những căn phòng tối cùng màn hình lớn, trông lu mờ bên cạnh các gian hàng đầy triển vọng khác, như gian của Ả-rập Xê-út, vốn được trang trí bằng những màn hình IMAX lớn nhất thế giới, hay gian hàng của Đức, được trang trí bằng hàng trăm quả bóng màu đỏ khổng lồ.”

Villarreal thừa nhận rằng “chúng tôi đã có thể làm tốt hơn nhiều” nếu có được thời gian hai hoặc ba năm. “Chúng tôi đã nỗ lực hết sức, trong điều kiện hết sức hạn chế,” ông nói. “Cuối cùng, câu hỏi là ‘Người dân Trung Quốc có thích nó không?’ và câu trả lời là ‘Hẳn rồi.’”

“Tôi thấy nhẹ nhõm,” Hillary nói khi bà tới đấy, và thêm một đánh giá đơn giản về gian hàng: “Trông ổn đấy chứ.”

Vài năm sau, một bức ảnh mang tính biểu tượng của Hillary khi đang diễn thuyết trong mưa tại một công trình đã được treo ở khu vực tiếp tân bên ngoài văn phòng của Balderston, nơi vẫn được xem là bản sao của Quỹ Toàn cầu Clinton tại Bộ Ngoại giao. Các quan chức Mỹ và Trung Quốc thì vẫn nghĩ quả là một phép màu khi Hillary có thể huy động tài chính và tổ chức được gian triển lãm tại một địa điểm hàng đầu, đó có lẽ là biểu tượng cho sự tôn trọng Trung Quốc của người Mỹ. Bản danh sách các địa chỉ liên lạc của gia đình Clinton thành vô giá đối với Bagley, Balderston và Villarreal, vì họ có thể gọi trực tiếp cho các nhà tài trợ. Họ “đã đi gặp rất nhiều người trong mạng lưới, những nhà hảo tâm và nhà tài trợ,” một cố vấn cấp cao của Hillary cho biết.

Một dấu hiệu về vai trò trung tâm của mạng lưới Clinton đã được ghi trên trang đầu tiên trong cuốn kỷ yếu tại hội chợ thế giới mà Balderston cho đặt trên bàn cà phê: “Như các bạn thường nói, ‘Chúng ta đã làm điều đó, bạn thân mến.’” Ký tên: Bill Clinton.

Hội chợ hàng xuất khẩu đã cho thấy sự thật căn bản về công việc mới của Hillary, để bà và các trợ lý hiểu rõ rằng: dù họ đã lập bao nhiêu kế hoạch và chuẩn bị kỹ lưỡng bao nhiêu, họ vẫn luôn phải đối mặt với các tình huống thực tế không thể đoán trước, đòi hỏi năng lực quản lý trong một thế giới có biết bao nhiêu mối quan hệ và các cuộc khủng hoảng, kể cả trong Bộ Ngoại giao và trong bộ máy quan chức ở Washington. Wendy Sherman, một cựu trợ lý của Madeleine Albright và đồng chủ trì nhóm chuyển giao của Obama, đã cố gắng cảnh báo họ trước khi nhậm chức. “Những thử thách sắp tới sẽ không nhỏ,” bà ấy nói với Hillary. Nhưng Hillary và các trợ lý thân cận nhất, những người tự tin sau hai thập kỷ đối mặt với không biết bao nhiêu khó khăn trong nền chính trị quốc gia, đã không hoàn toàn lĩnh hội được ý kiến đó.

“Đây sẽ là những thách thức hoàn toàn khác,” một quan chức Bộ Ngoại giao giải thích. “Khi bạn tiến hành chiến dịch tranh cử, mỗi sáng bạn thức dậy cùng với lịch trình hành động của mình, tất nhiên bạn phải tìm cách đáp trả ngay những gì mà đối thủ của bạn đang thực hiện. Nhưng khi bạn ở đây, toàn bộ thế giới – toàn bộ thế giới – sẽ tìm đến bạn mỗi ngày... Không có công việc nào giống như vậy cả.”

Một mặt, sáu tháng đầu tiên của Hillary tại văn phòng là để minh chứng chiến lược đúng đắn của mình, với việc hạ mình đôi chút để xây dựng một tinh thần mới tại Bộ Ngoại giao, tăng cường vị thế của bà, cũng như của Bộ Ngoại giao trong chính quyền Obama, và bắt đầu hàn gắn lại mối quan hệ với các chính phủ nước ngoài. Giai đoạn xây dựng này rất quen thuộc với bất kỳ ai đã quan sát bà kỹ lưỡng trong những tháng đầu tại Thượng viện, khi bà cố giữ mình ở mức càng thấp càng tốt, khiêm tốn tìm kiếm lời khuyên về cách làm việc của mình từ những “con sư tử” như Robert Byrd và Ted Kennedy. Bà thể hiện hiểu biết của mình qua sự kiện Đối thoại Chiến lược Kinh tế vào khoảng đầu tháng Hai, khi đa số các bộ trưởng trong nội các còn đang phải học thuộc tên các thư ký, trợ lý; như thế tên bà đã gắn chặt với những tên tuổi khác, như Gates, Petraeus, và các quan chức cao cấp của Lầu Năm Góc.

Mặt khác, nửa năm đó dù sao cũng cho Hillary nhiều bài học đắt giá về việc làm thế nào để đáp ứng được kỳ vọng cao về nhiệm kỳ của mình. Bà phải cố cân bằng chương trình nghị sự với những yêu cầu bên ngoài, một việc không hề đơn giản, một phần vì khi bà đang dần điều chỉnh với vai trò mới, dư luận trong nước và quốc tế đều dõi theo từng hành động của bà. Vì vậy, ngay cả khi Hillary đang lặng lẽ cố gắng tập hợp ảnh hưởng từ hậu trường, hình ảnh của bà trong giới tinh hoa ở Washington vẫn là một bộ trưởng đang vật lộn thiết lập vị trí của mình trong thế giới của Obama và toàn cầu.

Nhóm Hillaryland không thể diễn tiếp vở bi kịch Clinton cổ điển vốn đã dìm cuộc tranh cử 2008 của bà xuống vũng bùn thảm bại. Một số trợ lý của bà gặp khó khăn với việc điều chỉnh quyền hạn cũng như phạm vi hoạt động trong các vai trò mới của mình. Họ đã kế thừa ảnh hưởng mạnh mẽ ở một bộ có quyền lực lớn, nhưng chưa quen ngay được với những hướng dẫn nghiêm ngặt và những quy chuẩn đã giúp nền ngoại giao Mỹ vận hành đúng trên đường ray của nó. Phía trên là khả năng hành động với bộ máy quan liêu, hoặc yêu cầu nó chuyển sang một hướng mới. Phía dưới là rủi ro khi thực thi quyền lực trong những lĩnh vực họ không thực sự hiểu biết.

Chuyến đi tới Geneva tháng Ba năm 2009, chuyến công du nước ngoài thứ hai của Hillary trên cương vị ngoại trưởng, đã thể hiện sự độc quyền của nhóm thân cận với Hillary, cũng như những khó khăn trong việc điều chỉnh theo hệ thống quan liêu, và cuộc tranh đấu vẫn tiếp diễn giữa họ với đội ngũ Nhà Trắng của Obama nhằm giành quyền ưu tiên trong chính sách đối ngoại.

Hillary đến Geneva với ý định gửi một thông điệp nhằm khôi phục mối quan hệ với Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov. Một trong những chính sách mà Obama theo đuổi, như được đề cập trong một phiên họp với các quan chức Bộ Ngoại giao, là cắt giảm vũ khí hạt nhân, vừa nhằm giảm các nguy cơ tấn công từ Mỹ và Nga, vừa hạn chế nguy cơ vũ khí hạt nhân rơi vào tay bọn khủng bố hoặc các quốc gia nhỏ hơn nhưng cứng đầu. Trong chiến dịch tranh cử, Obama đã nhấn mạnh nội dung này nhằm gây dựng hình ảnh một nhà tư tưởng có tầm nhìn rộng lớn về chính sách đối ngoại, và ông cũng nêu rõ rằng trong nhiệm kỳ đầu sẽ nỗ lực giành được thắng lợi ban đầu thông qua việc ký kết Hiệp ước mới về cắt giảm vũ khí hạt nhân, thay thế cho hiệp ước sắp hết hiệu lực. Obama tin rằng, trong những năm gần đây “vẫn có những dòng chảy ngầm nguy hiểm” đẩy hai quốc gia ra xa nhau, ngăn cản họ cùng ngồi lại giải quyết các vấn đề chung, từ kiểm soát vũ khí, thương mại cho đến chống khủng bố. Từ khi khởi động chính quyền mới, Obama đã cam kết thúc đẩy mối quan hệ Mỹ-Nga, và chuyến đi của Hillary là bước đầu cho tiến trình đó.

Philippe Reines, một người yêu thích những trò quảng cáo, đã có một kế hoạch giới thiệu với cả thế giới một biểu tượng “Reset” (Cài đặt lại). Hillary sẽ tặng Lavrov món quà là một chiếc nút bấm có in trên đó từ “Reset” bằng cả tiếng Anh và tiếng Nga. Có thể đây là một ý tưởng thông minh nhằm thu hút sự chú ý đến thông điệp của Mỹ, bởi nhiều người tin rằng thông điệp đó sẽ được phát đi toàn cầu qua hệ thống truyền hình hoặc báo chí. Nhưng Reines đã bỏ qua một khâu truyền thống, không chờ tổ phiên dịch tại Bộ Ngoại giao duyệt nội dung. Sau này ông ta nói rằng đã hỏi Mike McFaul, giám đốc phụ trách về Nga tại Hội đồng An ninh Quốc gia về từ này, cả McFaul và Bill Burns, chuyên gia về Nga của Bộ Ngoại giao, đều đã ký xác nhận về các chữ đó.

Trong không khí hào hứng, khi các phóng viên đua nhau bấm máy, Clinton lấy chiếc hộp màu vàng đựng món quà trao cho Lavrov. Đây là thông điệp mà “Tổng thống Obama, Phó Tổng thống Biden và tôi muốn gửi gắm,” bà nói và giới thiệu rằng trên chiếc nút bấm ngoại cỡ này có in các chữ reset và peregruzka. “Để khẳng định chúng tôi muốn thiết lập lại mối quan hệ. Chúng ta sẽ cùng nỗ lực,” bà nói và giơ cao chiếc nút bấm trước các máy ghi hình.

Đưa chiếc nút bấm cho Lavrov, bà hỏi để tìm kiếm sự đồng ý: “Chúng tôi đã khá vất vả để tìm từ thích hợp trong tiếng Nga. Ông xem chúng tôi chọn có đúng không?”

“Các vị nhầm rồi,” Lavrov đáp.

“Tôi nhầm ư,” Clinton lúng túng, đáp lại lời Lavrov.

Lavrov chỉ ra, từ peregruzka – không được in bằng mẫu tự ki-rin [2] mà lại bằng các ký tự la-tinh – có nghĩa là “overcharge” (quá tải).

Hillary phá lên cười, nụ cười đã thành thương hiệu của bà, và vỗ tay. “Ồ, chúng tôi sẽ không để ngài phải thế đâu, tôi hứa đấy,” bà nói.

Lavrov mỉm cười lịch sự, hứa là sẽ giữ lại chiếc nút bấm trên bàn mình. Nhưng giây lát đó đủ làm đứng tim hàng loạt nhân vật tại Bộ Ngoại giao và Hội đồng An ninh Quốc gia, như một quan chức kể lại, “Tôi vẫn nhớ những tiếng than vãn, rên rỉ, những tiếng đập tay vào trán.”

Reines cố gắng khắc phục bằng cách đề nghị đại sứ Nga tại Thụy Sĩ tạm dừng chuyển món quà, để họ thay nhãn mới sau khi đã sửa từ ngữ.

“Đây là một món quà từ Hoa Kỳ. Tôi không nghĩ là tôi có thể đưa lại cho ngài,” vị đại sứ mỉm cười đáp. “Nếu tôi làm thế, ngoại trưởng của chúng tôi sẽ rất bực.”

“Nếu ngoại trưởng của ngài không cho mượn lại, thì ngoại trưởng của tôi,” Reines nói, hàm ý nhắc đến Hillary, “sẽ cử tôi đến Siberia.”

Reines đã giải quyết tình huống một cách hài hước, ông ta thậm chí gợi ý rằng sẽ cho người mang cả chiếc máy đóng nhãn đến phòng, để đại sứ Nga không phải đưa lại món quà – có thể là một cái nút ấn dừng khẩn cấp được xoáy vội đâu đó từ một bể bơi hay bể sục Jacuzzi ở khách sạn – và ông ta cũng không phải trông coi chuyện đó. Nhiet [3] – vị đại sứ nói.

Reines đã ra sức đổ lỗi cho McFaul, một người được Obama tin dùng, vào thời điểm mà căng thẳng giữa các nhân viên Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao đang lên cao.

Sai lầm đã phủ bóng đen lên chuyến công du của Hillary đến Geneva, khi các nhà báo nêu lại câu chuyện trong các bài viết của họ. Tờ báo Nga, Kommersant, đã đăng lại câu chuyện ngớ ngẩn đó trên trang nhất, với tiêu đề “Sergei Lavrov và Hillary Clinton bấm nhầm nút.” Reines như muốn độn thổ, nhưng vẫn cho rằng mục tiêu chính của chiếc nút bấm đã đạt được. Nó giống như nút phá băng giữa hai nhà ngoại giao. Và thay vì tức giận cũng như bắt lỗi những người liên quan, Hillary và Lavrov thấy thú vị đến mức sau này cả hai đã ký tên lên bản sao một bài báo trong tạp chí Time về câu chuyện chiếc nút reset và gửi cho Reines với dòng chữ “Philippe, người Nga đang bấm nút của ông đấy! (cũng công bằng thôi, vì ông đã bấm chiếc nút của họ mà!) Thân mến, Hillary,” bà viết. Nhưng Thượng Nghị sĩ John Mc Cain, một người bạn lâu năm của Clinton đã chỉ ra một điểm chính xác về sự cố trong quan hệ công chúng. “Nếu tôi tặng ông ta chiếc nút bấm,” McCain nói, “Tôi hẳn sẽ phải tìm ai đó trong Bộ Ngoại giao hiểu về người Nga.”

Sự cố dịch nhầm của Reines cũng cho thấy Hillary sẽ phải trả giá thế nào khi dành một không gian quá rộng cho những người thân tín: có sự tác động ngược trở lại với bà khi họ cọ xát với các quan chức Nhà Trắng theo cách sai lầm, rồi những nhầm lẫn của họ trong chính sách đối ngoại, hoặc khi họ bị nêu tên trên tiêu đề các bài báo vì những lỗi của mình. Những điều đó không hề mang lại hình ảnh tích cực về bà, nhưng rất hiếm khi bà đỗ lỗi cho ai đó. Khi PJCrowley, trợ lý ngoại trưởng về quan hệ công chúng, lên tiếng gay gắt về cách xử sự của Chính phủ đối với Bradley Manning, người đứng đầu vụ WikiLeaks vào tháng Ba năm 2011, Hillary đã chấp nhận để anh ta từ chức, nhưng bà cũng đã gọi điện cho anh ta vào ngày anh ta được thông báo sẽ rời nhiệm sở. Crowley nhận cuộc gọi khi đang ở trung tâm khúc côn cầu Washington Capitals; Hillary đã cảm ơn anh ta vì những đóng góp. Khi Crowley nhờ bà chuyển lời chào thân mật nhất đến Bill, bà đã chuyển điện thoại cho chồng để ông có thể nói những lời động viên an ủi.

Trong những tháng đầu tiên nhậm chức, những trục trặc nhỏ như vụ chiếc nút bấm với người Nga, những báo cáo gián đoạn về cuộc chiến nội bộ trong chính quyền Obama thường làm lu mờ những nỗ lực hậu trường của Hillary nhằm tăng cường vai trò của Bộ Ngoại giao, tham mưu cho Obama về chính sách đối ngoại, kết nối các lãnh đạo và nhân dân của các quốc gia quan trọng về địa chính trị. Đến tuần đầu tháng Sáu, bà đã công du đến 20 quốc gia, kể cả các vùng lãnh thổ ở Palestine, tham dự hàng loạt các cuộc gặp gỡ, điện đàm với các lãnh đạo nước ngoài tại Bộ Ngoại giao. Bà tiếp tục vận dụng tài hùng biện của mình, kết nối trực tiếp với công luận ở các quốc gia khác nhằm thúc đẩy hơn nữa việc hợp tác với các chính phủ, qua việc phát biểu tại các trường đại học, trả lời các cuộc phỏng vấn báo chí ở bất cứ nơi nào mà bà đặt chân đến, tiến hành các cuộc họp tại các Tòa Thị chính ở Tokyo, Seoul và Baghdad.

Bà cũng cố gắng duy trì quan hệ với những người Mỹ có liên quan đến công tác ngoại giao và phát triển, gặp gỡ nhân viên sứ quán ở các nước khác nhau. Hillary làm việc miệt mài ngày đêm ở khắp nơi trên thế giới, nhưng bà không có gì nhiều để khoe khoang về lịch trình khốc liệt, một phần vì các thỏa thuận ngoại giao phải cần thời gian để chín muồi, phần khác vì Obama đã tăng quyền cho Biden và nhóm an ninh quốc gia tại Nhà Trắng trong nhiều vấn đề nóng bỏng hơn. Ở Washington đã có người bắt đầu phân vân không biết bà có trụ nổi trước vô vàn mũi dùi vây quanh bà hay không. Ngay sau đó, một điều đáng buồn xảy ra: bà bị gãy xương do chấn thương.

Lúc gần 5 giờ một chiều giữa tháng Sáu, khi rời thang máy để bước đến đoàn xe hộ tống đang chờ dưới tầng hầm của Bộ Ngoại giao, Hillary trượt ngã, chống khuỷu tay phải xuống đất. Lúc đó bà đang trên đường đến Nhà Trắng cùng với Holbrooke, họ dự định bàn với tổng thống về một loạt vấn đề, như chuyến đi Afghanistan sắp tới của Melanne Verveer, chánh văn phòng cũ của Hillary, nay đảm nhiệm chức đại sứ về các vấn đề phụ nữ tại Bộ Ngoại giao.

Cơn đau tưởng như không thể chịu nổi, đến mức Hillary nằm co rúm trên sàn tầng hầm. Cố đứng dậy, bà yêu cầu Holbrooke cứ đến Nhà Trắng và tham gia cuộc họp mà không có bà. “Đó là mệnh lệnh,” Holbrooke nhớ lại lời Hillary nói với ông.

Trong khi Holbrooke trên đường đến gặp Obama, thì Hillary quay trở lại tầng bảy với khuỷu tay đau nhói. Một lúc sau, bà mới tới được bệnh viện của Đại học George Washington ngay dưới phố, để chữa trị khuỷu tay bị gãy. Tối hôm đó, tầm khoảng 10 giờ, bên cạnh là Bill và Chelsea – họ đã bay tới Washington lập tức để chăm sóc bà – Hillary kiểm tra cuộc gọi từ Obama.

Các bác sĩ nói rằng bà sẽ cần phẫu thuật trong những ngày sắp tới, và Hillary vốn hiếm khi ốm đành nằm lại tại khu Embassy Row. Không chịu ngồi yên – những trợ lý cho biết – bà dành thời gian xem xét các báo cáo tóm tắt và gọi vài cuộc. Trong một cuộc họp sau cú ngã của Hillary, người phát ngôn Bộ Ngoại giao PJ. Crowley nói vui là Hillary nhắn rằng “thật may mắn khi vẫn có thể viết lách với một cánh tay bị băng bó.”

Đó là lời nói đùa ngụ ý rằng bà đã thích nghi với tình trạng tay bị băng bó. Hillary chỉ biết một cách cài số: cài số tiến. Đây cũng là mối bận tâm ở nhiều người bạn của Hillary khi bà bắt đầu công tác tại Bộ Ngoại giao, họ thấy trước được việc bà phải vất vả hơn với những chuyến công du nước ngoài triền miên, những cuộc họp, đọc sách muộn và ít tập thể dục, tất cả khiến bà hao tổn rất nhiều sức lực so với công việc trước đó. Bà chưa từng lỡ bất cứ một hoạt động công chúng quan trọng nào ở Washington suốt hai thập kỷ qua, nhưng bà phải thừa nhận là mình đang quá gắng sức.

Tại một sự kiện của Vital Voices năm 2009, ở phía sau sân khấu, Hillary đi về phía Mo Elleithee, trợ lý truyền thông cho bà từ chiến dịch vận động tranh cử năm 2008. “Bà có thích màn trình diễn không?” anh ta hỏi.

Hillary cười và ngừng lại một chút. “Tôi thích lắm,” bà nói, “ Tôi thật sự thích màn này. Rất tuyệt.”

Sau đó bà lại ngừng lời.

“Nhưng giờ tôi đang phải làm việc cật lực hơn bất kỳ lúc nào khác trong đời mình.”

Câu nói này khiến Eleithee lo lắng, chính anh ta đã chứng kiến lịch làm việc kín đặc của Hillary trong chiến dịch tranh cử khốc liệt, phải di chuyển liên tục với tốc độ chóng mặt, phải nói là “110%” mà không hề phàn nàn.

Obama cũng nhận ra điều đó. Trong một cuộc họp Chính phủ, ông nêu Hillary làm gương. Đó là một cuộc chạy việt dã, chứ không phải cuộc chạy nước rút, ông nói với Hillary và những cố vấn hàng đầu khác. “Hillary đang tự ép bản thân quá mức,” một thành viên Chính phủ nói, “và Obama đơn giản chỉ muốn nhấn mạnh rằng bà ấy cần phải giữ gìn khả năng chịu đựng và sức khỏe của mình, ông ấy cũng muốn mọi người như thế.” Giờ đây thì cú ngã đã khiến bà dừng lại một chút. Vài ngày sau cú ngã, trước khi tiến hành phẫu thuật kéo dài hai tiếng vào sáng sớm, Hillary đã được yêu cầu hủy mọi kế hoạch hoạt động công chúng, gồm cả sự kiện Ngày Tị nạn Thế giới mà bà đã lên kế hoạch tham dự cùng nữ diễn viên Angelina Jolie.

Cú ngã gây ra khoảng thời gian khó khăn cho Hillary. Bà đã mất thăng bằng, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Bà phải hủy chuyến công du tới Ai Cập và Italy, nơi bà đã lên kế hoạch gặp những đối tác trong G8 để bàn về vấn đề Afghanistan, Trung Đông và Iran. Bà cũng lỡ chuyến đi cùng Obama tới Nga, nơi ông ấy và Tổng thống Nga Dmitri Medvedev đàm phán về bản tuyên bố chung về việc tiếp tục hỗ trợ nhau chống khủng bố và nạn buôn bán ma túy tại Afghanistan, thiết lập một hiệp ước START mới về không phổ biến vũ khí hạt nhân, ngăn chặn Bắc Triều Tiên và Iran phát triển vũ khí hạt nhân.

Khuỷu tay bị thương của Hillary trở thành đề tài trong câu chuyện phiếm bên lề, rằng những người ở khu West Wing đang đẩy bà ra khỏi bức tranh chính sách đối ngoại. Rõ ràng bà vẫn còn một chặng dài để chứng minh bản thân với một số người trong Nhà Trắng; nhưng căng thẳng leo thang giữa phe Hillary và phe Obama đã gây trở ngại cho những nỗ lực của bà trong việc tái thiết Bộ Ngoại giao, nâng cao hình ảnh Mỹ ở nước ngoài cũng như danh tiếng của bà trong nước, vì bà không công khai tự nhận là nhân vật trung tâm trong bộ máy của Obama.

Một tuần sau tai nạn của Hillary, Ben Smith của tờ Politico viết một bài với nhan đề “Hillary Clinton cặm cụi trong bóng tối.” Bài báo chĩa mũi công kích vào phong cách làm việc của bà và cuộc đấu tranh nhân sự với Nhà Trắng. Như một ví dụ cho thấy tầm ảnh hưởng có giới hạn của bà, Smith đã nêu bật chiến thắng của Denis McDonough trước Cheryl Mills trong cuộc đấu đá giành quyền bổ nhiệm các đại sứ. Reines đã tìm kiếm sự giúp đỡ của một người bạn trong Nhà Trắng là Tommy Vietor nhằm dẹp bỏ câu chuyện. Đáp ứng yêu cầu của Reines, Vietor đã thu xếp vài cuộc phỏng vấn cho Smith với Tom Donilon và McDonough, cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống. McDonough nói với Smith rằng, thông tin về việc ông ta “đấu” với Mills là “không chính xác,” và rằng “một trong nhiều niềm hạnh phúc của chức vụ này là được làm việc và quen biết với Cheryl.”

Về mặt cá nhân, Smith không đồng ý với những tuyên bố đó, nhưng anh ta có trách nhiệm trích dẫn nguyên văn lời phỏng vấn. Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao đã phải vất vả trong mấy tuần để làm mờ câu chuyện và tập trung vào các sự kiện, tin tức quan trọng khác. Dẫu vậy, đến trước khi Obama đàm phán với lãnh đạo Nga ở Moscow đầu tháng Bảy, rất khó để bác bỏ sự thật rằng Hillary phải đeo băng treo tay, ngồi trên ghế dự bị.

Mạng lưới những người ủng hộ Hillary đã phản ứng cứ như cú ngã của bà nằm trong kế hoạch của Obama nhằm gạt Hillary sang một bên. “Đã đến lúc Obama để Hillary Clinton cởi tấm khăn trùm mặt của mình.” Tina Brown đã viết một bài mang tính khiêu khích trên tờ Daily Beast vào ngày 13 tháng Bảy. “Bạn có thể nói rằng Obama đã rất may mắn khi có một ‘hoàng hậu’[4] chính sách đối ngoại tuyệt vời đến thế. Những người đã bỏ phiếu cho Hillary ngạc nhiên rằng bà lại bằng lòng lâu đến vậy với thân phận một ‘cung nữ’ kiểu Ả-rập Saudi đầy phức tạp.”

Không chỉ những nhóm ủng hộ Hillary mới nhận thấy việc Nhà Trắng tìm cách làm giảm vai trò của Hillary. Reines và Vietor có thể đã tìm cách ngăn cản việc cường điệu điều này sau câu chuyện của Smith trên tờ Politico, nhưng những tin đồn thì vẫn ngấm ngầm lan ra. Vài ngày sau, Hillary đã có cuộc nói chuyện đầu tiên trước giới trí thức tinh hoa tại Ủy ban Đối ngoại, và phóng viên đối ngoại của hãng tin Associated Press, các tờ Los Angeles Times, New York Times và Washington Post đều viết những bài về cuộc đấu tranh giành lại ảnh hưởng bị đánh mất của Hillary.

Các bài viết cùng vẽ ra một bức tranh về vị ngoại trưởng Mỹ tức tối vì bị khống chế bởi các lực lượng hùng hậu khác trong chính quyền do chính Obama lãnh đạo. Có bài chĩa mũi nhọn vào các đặc phái viên Holbrooke và Mitchell như những nhân vật có nhiệm vụ tách Hillary khỏi cuộc chơi ở Afghanistan, Pakistan và Trung Đông, hay nói rằng Biden là người phụ trách chính của Obama về vấn đề Iraq. Bài khác lại nhắm đến Dennis Ross, cố vấn cấp cao của Hillary về Iran vừa được bổ nhiệm vào Nhà Trắng; hoặc đến việc chọn Hillary đứng đầu Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID: US. Agency for International Development) đã làm gián đoạn quá trình hiệu chỉnh tại Nhà Trắng; và cả việc Obama chấp thuận đề xuất của Hillary là chọn Joseph Nye – người vận động cho khái niệm quyền lực thông minh, làm đại sứ tại Nhật Bản.

Liệu những câu chuyện của báo chí có phải là kết quả từ tâm lý chán nản của những người ủng hộ Hillary đối với các thành viên nhóm Obama và chiến dịch của Nhà Trắng muốn hạ thấp vai trò của Hillary, hay chỉ đơn thuần từ quan sát kỹ lưỡng của phóng viên mà các xích mích riêng giữa Bộ Ngoại Giao và khu West Wing dần bị phơi bày trước công luận? Trong Bộ Ngoại giao, một số chuyên gia cấp cao về chính sách đối ngoại vẫn tin chắc rằng các trợ lý Obama là những người mới vào nghề, còn rất rụt rè, và ý muốn kiềm chế chính sách đối ngoại của Hillary ở họ cũng hạn chế như chính kinh nghiệm thực tế của họ. “Họ không phải là những Kissinger hay Brzezinski,” một cựu quan chức Bộ Ngoại giao nói.

Về phần mình, nhiều trợ lý Nhà Trắng nhìn nhận rằng mạng lưới của Hillary là một phần của việc hình thành chính sách đối ngoại Washington mang màu sắc của cả hai đảng; họ xem đó là một sai lầm, đặc biệt trong việc hậu thuẫn cho quyết định xâm lược Iraq của George W. Bush. Một số biểu hiện về việc giảm bớt ảnh hưởng của Hillary khá mờ nhạt, nhưng cũng có các biểu hiện rõ ràng. Ví dụ, việc Ross chuyển sang Nhà Trắng xét đến cùng là nhằm thế chân Mitchell, người đã từ chức trong nỗi căm phẫn do bị loại khỏi các cuộc đàm phán về Trung Đông.

Nhưng quan điểm cho rằng các đặc phái viên thách thức quyền lực của Hillary là không có cơ sở. Họ là ý tưởng của bà, chính bà đã chọn họ, và bà vẫn tin tưởng rằng chính chiến lược dành vị trí then chốt cho những người mà mình đánh giá cao – như Holbrooke, Mitchell và những người khác – sẽ nối dài cánh tay quyền lực cho bà. Các phóng viên cũng bỏ qua một khác biệt tinh tế giữa một “đặc phái viên” – danh hiệu dành cho Holbrooke, Mitchell – với “cố vấn đặc biệt”, như Ross tại Bộ Ngoại giao. Các đặc phái viên thường được mong đợi là những người chia sẻ trách nhiệm của cả Hillary và Obama trong hoạt động ngoại giao, họ sẽ báo cáo cho cả hai. Trong khi cố vấn Ross về cơ bản là tham mưu hàng đầu cho Hillary về Iran.

Hơn nữa, tổng thổng có nhiều quyền lực hơn ngoại trưởng trong việc thiết lập các chính sách đối ngoại – và trong hầu hết các trường hợp, điều này cũng đúng đối với các trợ lý của ông ta tại Nhà Trắng. Hiếm có một ngoại trưởng nào – trừ Henry Kissinger – có thực quyền điều hành chính sách đối ngoại. Tuy nhiên, trong trường hợp này, khoảng cách giữa câu chuyện trên báo chí và sự kiện thực tế đã đe dọa gây tổn hại đến các nỗ lực của chính quyền ở khắp nơi. Những người cộng sự thân thiết nhất của Hillary nói rằng bà ấy rất giỏi điều hòa ảnh hưởng của nhận thức đó lên quyền lực, và suốt nửa năm đầu tiên Hillary làm ngoại trưởng, ngày càng nhiều người ở Washington cho rằng bà không có nhiều quyền lực. Đó là chuyện đàm tiếu nguy hiểm đối với một nhà ngoại giao, người phải dựa vào danh tiếng cá nhân – một vị thế có được nhờ quan niệm của công chúng – để thực thi chức trách của mình.

Nếu phần còn lại của thế giới cũng nghĩ rằng Hillary có ít hoặc không có ảnh hưởng đến Obama, thì bà sẽ không thể tỏa sáng khi gặp các đối tác nước ngoài. Ở trong nước cũng vậy, bà sẽ không có nhiều ảnh hưởng đối với những đồng nghiệp trong Chính phủ nếu họ đánh giá bà là yếu đuối. Một điều không hẳn hiển nhiên với mọi nhân viên của Obama là địa vị của Hillary thật sự quan trọng cho việc thực hiện các chính sách đối ngoại của tổng thống. Một số người đưa tin của Nhà Trắng hiểu rõ động lực đó, nó giúp lý giải tại sao họ xếp những trợ lý hàng đầu của tổng thống về chính sách đối ngoại vào cùng hồ sơ với tờ Politico. “Vì chúng tôi cùng làm việc cho Chính phủ,” một quan chức của Nhà trắng nói, “mọi câu chuyện không tốt về Hillary đều có thể gây ảnh hưởng xấu cho Nhà Trắng.”

Hillary và Obama có thể làm nên một cặp đôi kỳ quặc, nhưng những gì mà Tina Brown không đề cập hoặc không viết ra, còn những trợ lý Nhà Trắng có thể đã không nhận ra, đó là Obama sẽ mạnh hơn khi có Hillary đầy quyền lực sát cánh. Bà là hậu thuẫn lớn về mặt chính trị cho Obama, và thành công của Hillary cũng là thành công của ông. Việc công khai bảo vệ chính sách của Obama được Hillary thực thi không do dự đã góp phần tăng sức nặng cho quan điểm của Obama. Nếu Hillary tách khỏi Obama về mặt chính sách, hoặc bà từ chức, thì các thành viên trong Đảng của Obama có thể sẽ chỉ trích từng quyết định mà ông đưa ra trên vũ đài quốc tế. Bà là một bộ trưởng hiếm có theo đuổi chính trị quốc gia một cách thiết thực.

Trong sáu tháng, không chỉ Hillary phải nghe những dị nghị về ảnh hưởng của mình. Obama cũng thế, họ đều đang ngày một thấy rõ rằng nâng mức nhảy càng cao thì càng khó vượt qua. Trong diễn văn nhậm chức, Obama từng cam kết với các nước rằng “chúng tôi sẵn sàng chìa tay ra nếu bạn thả lỏng mình trước.” Nhưng ngay khi các nền tảng cho Hiệp ước START mới đã được thiết lập, thì vẫn không có gì đột phá trong nửa đầu năm 2009.

Huma về sau tâm sự với Wendy Sherman rằng, những đám cháy đang xảy ra đã vượt quá những gì các nhân viên của Hillary từng dự đoán. “Bà chưa từng bảo cho chúng tôi biết rằng nó khắc nghiệt đến thế nào,” Huma nói.

“Có chứ. Tôi bảo rồi,” Sherman đáp. “Nhưng cô đã không tin tôi.”

Quan điểm của Sherman về việc Hillary xử lý hàng loạt những khủng hoảng hằng ngày cũng rất bi quan, bởi Hillary không có nhiều lựa chọn trước chính trật tự mà bà tạo dựng cho ảnh hưởng của mình, cho việc thúc đẩy chương trình hành động của mình, và cho việc đáp trả các thách thức từ Nhà Trắng và cả thế giới nhắm vào bà. Và trong khi các quan chức khác bị lôi kéo ra khỏi thế thăng bằng tương tự – ở giữa tổng thống và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng – vị ngoại trưởng đứng thứ hạng cao trong danh sách những người làm xiếc đi trên dây. Ngay cả khi được các cơ quan truyền thông mô tả là nhân vật thứ hai trong đội ngũ an ninh quốc gia của Tổng thống Obama trong sáu tháng đầu tiên, Hillary vẫn phải tiếp tục thu thập vốn liếng nơi hậu trường, không chỉ trong phạm vi Chính phủ, mà quan trọng hơn là ngay trong Bộ Ngoại giao.

Bất kỳ chính khách khôn ngoan nào cũng đều biết rằng chính trị ở cấp địa phương cũng quan trọng không kém gì vấn đề địa chính trị, và Hillary đã dấn thân vào những chủ đề tác động đến cả công việc ngoại giao lẫn dịch vụ công, từ việc thiết lập các chiến lược dài hạn nhằm tăng quyền cho các nhà ngoại giao ở nước ngoài, đến việc sửa chữa những chuyện nhỏ nhặt về chất lượng cuộc sống vốn làm cho những người làm việc tại trụ sở Bộ Ngoại giao ở Foggy Bottom bị phân tâm.

Bà bước vào Bộ Ngoại giao với danh tiếng từ việc điều hành một hoạt động có kịch tính cao, trong đó lòng trung thành được đánh giá cao hơn năng lực. Thực tế là Obama đã để Hillary gần như hoàn toàn tự do bổ nhiệm nhân sự, một điều làm gia tăng lo ngại rằng bà sẽ phớt lờ những cấu trúc xưa nay của Bộ. Sự kiểm soát chưa từng có tiền lệ của bà với công việc chính trị lại gây khó khăn hơn cho bà khi phải chống lại quan niệm (và cả thực tế) rằng, phần lớn các quyết định được những cố vấn cao cấp lâu năm đưa ra. Những người được bổ nhiệm, thường đến và rời đi cùng ngoại trưởng, được đặt ở vị trí hàng đầu trong các công vụ ở cả ngoại giao lẫn dân sự, được trao quyền lực cả chính thức và không chính thức trong bộ máy quan liêu.

Trong mỗi cơ quan, luôn có sự căng thẳng giữa một nhóm tương đối nhỏ có ảnh hưởng khá lớn tới bộ trưởng, với nhóm đông đảo các chuyên viên. Va chạm tự nhiên giữa hai bộ phận này, cộng hưởng với rối loạn từ chiến dịch tranh cử của Hillary, đã gây ra những mối lo ngại ngay tại Bộ Ngoại giao, thậm chí ngay trong nhóm những người được bổ nhiệm không thuộc phe Hillary. “Nếu bạn chưa từng tham gia chiến dịch đó, thì khá rõ về việc bạn đang đứng ở đâu,” một người được bổ nhiệm và không thuộc nhóm của Hillary nói. “Cuộc chơi ở Bộ Ngoại giao đã thay đổi.”

Đó là lý do tại sao Hillary chú trọng đến các vấn đề hằng ngày mang sức mạnh biểu tượng cũng như với những thay đổi từ tận bản chất mà bà đã thực hiện. Bà buộc phải chiến thắng “pháo đài” để kéo các nhân viên trong Bộ Ngoại giao về phía mình – và để làm được điều đó, bà biết rằng khôn ngoan nhất là nên tập trung vào cả những thứ nhỏ nhặt nhưng giúp cuộc sống của họ được cải thiện hơn. Nếu bà định tái thiết ảnh hưởng của Bộ Ngoại giao trong Chính phủ Liên bang và danh tiếng của Hoa Kỳ trên trường quốc tế, bà cần đầu tư vào nhân viên để họ có thể tin và theo bà. “Rõ ràng bà ấy đã làm mọi thứ, và thật sự rất nỗ lực trong mọi hoàn cảnh khó khăn, bởi vì đó là một bộ máy quan liêu khổng lồ quá đỗi phức tạp với bất kỳ ai,” một quan chức cấp trung Bộ Ngoại giao cho biết.

Ngay sau khi nhậm chức, Hillary xem xét lại chính sách phúc lợi với các cặp đồng giới là nhân viên ngoại giao, một bước triển khai định hướng của Obama trong việc thúc đẩy sự bình đẳng trong đội ngũ nhân viên tại các cơ quan. Trong trường hợp tốt nhất, sự phân biệt đối xử với những cặp đồng tính gây bất tiện với việc đi lại và sinh sống ở nước ngoài của các quan chức ngoại giao đồng tính. Tệ nhất là khi một nhân viên đồng tính của Bộ Ngoại giao có thể bị bỏ lại ở vùng chiến sự trong một cuộc sơ tán mà Chính phủ Liên bang chỉ quan tâm đến các gia đình của những nhân viên có hôn nhân khác giới.

“Tôi xem đây là vấn đề công bằng nơi làm việc, để giữ chân nhân viên, cũng như nhằm bảo đảm an toàn và hiệu quả của cộng đồng đại sứ quán Mỹ trên toàn thế giới,” Hillary phát biểu ngày 4 tháng Hai năm 2009, với lời hứa quyết tâm thực hiện những gì trong quyền hạn của bà như một nỗ lực để nhanh chóng viết lại các chính sách. Vào tháng Năm, tờ New York Times tiết lộ một bản ghi nhớ nội bộ chi tiết về chính sách mới trong việc đối xử công bằng với các nhân viên ngoại giao đồng tính. Kế hoạch được chính thức thực hiện ngay tháng sau đó, khi quy định phúc lợi mới được bổ sung vào hướng dẫn của Bộ Ngoại giao, về y tế, chi phí nhà ở cho những đối tác đồng tính và con cái của những cặp vợ chồng đồng giới...

Nhiều trong số những người mới được bổ nhiệm đã rất ngạc nhiên khi biết Hillary tốn nhiều công sức thế nào để gia tăng quyền hạn cho họ. Họ cũng biết rằng, họ đang được làm việc với một người luôn hành động, không bao giờ chịu thất bại khi lên kế hoạch và thực hiện nó chỉ vì thiếu nỗ lực cá nhân. Lịch trình di chuyển của Hillary thật đáng nể, nhằm thực hiện hai nhiệm vụ, một là về cam kết thúc đẩy những lời hứa trong chính sách ngoại giao mới của Obama, và hai là về đội ngũ quan hệ công chúng để đảm bảo rằng dễ dàng bắt lỗi những con số thống kê. Trang đầu trên website của Bộ Ngoại giao đã trở thành một cuốn sử sống động ghi lại những chuyến đi của Hillary, với tổng quãng hành trình là 956.733 dặm, tới 112 quốc gia. Các trợ lý của những ngoại trưởng tiền nhiệm vẫn thường lưu lại thông tin về những nơi họ đã đi qua, nhưng không phải với lòng nhiệt tình như đội PR nhằm nâng cao nhận thức về hình ảnh của Hillary. Nó là một phần cơ bản trong câu chuyện của bà với tư cách một ngoại trưởng mạnh mẽ hơn ai hết. Riêng ở Bộ Ngoại giao, các trợ lý chính trị và quan chức chuyên môn còn ấn tượng hơn với sự siêng năng của bà trong việc đi sâu vào những vấn đề chính sách chuyên biệt.

Thời còn làm việc tại Thượng viện, Hillary từng khởi đầu một ngày mới với nhiều tin tức được lọc từ báo chí mà một trợ lý bắt đầu thu thập từ 4 giờ sáng, trong một cuộc đua không chính thức với nhân viên làm công việc tương tự cho Bill Clinton. Hillary có phần ghen tị với đống tin tức của chồng, và bà đã hướng dẫn nhân viên của mình chuẩn bị một bản tóm tắt tương tự mỗi buổi sáng. Tại Bộ Ngoại giao, họ còn tập hợp thông tin từ những bài viết quan trọng về chồng và con gái bà.

Một ngày làm việc của Hillary thường kết thúc với cuốn sổ thông tin tóm lược dày cộp, có cả những đoạn trích vui vẻ về mèo được một trợ lý thêm vào. Rob Russo – người từng chuyển các thông điệp cảm ơn của Hillary cho các nhà tài trợ và người ủng hộ hồi năm 2008 – chịu trách nhiệm bảo đảm các tài liệu hằng ngày được phân loại cẩn thận. Trong đó có kế hoạch làm việc của Hillary ngày hôm sau, các bản ghi chép sau mỗi cuộc họp về chương trình nghị sự, các bài phát biểu trong các sự kiện cộng đồng, và cả thông tin cơ bản về những người Hillary sẽ gặp. Thông tin do nhân viên của Bộ Ngoại giao cung cấp, và hai quan chức có trách nhiệm phân loại. Thường thì các trợ lý sẽ phải làm việc đến khuya để chuẩn bị tất cả những tài liệu đó.

Cũng không có gì bất thường khi một bộ trưởng hoặc một thành viên Nghị viện mang cuốn sổ thông tin tóm tắt công việc về nhà vào buổi tối – bởi đa số đều làm vậy – nhưng yêu cầu của Hillary về những công việc phải làm tại nhà cũng khiến các cố vấn của bà đau đầu. “Bà ấy thật sự đã đọc hết những bản ghi nhớ,” một trợ lý cấp cao cho biết. “Tôi từng chuẩn bị cho phiên họp Thượng viện phê chuẩn bà ấy và cả phiên điều trần đầu tiên về ngân sách. Tôi trao cho bà ấy 300 trang báo cáo và cứ nghĩ bà ấy sẽ không đọc hết, ít nhất là 50 trang cuối. Bà ấy mang về nhà vào cuối tuần, khi bà ấy quay lại làm việc vào thứ Hai, trang 250 của cuốn sổ được đánh dấu với ghi chú ‘Điều này vô nghĩa’ và ‘Giải thích cái này cho tôi.’” Hillary thường đích thân ghi chú và ký lên đó, gửi trả bản thảo có những chỗ khoanh tròn lỗi chính tả hoặc chua thêm biệt danh người nhận, hoặc sửa chữa một vài chi tiết khác.

Kỷ luật và sức tập trung cao độ của Hillary là hai trong số những điều trái ngược với chồng bà, nổi tiếng vì trễ giờ và ôm đồm nhiều việc cùng lúc. Với những người biết cả hai, Hillary càng được nể trọng bao nhiêu thì chồng bà lại bị phàn nàn bấy nhiêu. “Trong khi bạn đứng trước bàn làm việc của Tổng thống Hoa Kỳ, tóm tắt cho ông ấy về một cuộc họp quan trọng,” Albright kể, “thì Bill vẫn chơi trò giải đố ô chữ. Bạn có cảm giác như muốn la lên ‘Chúa ơi, hãy nghe tôi nói này,’ nhưng bạn không bao giờ ngờ rằng sau đó ông ấy có thể nói lại bất cứ điều gì mà bạn vừa tóm tắt, vậy là bạn biết ông ấy luôn lắng nghe. Còn Hillary, như một cô gái Wellesley, sẽ ghi chép khi nghe.”

Thậm chí, với một trong số những sự kiện đáng xấu hổ nhất thời trẻ của Hillary là khi bà thất bại trong kỳ thi tuyển luật sư tại Washington, DC., thì cũng không phải do bà thiếu kỷ luật. Bà ghi danh vào một lớp luật sư của Giáo sư Joseph Nacrelli nổi tiếng về hiểu biết mọi ngóc ngách các cuộc thi tại DC. Nhưng năm 1973 là năm thứ hai của kỳ thi với số người dự thi kỷ lục đến từ nhiều bang khác nhau, nên các kiến thức chung về luật của Hoa Kỳ được đề cao hơn những câu hỏi về thành phố cụ thể nào đó. Khi nghe bài giảng của Giáo sư về chủ đề mà họ nắm khá vững, một vài học viên nhận ra tài liệu mà ông đang dạy có sai sót. Họ thấy lo vì kỳ thi đề cập những chủ đề mà mình không được tiếp cận ở trường luật. Họ bắt đầu học thêm về các chủ đề đó bên cạnh việc tiếp tục học trên lớp, nhờ thế mà vượt qua kỳ thi. Cũng khó có thể bảo rằng Hillary trượt vì đã học theo những thông tin sai lệch, bởi cũng có một số người dựa hoàn toàn vào những gì được học trên lớp nhưng vẫn đạt điểm cao. Bà là một sinh viên giỏi, nhưng không thấy được những vấn đề mà một số bạn học đã nhận ra và điều chỉnh.

Tuần đầu tiên tại văn phòng, Hillary đưa ra một sáng kiến cho thấy bà quan tâm tới việc xây dựng bộ máy và lên kế hoạch cho sáng kiến đó, dù một bộ phận nhân viên không thích điều này lắm. Đó là dự án mà bà hy vọng giúp hiện đại hóa Bộ Ngoại giao ở tất cả các cấp, bảo đảm để các nhà ngoại giao sẽ là bộ mặt của Hoa Kỳ tại các nước. Bà đã mời rất nhiều phụ tá cấp cao đến dự bữa tối tại tầng tám, nơi có những tài sản quý giá của Hoa Kỳ như chiếc bàn của Thomas Jefferson được đặt trang trọng giữa những cột đá cẩm thạch trên sàn sỗ cứng, hay ban công mà từ đó người xem có được một bức tranh tráng lệ toàn cảnh thành phố.

Khi ngồi xuống dùng bữa và vạch kế hoạch với Cheryl Mills, Jake Sullivan, trợ lý hoạch định chính sách Derek Chollet, và Rich Verma thuộc bộ phận vận động hành lang trong Capitol Hill, Hillary bắt đầu nói về cách thức hiệu quả mà Lầu Năm góc đã dùng để thuyết phục Nghị viện thông qua ngân sách thường niên cực lớn, lên đến hơn 650 tỉ đô-la gồm cả những chi phí bổ sung cho cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan.

Với tư cách là thành viên của Ủy ban Quốc phòng, bà giải thích, mình từng chứng kiến các lãnh đạo hàng đầu của Lầu Năm góc được trao cả quyền hạn cho sứ mệnh đặc biệt là bảo vệ đất nước, lẫn những tập tài liệu về lập dự án có thể giúp họ thành công khi kiến nghị tăng ngân sách. Cứ bốn năm một lần, Lầu Năm góc lại chuẩn bị bản báo cáo, gọi là Bản đánh giá công tác Quốc phòng Bốn năm một lần (QDR: Quadrennial Defense Review,) đánh giá những chiến lược và ưu tiên dài hạn, bao gồm nhu cầu về vũ khí, nhân lực và phương tiện. Chức năng cơ bản của bản đánh giá này là đưa ra chiến lược bảo vệ đất nước có định hướng. Nó cũng được dùng như một điểm tham chiếu cho các lãnh đạo quân sự khi đến Capitol Hill với bản thuyết trình đầy màu sắc nhằm thuyết phục Nghị viện tiếp tục thông qua yêu cầu cấp kinh phí cho những vũ khí cũ hoặc chi tiền cho một hệ thống mới. Những yêu sách mới luôn được lồng ghép vào các chiến lược nêu trong QDR.

Những gì mà QDR đem đến cho Lầu Năm góc là nhận thức về nhiệm vụ và mục tiêu dài hạn, điều sẽ hợp nhất nhu cầu của cơ quan này với tầm nhìn chiến lược của các lãnh đạo dân sự. “Tôi không hiểu tại sao chúng ta lại không làm như họ,” Hillary nói với một phụ tá. “Phải chăng điều đó chẳng có ý nghĩa gì cả.”

Bộ Ngoại giao “không có một bức tranh toàn cảnh thuyết phục, mang tính chiến lược để cho thấy vì sao chương trình mà Bộ đề xuất không chỉ quan trọng với chính Bộ, mà còn rất quan trọng cho một tầm nhìn tổng quát hơn,” theo lời một quan chức đã quen với tư duy nỗ lực thúc đẩy từ phía sau của Hillary. “Không chỉ tập tài liệu mới có giá trị. Tôi nghĩ, quá trình kết nối những ưu tiên rõ ràng là quan trọng hơn.”

Hillary vừa chăm chú lắng nghe ý kiến từ những cố vấn, vừa ghi tóm tắt. Sau đó bà viết xuống dòng chữ Bản đánh giá công tác Đối ngoại và Phát triển Bốn năm một lần (QDDR: Quadrennial Diplomacy and Development Review.) Bà đã suy nghĩ rất nhiều về QDDR lúc đó, và đã thảo luận với Jim Steinberg trước khi xác nhận chính thức nó trong bữa tối với các phụ tá.

Nhưng, dự án đó là cả một quá trình kéo dài gần hai năm vất vả, và nhiều quan chức mệt mỏi phàn nàn về khối lượng công việc phải gánh thêm. Anne-Marie Slaughter – người đứng đầu Văn phòng Chính sách Kế hoạch của Bộ Ngoại giao và chủ trì dự án QDDR – sau này đã viết một bài trên tạp chí The Atlantic, với nhan đề “Tại sao phụ nữ không thể có tất cả.” Richard Fontaine, một thành viên cấp cao tại Trung tâm một nền An ninh mới cho nước Mỹ, lưu ý rằng “cho dù với những lời giải cho các vấn đề mà QDDR đã đưa ra, việc thực hiện vẫn sẽ rất khó.” Ngay cả những trợ lý cấp cao của Hillary cũng từ chối tô vẽ cách thức mà QDDR được tiếp nhận. “Tôi bảo đảm là mọi người rất không vui vẻ gì với nó, nếu nhìn cách mà họ bàn luận về nó,” một trong số này nói, “nhưng đó thật sự là một bài tập hiệu quả.”

Cuối cùng, họ cũng có một dự thảo chi tiết dài 242 trang về việc nâng cao hiệu quả công tác ngoại giao và phát triển sánh ngang với lực lượng quân sự trong việc thực hiện các chính sách đối ngoại của Mỹ. Mục tiêu hàng đầu của QDDR bao gồm hình thành đội ngũ các đại sứ có chức năng như những CEO cho các cơ quan của Mỹ ở nước ngoài; củng cố các công cụ quyền lực mềm như hỗ trợ kinh tế; cải thiện cuộc sống của phụ nữ và trẻ em gái trên toàn thế giới; tái tổ chức các phòng ban của Bộ Ngoại giao để ứng phó trước những thách thức mới; bảo đảm các nhà ngoại giao được trang bị máy tính và thiết bị cầm tay hiện đại; đổi mới kỳ thi tuyển công chức tại nước ngoài để có thể bổ sung các nhân viên ngoại giao nhạy bén; tăng cường tiếp xúc trực tiếp giữa các nhà ngoại giao với người dân các nước sở tại, không chỉ với các chính phủ; và sử dụng công nghệ làm nền tảng truyền thông xã hội trong đối ngoại. Toàn bộ kế hoạch này có mục tiêu tăng cường sức mạnh cho bộ máy, ngay cả khi phải uống viên thuốc đắng. “QDDR là một quá trình khó khăn, nhưng nó đưa lại quyền lợi cho Bộ Ngoại giao,” một nhà ngoại giao kỳ cựu nói. “Điều đó khẳng định công việc đã được hoàn thành ở đây; và cố gắng để tổ chức thực hiện theo cách tốt hơn.”

Sáng kiến đó còn phản ánh cách làm việc của Hillary, cho cái tốt hơn và xấu hơn. Bà nắm ý tưởng của người khác, nghĩ ra một kế hoạch để cạnh tranh, và dùng quyền lực để hoàn thành. “Bà ấy không phải là người sáng tạo nhất, nhưng có sự chỉ huy đích đáng nhắm tới các định hướng chiến lược,” một cố vấn hàng đầu nhận định. Điểm mạnh của bà là thực hiện được những ý tưởng tốt đến với mình, và áp dụng tốt những bài học từ một vấn đề này để giải quyết vấn đề khác.

Hillary đã tận dụng cường độ học tập như sinh viên của mình cùng với năng lực của các nhân viên để bù đắp cho việc thiếu một nguồn sáng tạo dồi dào. Không ngừng tìm ý tưởng, bà đã thu hút rất nhiều người, và tận dụng kỹ năng học được từ những ngày ở Thượng viện, vốn là một cái mũ bảo vệ cũ kỹ suốt cả thời gian dài trước đây của nhóm Hillaryland. Laurie Rubiner từng là người phụ trách vấn đề lập pháp của Hillary tại Thượng viện khoảng hai tháng vào năm 2005, khi cô được gọi tới văn phòng của Hillary để nhận hai chiếc va-li chứa đầy các tập tài liệu. Trong đó là hàng trăm trang cắt từ báo và tạp chí có những dòng chữ viết tay vội vàng của Bill và Hillary bên lề. Rubiner đáng được tha thứ vì nghĩ rằng mình vừa bước vào văn phòng của “Kẻ đặt bom giấu mặt.”[5] Đó là công việc mà một cựu nhân viên cấp cao của Hillary từng làm. Nhiệm vụ của Rubiner là chuyển những bài báo này đến tất cả những nhân viên lập pháp mới trong văn phòng và yêu cầu họ phản hồi cho Hillary các phương án hành động, nhằm khắc phục các khúc mắc, hoặc tìm kiếm cách xử lý mới. Cách làm đó lan tỏa khắp Bộ Ngoại giao, nơi mà Jake Sullivan thường phải dành nhiều giờ đồng hồ để xem xét các đoạn băng hình cùng Hillary trên máy bay của bà.

Phần lớn những bài báo là về các chuyến đi quanh thế giới của Hillary, tổng hành trình gần 1 triệu dặm trong hơn bốn năm. Những người đố kỵ với Hillary đã sử dụng số liệu thống kê này để chỉ trích bà đang cố gắng tạo một kỷ lục hơn là giải quyết các vấn đề quốc tế. Trợ lý của Hillary nói, bà hiểu rằng giá trị lớn nhất của bà với tổng thống là thay mặt ông ấy đại diện cho Hoa Kỳ. Hillary là một nhà ngoại giao bẩm sinh, điều đó nói lên rằng một chính trị gia không nhất thiết phải thắng trong một cuộc bầu cử.

Danh tiếng của Hillary cũng tạo nên một chút e dè cho một vài người bà từng gặp trên khắp thế giới, nhưng bà đã phá vỡ bầu không khí căng thẳng đó chỉ với một lời khen về chiếc cà vạt hay chuỗi vòng cổ. “Lạy Chúa, sao cô có được chiếc ví này vậy?” Hillary thốt lên khi gặp một người đang xin việc. “Này, Huma, nhìn chiếc ví này mà xem!”. Ứng viên, sau đó được tuyển dụng, đã chứng kiến Hillary sử dụng “công cụ phá băng” tương tự như thế nhiều lần.

“Đó là chiến thuật mà tôi thấy bà ấy sử dụng với những người khác nhau,” người phụ nữ đó nói. “Bà ấy biết những người xung quanh căng thẳng, nên đã làm vậy… Đó là một cách hành xử tuyệt vời với những người đang hết sức căng thẳng vì bạn… Và đó là sự tự ý thức rất sâu sắc.”

Hillary là một lãnh đạo luôn đặt ra yêu cầu cao và có thể khiến các nhân viên của Bộ Ngoại giao phải thay đổi, như những gì được phác thảo trong QDDR. Bởi thế, khả năng của bà trong việc kết nối với họ là rất quan trọng. Họ là một phần của bà, và bà phải tìm cách giúp họ chiến thắng bằng nỗ lực của chính họ. Khi ra mắt QDDR hồi tháng Bảy năm 2009, bà đã tổ chức một cuộc gặp mặt ở phòng họp chính tại tầng trệt Bộ Ngoại giao, thu hút rất nhiều câu hỏi trực tuyến cũng như từ những người có mặt.

Emily Gow, người từng làm việc cho Văn phòng Tự do Tôn giáo quốc tế, đã tạo cho Hillary một cơ hội tuyệt vời để thể hiện năng lực chỉ huy của bà. Lúc đầu, những người tham dự cười nhạo câu hỏi của Gow, một câu hỏi cho rằng có rất ít những thay đổi về mặt văn hóa mà Hillary đang tìm cách bổ sung thông qua QDDR. “Tôi muốn chạy bộ hoặc đạp xe đi làm,” Gow nói, “và không biết bà có thể ủng hộ một sáng kiến nào đó để giúp chúng tôi có các nhà tắm hay không?” Dù có thể xấu hổ trước đồng nghiệp và sếp của mình vì câu hỏi về những thứ tầm thường nhất trong cuộc sống thường nhật, người phụ nữ trẻ vẫn kiên trì. “Đầu tiên, việc này có thể giúp Chính phủ tiết kiệm ngân sách vì chúng ta không phải trợ cấp cho việc đưa đón. Tôi thà đạp xe đến nơi làm còn hơn đi tàu điện ngầm. Nó sẽ giúp mọi thứ xanh hơn, và nó cũng giúp thúc đẩy tinh thần.”

Như một chuyên gia chính trị dày dạn, Hillary đã lắng nghe và hứa sẽ xem xét cẩn thận vấn đề. Không ai nghĩ nhiều đến cam kết, vì nghe có vẻ đó chỉ là lời bác bỏ lịch sự.

Nhưng vào tuần tiếp theo, trong cuộc gặp vào 8 giờ 45 sáng hằng ngày với gần một tá cố vấn, Hillary hỏi Pat Kennedy, thứ trưởng phụ trách về quản lý: “Pat, câu chuyện về nhà tắm đến đâu rồi?” Bà liên tục chất vấn Kennedy cho đến khi vấn đề được giải quyết.

“Tôi tham dự nhiều cuộc họp buổi sáng hơn trong những tháng đầu tiên,” một người mới được bổ nhiệm phụ trách chính trị vừa gia nhập vào thế giới của Hillary nói, “ở đó chúng tôi thảo luận các câu hỏi, đại loại như: Đã có đủ vòi tắm trong phòng thay đồ chưa? Có đủ chỗ để xe trong bãi đậu không? Có đủ máy tính và điện thoại BlackBerry cho nhân viên chưa? Đó không phải là những kiểu tư duy về địa chính trị to lớn. Bà ấy quan tâm đến từng thứ nhỏ nhất nhưng thiết thân với những người gắn bó hằng ngày với chúng suốt 15 - 20 năm. Những thứ như vậy với Hillary là quan trọng, và bà nổi cáu khi những vấn đề ấy không được giải quyết. Đó là những lần tôi thấy bà ấy mất bình tĩnh.”

❀ ❀ ❀

[1] Nguyên văn: carbon-neutral, chỉ các loại máy móc khi hoạt động không thải khí các-bon-nic có hại ra môi trường. (BT)

[2] Chữ cái tiếng Slavơ – như Bulgaria, Nga… (ND)

[3] Phiên âm từ tiếng Nga: Het, nghĩa là không. (BT)

[4] Nguyên văn: ‘wife’. (ND)

[5] Nguyên văn: Unabomber, đây là tên mà FBI đặt cho Ted Kaczynsk - tội phạm đã thực hiện một loạt vụ đánh bom ở Mỹ giai đoạn 1975 – 1995, khiến 3 người chết, 23 người bị thương, chủ yếu là các nhân vật cấp cao có ảnh hưởng tới Chính phủ. (ND)

LLARY CLINTON: BÍ MẬT QUỐC GIA VÀ SỰ HỒI SINH ebook©MotSAch TVE-4u©nguyenthanh-cuibap —★— Nhà xuất bản: NXB Thanh Niên
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.