Darrell Issa, vị chủ tịch năng động của Ủy ban Giám sát và Cải cách Chính phủ Hạ viện, đã đến Nhà Trắng, ngoài các việc khác, để thúc đẩy việc ký Tu chính án Bảo vệ người tố giác; ông ta xô phải Hillary tại một cầu thang ở khu West Wing. Đó là vào ngày 27 tháng Mười một, khoảng ba tuần sau ngày Obama tái đắc cử, và Issa thì đang đấu tranh với các quan chức Bộ Ngoại giao để có thêm thông tin về vụ Benghazi, cả các bản ghi chép lẫn điện tín. Là cháu của một người di dân Li-băng gốc Toledo, tóc đen, da ngăm, Issa rất ngưỡng mộ Hillary sau gần một chục năm tiếp xúc làm việc. Bà luôn lịch sự, nhớ tên ông ta từ những ngày đầu tiên của ông ta ở Hạ viện, và đáp “vâng” gần như với mọi câu hỏi quen thuộc. Nếu quan hệ của họ không phải là nồng nhiệt, thì ít ra cũng thân thiện.
Ngay sau vụ Benghazi, Hillary đã gọi cho Issa đề nghị giúp ông tìm hiểu vấn đề. “Tôi từng ở Thượng viện – tôi biết ông có bổn phận,” bà nói lúc ấy. “Tôi có cùng cách cảm nhận, và tôi muốn hợp tác. Tôi sẽ cung cấp cho ông hết mức có thể. Nhưng tôi muốn nhấn mạnh rằng điều này sẽ không bị chính trị hóa.”
Bà cũng hứa cung cấp chứng cứ, thậm chí nhiều hơn những gì mà ủy ban điều tra cần, và còn giúp đảm bảo rằng Issa được tiếp cận sớm với thông báo nhanh cho các thượng nghị sĩ trên Capitol Hill. Trước khi xảy ra vụ Benghazi, Hillary từng mời ông ta cùng các nghị sĩ quan tâm đến chính sách đối ngoại của Bộ Ngoại giao dự một vài buổi ăn trưa xã giao mang tính cá nhân. Ông ta luôn có ấn tượng tốt về khả năng của bà trong việc đi sâu vào bản chất vấn đề và điều khiển các cuộc đối thoại mà trước đó tưởng như không đem lại kết quả.
Vậy nên khi va vào nhau ở cầu thang và thoát khỏi các tai nghe trang bị ngầm của khu West Wing, Issa không hề ngạc nhiên khi Hillary đã sẵn sàng trả lời các câu hỏi vặt vãnh của ông ta về Bộ của bà. Bà lần lượt nói cho ông ta hiểu từng vấn đề mà bà đang xử lý. Ông ta bắt đầu nhận ra rằng – có lẽ gần như xác nhận thành kiến mà ông ta vốn có đối với một chính quyền từng đối chọi với ông ta trên hàng loạt cuộc điều tra – chính Nhà Trắng, chứ không phải Clinton, mới là người cản trở mình. Trong mắt ông ta, Nhà Trắng đã lách luật và tạo ra tình trạng chỉ chịu cung cấp cho ông ta những tư liệu và lời khai nào mà các quan chức Nhà Trắng cho là cần thiết đối với điều tra của ông ta mà thôi.
Issa chất vấn bà về việc Thứ trưởng Pat Kennedy từ chối đưa ra tài liệu. Không thể bỏ rơi Pat Kennedy, bà nói bà hiểu vì sao Issa lo lắng rồi. Tôi hiểu sự thất vọng của Kennedy, bà nói, và đang làm việc để có thêm thông tin cho ông ta. Dù tốt hay không, ông ta coi bà như một người trung gian thật thà bị trói buộc bởi một chính quyền mà sự minh bạch ngang với con buôn. Ông ta nghĩ bà đã vượt qua được thứ thuốc độc của nền chính trị Washington tốt hơn những vị ngoại trưởng khác, kể cả những người Cộng hòa như Colin Powell và Condi Rice, do đó ông ta hy vọng buộc Obama phải đáp ứng những đòi hỏi của mình.
Điều ấy giúp ông ta tự trả lời câu hỏi mà mình nêu ra ngay trước khi họ tạm biệt nhau.
“Hillary, bà vẫn ở đây cho đến khi vấn đề này được giải quyết xong chứ?” Issa hỏi.
Với Hillary, đó là một câu hỏi thật sự khó trả lời trong cuộc đối thoại ngắn ngủi giữa họ. Bà không trả lời bằng tiếng cười khước từ đặc trưng của mình, mà bằng nụ cười mỉm tinh tế, rồi rời đi.
Cuộc trao đổi giữa họ là bức ảnh biết nói về một thời điểm khi những người Cộng hòa chĩa mũi nhọn vào Obama nhiều hơn là vào Hillary. Có một sự thay đổi, tập trung vào việc điều tra chính quyền và chứng minh rằng chính quyền cố ý che đậy các vụ bê bối nhằm phục vụ cuộc tranh cử. Chẳng hạn, Chủ tịch Ủy ban Tình báo Nghị viện Mike Rogers (R-Mich.) quy kết rằng tổng thống có thể đã biết việc Bộ Tư pháp điều tra vụ bê bối (tình ái) của Giám đốc CIA David Petraeus với người viết tiểu sử Paula Broadwell, khiến ông này phải từ nhiệm ngay sau Ngày Tuyển cử. (Hillary chứng tỏ cho Petraeus thấy đức tính tử tế của bà về hậu quả của vụ bê bối này bằng một bức thư và gọi điện cho ông này bày tỏ lòng cảm thông. “Tôi có chút kinh nghiệm,” bà pha trò, ngụ ý về sự không chung thủy của chồng bà.
Thậm chí ba tuần lễ sau tuyển cử, khi vẫn là ngoại trưởng, Hillary vẫn rất hữu ích cho Issa. Bà có nhiều ưu thế, hay ít ra là cố gắng chiếm ưu thế, để tổng thống hợp tác nhiều hơn. Trong một cuộc phỏng vấn của Issa vào tháng Mười hai tại Ủy ban Xây dựng Trụ sở Rayburn của Nghị viện, khi ông ta sắp đến dự lễ Noel tại Nhà Trắng, ông ta đã gọi Hillary là một điểm sáng trong chính quyền.
“Tốp dẫn đầu của chính quyền, mà Hillary đứng đó, là rất tốt. Cho đến khi xuất hiện Thứ trưởng Ngoại giao Kennedy bước vào với kịch bản tiêu chuẩn của Obama,” Issa nói. “Tôi không nghĩ bà ấy lừa dối tôi. Trong cảm nhận của mình, tôi luôn nghĩ đến bà ấy là một nhà chính trị, và đặc biệt, là nhà ngoại giao – mọi lời nói khẳng định đều phải thận trọng để bảo đảm chắc chắn là bạn sẽ hiểu nó một cách chính xác. Nhưng, khi nghĩ đến Eric Holder, tôi không thấy thế. Ông ấy không đáng tin. Tôi không tin ông ấy trung thực, lương thiện. Còn về Ngoại trưởng Clinton, tôi nghĩ tư cách cá nhân của bà ấy – di sản vững mạnh và trung thực của bà, ngoại giao nhưng không gian xảo – nó rất quan trọng đối với bà ấy.”
Issa trách Obama, chứ không trách Hillary về việc mà ông ta cho là một hành xử không thỏa đáng đối với vụ tấn công. “Khi cuộc gọi đến vào lúc 3 giờ, đã có một sai sót mà người ta đã không xét lại ở đây, ít nhất cũng như quan điểm hôm nay Ngoại trưởng Clinton đã trình bày,” ông ta nói. “Đó quả thật là một sai sót của Obama.”
Thậm chí ông ta nói rằng “di sản của bà ấy chắc chắn còn nguyên vẹn cho đến 2016, nếu bà ấy ra ứng cử,” nhưng ông ta dừng lại một lúc rồi nói rằng người Cộng hòa sẽ không truy cứu bà ấy về vụ Benghazi, và việc điều tra của ông ta sẽ ngày càng tập trung vào chuỗi các quyết định về an ninh tại Libya diễn ra tại Bộ Ngoại giao đã tới cấp cao nào.
Các động cơ về vụ Benghazi đã thay đổi theo từng lập luận của Issa. Các đảng viên Cộng hòa đã không để Hillary rời khỏi Bộ Ngoại giao – và có khả năng giành chức tổng thống vào năm 2016 – mà không trả lời các câu hỏi quanh vụ Benghazi bằng thủ tục tuyên thệ. Các cuộc điều tra do hơn nửa tá các ủy ban thuộc Hạ viện và Thượng viện đã cung cấp cho đảng viên Cộng hòa đầy đủ các công cụ cần thiết để thường xuyên lôi vụ Benghazi ra làm lợi thế trong vòng bầu cử tổng thống.
Với việc Hillary sắp từ nhiệm, và tên tuổi của bà đã được tô đậm thành tay đua hàng đầu cho cuộc tranh cử 2016, giờ đây bà đã thành mục tiêu chính cho người Cộng hòa nào toan tính về cuộc bầu cử tiếp theo. Bên cạnh nhiều ủy ban Hạ viện thông thường vốn có quyền hạn điều tra các khía cạnh trong vụ Benghazi, Hạ Nghị sĩ Frank Wolf của Virginia và Thượng Nghị sĩ John McCain của Arizona đã kêu gọi thành lập một “ủy ban đặc biệt” tra xét kỹ vụ tấn công này. Dù nhiều nghị sĩ không cho rằng Hillary gây ra sai lầm gì, nhưng nhiều cử tri của họ lại không nghĩ thế, và các nhà bình luận viết báo hữu khuynh cũng vậy.
Bà không lạ gì những việc như vậy. Bà và chồng mình từng trải qua tám năm vật lộn chống chọi với các ủy ban của Thượng viện trong các vụ Whitewater, Travelgate hay bê bối Monica Lewinsky. Thực tế, bà không dễ dàng tự biến mình thành mục tiêu. Dù bà có thiên hướng tìm cách để các thành viên Thượng viện tiếp cận những thông tin mà bà cho là họ có quyền, vẫn có những giới hạn nhất định về những tài liệu và các văn bản mà bà cung cấp. Chẳng hạn, các thượng nghị sĩ được phép xem xét các hồ sơ nhất định của Bộ Ngoại giao theo hình thức “qua camera”, nghĩa là họ có thể xem nhưng không được phát tán hay sao chụp, và khi các nghị sĩ xem xét tài liệu có một nhân viên Bộ Ngoại giao ngồi ở khoảng cách xa giám sát và ghi chép. Cơ chế này từng áp dụng với các thượng nghị sĩ Isakson và Corker trong cuộc điều trần hồ sơ Hiệp ước START mới.
Tuy nhiên, các hạ nghị sĩ thuộc Đảng Cộng hòa lại không được tiếp cận các tài liệu như vậy khi họ điều tra vụ Benghazi. Một nghị sĩ từng tiếp cận các tài liệu tại Hạ viện cho biết, thực tế có tới 25 nghìn e-mail liên quan trong vụ Benghazi, nhiều hơn rất nhiều so với 100 trang e-mail chọn lựa mà Nhà Trắng sau này công bố. Hai phe đang chơi trò khiêu vũ chính trị gian dối có thể khiến vụ tấn công kia hoặc gây tổn hại cả một chiến dịch tranh cử tổng thống, hoặc khiến những người Cộng hòa trở thành các chính trị gia chuyên bới móc tệ hại, hoặc cả hai. Hillary có nhiều điều để bị mất mát hơn so với các nghị sĩ Cộng hòa tại Hạ viện, nếu ai trong số đó dám ủng hộ bà, họ sẽ bị cử tri trừng phạt tại các quận và bang mà người Cộng hòa chiếm ưu thế.
Dấu hiệu của những hành động quá mức bắt đầu xuất hiện vào tháng Mười hai năm đó, khi việc Hillary suy sụp sức khỏe trở thành cái cớ để những kẻ cực đoan trong Đảng Cộng hòa buộc tội bà lẩn tránh trách nhiệm trong vụ Benghazi. Trong danh sách những người cho rằng Hillary đã lao lực vì công việc, có ông chủ của bà. Obama đã nêu gương bà trong một cuộc họp nội các năm 2009. Hillary đã trải qua 401 ngày trên các con đường dài tổng cộng gần một triệu dặm, tới 112 quốc gia – một con số kỷ lục – đôi khi tới cả những nơi khốn khó nhất trên thế giới. Thời gian ở nhà của bà cũng kiệt lực như vậy, bởi chương trình nghị sự thường đòi hỏi bà lên những chuyến bay quốc tế, sau đó bước sang một ngày mới đầy rẫy những cuộc gặp gỡ vào những múi giờ khác nhau… Điều đáng nể là bà hiếm khi mất tập trung.
Một lần, vào tháng Bảy năm 2010, Hillary đã bay xuyên đêm từ Hà Nội trở về căn cứ không quân Andrews để tham dự buổi họp với các nhân viên tại Blair House – dãy nhà màu vàng có từ thế kỷ XIX và là nơi nghỉ dành cho các vị khách quốc tế, từ Nữ hoàng Elizabeth II đến Tổng thống Afghanistan Hamid Karzai. Mỗi nhân viên cấp cao của Hillary đều được giao nhiệm vụ chuẩn bị báo cáo khoảng hai phút về những vấn đề trong chuyên môn của họ. Trời nóng còn căn phòng thì chật cứng người, nhưng không ngăn cản Richard Holbrooke trình bày báo cáo của mình kéo dài tới 6,5 lần so với thời gian quy định. Thứ trưởng Jim Steinberg cũng mất 10 phút trình bày. Mãi đến trưa, tức là sau gần bốn tiếng đồng hồ, gần như các nhân viên đều đã mệt mỏi, thậm chí một số người còn lướt ngón tay đọc tin nhắn trên điện thoại BlackBerry của mình.
Phiên họp đó kéo dài thêm năm tiếng nữa, nhưng Hillary có vẻ không hề giảm chú ý hay bị mất tập trung. “Bà ấy không nhìn điện thoại BlackBerry của mình. Bà ấy đặt câu hỏi. Nhìn chăm chú. Nghe mọi thứ. Bà ấy tập trung chú ý suốt cả buổi,” một người dự cuộc họp đó cho biết. Sau đó, các cộng sự của Hillary được mời tới dự chiêu đãi tại Whitehaven. Hillary chuyển rất nhanh từ trạng thái công việc sang đời thường. Ở phòng khách hay trong bếp, bà chào hỏi các vị phu nhân và hỏi han về con cái họ.
Khi buổi tiệc sắp kết thúc, khoảng gần 21 giờ, một cộng sự của Hillary khi ra xe để về nhà đã vô tình bắt gặp cảnh bà đang chạy khỏi bữa tiệc trong chính cơ quan mình. Bà đang chất những túi đồ lên chiếc xe thể thao để chuẩn bị ra sân bay tới Chappaqua, bà sẽ dành trọn vẹn những ngày cuối tuần ở đó.
“Tôi cứ nghĩ mãi, làm sao bà ấy có thể làm được như vậy? Làm sao bà ấy tỉnh táo suốt ngày? Làm thế nào để giữ tập trung? Làm thế nào để giữ được vẻ đáng mến đến vậy? Chúa ơi, bà ấy còn chuẩn bị lên máy bay nữa,” sau này người cộng sự đó kể lại. “Rõ ràng bà ấy không phải người máy. Bà ấy có khả năng tập trung suốt cả ngày dài, với tất cả mọi người như vậy. Bà ấy cười nói, chú ý tới mọi người, và đáp lại dù trước cả những điều vớ vẩn nữa…”
Khoảng cuối nhiệm kỳ, Hillary đùa với bạn bè rằng mình đang mong chờ khoảng thời gian mà chương trình nghị sự của bà chỉ có “những bãi biển và các bài phát biểu.” Nhưng, khi Hillary chưa kịp rời nhiệm sở để tới một khu nghỉ dưỡng bên bờ biển, thì tinh thần làm việc miệt mài lại đánh thức bà, nhắc bà về cuộc tranh cử tổng thống 2016. Trong số những lưu ý quanh cuộc chạy đua này, có lẽ vấn đề lớn nhất là liệu Hillary (sẽ tròn 69 tuổi vào ngày nhậm chức năm 2017) có đủ sức khỏe đáp ứng cả hai nhiệm vụ, đó là thực hiện chiến dịch tranh cử hiện đại và đảm nhiệm công việc tổng thống, hết việc này đến việc khác. Sáu năm qua, vừa giữ cương vị điều hành vừa tham gia tranh cử không mệt mỏi, Hillary đã lao lực, thậm chí bệnh tật từng khiến bà kiệt sức.
Chỉ riêng trong Lễ Tạ ơn, Hillary đã đi gần như một vòng Trái Đất: từ Úc, tới Singapore, Thái Lan, Burma, Campuchia đến Trung Đông (nơi bà làm trung gian hòa giải cho một lệnh ngừng bắn), rồi tới Cộng hòa Séc, Bỉ, Ireland và Bắc Ireland. Khi ấy bà bị đau dạ dày do vi khuẩn. Về đến nhà, từ căn cứ không quân Andrews đêm thứ Sáu, ngày 7 tháng Mười hai, bà đau kinh khủng. Đến cuối tuần, bị mất nước nhiều, Hillary đã ngã trong nhà tắm, đầu va vào tường. Tình trạng của bà nghiêm trọng đến mức Bộ Ngoại giao phải hủy chuyến công tác của bà tới Tunisia, Morocco và Các tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất (UAE). Vì thế, Hillary đã lỡ cuộc họp quan trọng với nhóm Những người bạn của nhân dân Syria – gồm các nước ủng hộ cải cách ở quốc gia Trung Đông này.
Suốt hè và thu, Hillary cùng David Petraeus tiến hành vận động nội bộ nhằm đề nghị Obama cung cấp vũ khí cho các nhóm phiến quân ở Syria. Tuy nhiên, những người phản đối đề xuất này đã chiến thắng, với lập luận về nguy cơ vũ khí được cung cấp sẽ rơi vào tay những nhóm cực đoan vốn là kẻ thù của Mỹ và đồng minh.
Vài ngày sau thất bại này, đến gặp bác sĩ, Hillary biết mình đã bị một cú đột quỵ.
Hillary được yêu cầu điều trần tại Capitol Hill, cùng việc công bố bản báo cáo của Ủy ban Xem xét Trách nhiệm Giải trình (ARB: Accountability Review Board) về vụ Benghazi. Bà đã lập một nhóm để xem xét những gì đã xảy ra; xác định ai (nếu có) đã không hoàn thành nhiệm vụ trước, trong hoặc sau khi xảy ra vụ tấn công; và đề xuất các giải pháp cho Bộ Ngoại giao nhằm tránh tái diễn một thảm họa tương tự. Lãnh đạo nhóm này là tướng về hưu Mike Mullen, cựu Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, người từng kết bạn với Hillary trong những ngày đầu tiên làm việc chung tại Hội đồng An ninh quốc gia; và cựu đại sứ Thomas Pickering, một cựu nhân viên cần mẫn và nhiệt thành của ngành ngoại giao. Nhóm này về mặt kỹ thuật là độc lập, nhưng cũng gần gũi với những người ủng hộ quan điểm cho rằng ngoại trưởng không phải chịu trách nhiệm trực tiếp về các sai phạm của thuộc cấp.
Trong thời gian làm việc ở nhà, chứng đau dạ dày của Hillary tạm ổn, nhưng những hậu quả của vụ tai biến vẫn còn.
Hillary lên kế hoạch điều trần về vụ Benghazi tại cả Hạ viện và Thượng viện vào ngày 20 tháng Mười hai. Nhưng bác sĩ nói bà không thể làm việc vì chứng mất nước. Các trợ lý dự định vào thứ Sáu, ngày 14 tháng Mười hai sẽ thông báo rằng Hillary phải hoãn kế hoạch điều trần tại Capitol Hill. Nhưng họ lại phải lùi một ngày, do sự kiện xả súng tại trường học ở thị trấn Newtown, bang Connecticut. Đến thứ Bảy, Mills gọi điện cho các lãnh đạo hai viện là Hạ Nghị sĩ Ileana Ros-Lehtinen và Thượng Nghị sĩ John Kerry, thông báo với họ trước khi công bố với công chúng.
Phe Cộng hòa và truyền thông cánh hữu chỉ trích Hillary lợi dụng bệnh tình để đánh lạc hướng điều tra. Ngày 18 tháng Mười hai, bình luận trên tờ New York Post gọi đó là trò “đánh trận giả”. Xuất hiện trên kênh truyền hình Fox News đêm hôm trước, John Bolton – cựu Đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc dưới thời Tổng thống George W. Bush – đã cáo buộc Hillary bịa ra câu chuyện “ốm ngoại giao”. Hạ Nghị sĩ Allen West của bang Florida còn tô đậm thêm bằng cách gọi đó là “cúm Benghazi.” Nhưng đây không phải lần đầu trong năm cuối cùng của bà tại Bộ Ngoại giao, Hillary và những người thân cận của bà bị “đánh hôi.” Suốt mùa hè, Hạ Nghị sĩ Michele Bachmann của bang Minnesota, thành viên Đảng Cộng hòa tại Ủy ban Tình báo Hạ viện, đã cáo buộc Huma Abedin có liên hệ với bọn khủng bố. Khi Hillary thất bại, bộ máy âm thầm chống bà lâu nay đã kích hoạt ở mức mạnh hơn. Với những người chỉ trích Hillary, thời gian bà ốm đau là quá thuận lợi, chỉ cần đơn giản là thúc Bộ Ngoại giao công bố kết quả đánh giá của ARB.
Các cuộc công kích cá nhân Hillary đã gây ra phản ứng dữ dội từ những nhân viên của bà. Vào đêm trước Giáng sinh, Bolton nhận được một e-mail. Sau một tháng trời, Reines đã viết cho Bolton lá thư đầu tiên, rồi một vài thư nữa, trong đó bộc lộ nỗi tức giận về những lời bôi bác kiểu “ốm ngoại giao,” và cung cấp thông tin cập nhật về sức khỏe của Hillary. Thư cuối cùng gửi ngày 23 tháng Một, ngay sau khi Hillary điều trần trước các ủy ban của Hạ viện và Thượng viện. “J- không nhận được phản hồi từ ông, và tôi thật sự quan tâm,” Reines viết. “Tôi hy vọng ông không thiệt hại về bất cứ điều gì. Có vài thứ vẫn đang diễn ra. CDC cho biết, dịch cúm xảy ra nghiêm trọng gần như khắp nước Mỹ. Họ đã công bố báo cáo đánh giá rất hữu ích về bệnh cúm.” Để thuận tiện, Reines chỉ cả đường link báo cáo. “Nhưng, có trời mới biết vào thời điểm này, điều gì là bịa đặt và điều gì không – rất có thể hàng triệu người trên cả nước đang nói dối,” Reines viết. “Dù sao đi nữa, tôi cam đoan sẽ cập nhật thông tin tới ông, và tôi bảo đảm ông sẽ có văn bản nội dung điều trần của ngoại trưởng trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện và Ủy ban Ngoại giao Hạ viện. Chúc tốt lành, Philippe.” Reines đính kèm file nội dung đầy đủ của cả hai buổi điều trần, mỗi cuộc kéo dài vài tiếng đồng hồ. Reines chuyển tiếp thư cho cả trợ lý của ông ta. Bolton đã không phản hồi, nhưng trợ lý của ông ta trả lời một tiếng sau đó. Trong thư viết, lãnh đạo của cô ta đã đọc thư, và kết thư bằng câu “Cảm ơn.”
Ngày 19 tháng Mười hai, hai ngày sau khi Bolton đưa ra những nhận định ban đầu, Obama đến dự tiệc thường niên của Bộ Ngoại giao, nhưng Hillary vắng mặt vì chưa bình phục. Từng làm việc gần gũi với Hillary trong chuyến công du mới nhất tới Đông Nam Á vừa rồi, Obama hiểu được bệnh tình của bà, nên rất quan tâm tới sức khỏe của Hillary. Vừa đến Bộ Ngoại giao dự tiệc, Obama gặp Capricia Marshall ra đón.
“Cô gái của tôi sao rồi?” Obama hỏi.
“Bà ấy rất xúc động vì được ngài gọi điện,” Marshall đáp.
Obama dừng lại, nhìn vào mắt Marshall, để đảm bảo rằng thông điệp của ông rất sâu đậm.
“Tôi yêu quý bà ấy, yêu quý bà ấy,” ông nói. “Tôi yêu quý người bạn của tôi.”
Bộ Ngoại giao công bố báo cáo của ARB trước đó trong cùng ngày. Cùng với đó, Hillary đã gửi một bức thư tới Hạ viện, trong đó phác thảo các quy định đối với Bộ Ngoại giao để triển khai toàn bộ 23 điểm khuyến nghị của ARB, nhằm ngăn chặn tái diễn các vụ tấn công tương tự trong tương lai. Ủy ban xem xét đã khiển trách một số quan chức cấp cao của Bộ Ngoại giao dưới quyền Hillary mấy bậc, nhưng không liên can đến bà.
ARB kết luận, “Các sai lầm có hệ thống và những thiếu sót về năng lực lãnh đạo và quản lý của quan chức cấp cao thuộc hai bộ phận của Bộ Ngoại giao đã dẫn đến tình trạng mất an ninh của Sứ bộ đặc biệt (Lãnh sự quán) ở Benghazi cũng như không đủ để đối phó một vụ tấn công như đã xảy ra. Một số quan chức ngoại giao cấp cao thuộc hai cơ quan này thiếu khả năng lãnh đạo và xử lý nhanh để đáp ứng được nhu cầu an ninh mà Sứ bộ đặc biệt ở Benghazi đã đề xuất, trong hoàn cảnh môi trường đầy đe dọa và thiếu sự bảo vệ đáng tin cậy của chính quyền sở tại.” Tuy nhiên, ARB không chỉ ra được nguyên nhân hợp lý cho thấy quan chức hay nhân viên nào của Chính phủ Mỹ không làm đúng chức trách.
Bốn nhân viên Bộ Ngoại giao lập tức phải thôi việc sau kết luận của ARB. Eric Boswell, trợ lý Bộ trưởng về an ninh ngoại giao, đã từ chức. Tuy nhiên, trên thực tế, ông này không rời Bộ Ngoại giao, mà đảm nhiệm một vị trí khác trong Bộ. Những người từ chức còn có Charlene Lamb, từng ra điều trần trước ủy ban của Issa, và hai người nữa bị thuyên chuyển, chờ xem xét sau đó. Ba trong số bốn người nêu trên làm việc trong lĩnh vực an ninh ngoại giao. Người thứ tư, Raymond Maxwell, từng là phó trợ lý an ninh Bộ Ngoại giao về các hoạt động ở Trung Cận Đông, về sau nói với Josh Rogin của tờ Daily Beast rằng mình “không dính dáng gì tới các quyết định về an ninh và bảo đảm an ninh của sứ bộ ngoại giao Mỹ tại Benghazi.”
Maxwell tỏ ra là một kẻ ngoài cuộc với những quyết định an ninh ở cấp cao hơn của anh ta. Nhưng sự không biết của anh ta lại bị Ủy ban quy kết là không chịu đọc các tư liệu được phân cho anh ta – điều làm thơm tho cho Mike Mullen – theo một quan chức cấp cao của Bộ Ngoại giao cho hay.
Phó ngoại trưởng Bill Burns sau này điều trần trước Ủy ban Cải cách Đối ngoại Thượng viện rằng các đường truyền từ Tripoli có độ bảo mật cao hơn “phải được tái giám sát ở cấp trợ lý ngoại trưởng, và cả một số đồng nghiệp của tôi ở tầng bảy cũng phải được xem các thông tin này.” Những quan chức hàng đầu Bộ Ngoại giao, gồm cả những quan chức chuyên nghiệp lẫn những nhân sự riêng của Hillary, làm việc trên tầng bảy.
Tháng Tám năm 2013, John Kerry kế nhiệm Hillary và phục chức cho bốn nhân viên ngoại giao bị đình chỉ nhiệm vụ, với lý do được phát ngôn viên Bộ Ngoại giao công bố là “toàn thể” công việc của họ và cả điều tra của ARB đều chứng tỏ hoạt động của họ không hề “vi phạm chức trách.”
Vấn đề trách nhiệm đã đặt Hillary vào thế “lưỡng đầu thọ địch” giữa hai quái thú Scylla-và-Charybdis. Nếu bà chấp nhận bị khiển trách trong việc đáp ứng các yêu cầu an ninh, điều đó sẽ hủy hoại cả hai di sản mà bà cần đến, đó là danh tiếng của một nhà quản lý giỏi và một nhà lãnh đạo mạnh mẽ, nếu bà tranh cử tổng thống. Nhưng, nếu bà chối từ nhận trách nhiệm về những gì xảy ra tại Bộ do bà quản lý, điều này cũng gây hậu quả tai hại về mặt chính trị.
Hillary cố gắng lái con thuyền qua dòng kênh hẹp để tránh cả hai quái thú. Một mặt, bà công khai nhận trách nhiệm về vụ tấn công. Mặt khác, Hillary đã có sẵn bản báo cáo chính thức của Chính phủ trong đó chỉ cáo buộc mấy nhân viên cấp thấp dưới bà nhiều – một bản báo cáo do nhóm mà bà lập soạn ra. Nó quy lỗi từ chối chức trách cho một số khá đông nhân viên các đội an ninh ít ra ở ba cấp thấp hơn Hillary. Bà nhận trách nhiệm, nhưng không thể bị đổ lỗi, theo đúng điều tra của ARB, ăn khớp tới tận chi tiết với câu chuyện của chính bà.
Chi tiết kết luận của ARB về các cá nhân không có trong bản báo cáo được công bố, nhưng xuất hiện trong một văn bản được phân loại riêng. Bản báo cáo loại bỏ vai trò của Kennedy, nhân viên ngoại giao chuyên nghiệp, vốn là người được Hillary sử dụng để quản lý các nguồn lực của Bộ, nhưng các nhà điều tra của Hạ viện lại nhắm đến ông ta.
Một quan chức ngoại giao cấp cao xác nhận, Kennedy chịu sức ép từ Lầu Năm góc phải trả món nợ ở Libya cho các quan chức an ninh, nhưng lại từ chối để các quan chức Bộ Quốc phòng giúp đỡ.
Burns và Nides đã thay mặt Hillary điều trần vào tháng Mười hai; và đúng Ngày đầu Năm mới, thông tin về tình trạng sức khỏe của Hillary cho biết tình trạng của bà xấu hơn nhiều so với những gì người ta nghĩ trước đó. Bác sĩ đang cố điều trị để làm tan cục máu đông trong đầu bà. Thế nhưng, phe Cộng hòa lại làm rùm beng nhằm đưa Hillary trở lại các cuộc điều trần tại Nghị viện và trước các ống kính truyền hình. Lời cảnh báo của Issa rằng vụ bê bối Benghazi sẽ còn tiếp diễn đã trở thành hiện thực. Đảng Cộng hòa muốn gắn vụ Benghazi với Obama, nay mũi nhọn mới lại nhắm tới Hillary. Chắc chắn, họ sẽ quan tâm lắng nghe xem ngoại trưởng nói gì. Nhưng họ mới dừng ở việc tạo ra một khoảnh khắc trên truyền hình gây tác động xấu tới Hillary nếu bà tranh cử năm 2016. Hillary nghĩ, Issa đang chống chọi sức ép từ Đảng của ông ta, chứ chưa thể chuyển mũi nhọn điều tra từ Obama sang bà.
Trong suốt quá trình điều tra hơn một năm, gồm cả các phiên điều trần kín và công khai, các nhà điều tra của Nghị viện đã chia thảm họa Benghazi làm ba giai đoạn.
Giai đoạn thứ nhất làm rõ tình hình an ninh ở Benghazi, nơi các phiến quân vũ trang (một số có liên hệ với các nhóm khủng bố lớn như Al Qaeda và Ansar al-Sharia) đang tìm cách lấp đầy khoảng trống quyền lực sau khi Gaddafi bị lật đổ. Các nghi vấn chính nhắm vào quyết định của các quan chức Bộ Ngoại giao giảm số lượng nhân viên an ninh quân sự ở Libya và bắt đầu chuyển giao trách nhiệm bảo đảm an ninh cho các nhân viên ngoại giao và lực lượng dân quân địa phương vào thời điểm bạo lực đang leo thang. Đặc biệt, các nhà điều tra muốn biết vì sao các quan chức Bộ Ngoại giao ở Washington lại từ chối yêu cầu của các công dân Mỹ có mặt tại Libya, trong đó có cả Chris Stevens, muốn duy trì sự hiện diện của Lầu Năm góc. Họ cũng muốn biết quyết định đó được đưa ra ở cấp nào. Liệu nó xuất phát từ các quan chức ngoại giao chuyên nghiệp, hay những người đứng đầu Bộ Ngoại giao, có thể ở tận cấp cao như Hillary chẳng hạn?
Giai đoạn thứ hai là cuộc tấn công. Các nhà điều tra chưa từng cố gắng cáo buộc Hillary đã phản ứng thiếu kịp thời và chính xác trước vụ tấn công Benghazi. Đã có nhiều bằng chứng cho thấy, với tất cả các thiết chế an ninh quốc gia hàng đầu ở Washington, lẽ ra bà đã phải gần như kiểm soát được tình hình. Bà đã trao đổi trực tuyến qua video và điện thoại với các quan chức Libya, với các bộ trưởng của những nước mà Mỹ có thể gặp rủi ro, với Nhà Trắng, Lầu Năm góc, CIA và nhiều cơ quan khác.
Thay vào đó, các nhà điều tra lại xem xét khả năng liệu Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng Liên quân Martin Dempsey, hay cả Obama đã hành động đầy đủ để cứu người Mỹ thoát khỏi nguy hiểm hay chưa. Phe Cộng hòa đặc biệt khó chịu về việc trực thăng và các đội đặc nhiệm không được triển khai để bảo vệ cơ sở CIA, bởi vào thời điểm đó đã không có thông tin nào cho hay vụ tấn công kéo dài bao lâu.
Vấn đề thứ ba tiêu tốn nhiều thời gian của các nhà điều tra là liệu chính quyền có che đậy bản chất vụ tấn công nhằm bảo vệ Obama và các quan chức khác, gồm cả Hillary hay không. Phe Cộng hòa tin rằng, chính quyền đã đánh lạc hướng dư luận khi cho đây là vụ “khủng bố” nhắm vào hình ảnh tổng thống, người đang chuẩn bị vận động tái cử vào thời điểm đó.
“Đó là thời điểm năm ngày sau Đại hội Toàn quốc của Đảng Dân chủ, nơi Tổng thống Obama đứng lên và nói rằng ‘Al Qaeda đang tháo chạy, chúng ta đã tiêu diệt được Osama bin Laden. Chúng ta đang tiếp tục truy đuổi những kẻ khủng bố.’ Không ai mong muốn bị bắt và rơi vào tình cảnh xấu hổ như vậy. Đó là vấn đề mang tính chính trị. Đó là thực tế chính trị hào nhoáng. Còn thương vong mới là sự thật,” Hạ Nghị sĩ Jason Chaffetz (R-Utah), chủ tịch nhóm điều tra vụ Benghazi thuộc Ủy ban Giám sát và Cải cách Chính phủ nói như vậy.
Một phần kết quả điều tra đã lý giải cho các luận điểm mà Susan Rice theo đuổi, đó là loại bỏ tên các nhóm khủng bố trong báo cáo cuối cùng, không xem xét đầy đủ những cảnh báo mà CIA gửi tới Bộ Ngoại giao, nhưng lại thêm vào quan điểm phản đối điều mà thực tế đã không xảy ra, và mức độ can dự của các quan chức cấp cao Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao đối với những đánh giá của cộng đồng tình báo. Tất nhiên, Hillary quan tâm một vài yếu tố trong cuộc điều tra, không chỉ vấn đề Bộ Ngoại giao lẽ ra phải sẵn sàng hơn để đối phó các cuộc tấn công sau những cảnh báo của CIA về làn sóng phản đối ngoài Đại sứ quán tại Cairo, hay nguy cơ xảy ra bạo lực vào dịp kỷ niệm vụ khủng bố 11 tháng Chín năm 2001.
Tất cả các câu hỏi này dấy lên ngay sau thời điểm 8 giờ sáng ngày 23 tháng Một năm 2013, khi các nhà báo, điều tra viên và các thành viên Thượng viện có mặt đông đảo tại phòng điều trần ở tầng 2 Tòa nhà Văn phòng Hart của Thượng viện – nơi ủy ban đặc biệt tiến hành điều tra vai trò của Hillary trong vụ bê bối Whitewater hơn 15 năm trước.[1] Được sử dụng cho các sự kiện cấp cao, gồm cả phiên điều trần bổ nhiệm các thẩm phán Tòa án Tối cao là David Souter và Sonia Sotomayor, phòng Hart 216 là không gian rất được ưa thích bởi sự kết hợp hoàn hảo cả về kích thước lẫn tiện nghi hiện đại. Trên tầng lửng cao hơn chừng một mét phía trên sảnh chính, nơi được mở cửa cho phóng viên báo chí và truyền hình, các thượng nghị sĩ ngồi vào các vị trí sắp xếp theo hình chữ U, các thành viên cấp cao của ủy ban ngồi ngay trước bức tường đá cẩm thạch có gắn biểu tượng Thượng viện, còn thành viên cấp thấp ngồi hai bên, thấp hơn vùng dành cho máy quay. Nhân chứng ngồi sau một chiếc bàn nhỏ cách đó khoảng 3 mét, đối diện với các thượng nghị sĩ, phía sau là phóng viên và khách mời.
Rand Paul – 50 tuổi, thành viên Đảng Cộng hòa – từ Tòa nhà Văn phòng Russel của Thượng viện đi qua Capitol Hill tới dự phiên điều trần, đi cùng có Rachel Bovard – cố vấn pháp lý của ông ta về các vấn đề đối ngoại. Đây là phiên điều trần đầu tiên mà ông này tham dự với tư cách thành viên Ủy ban Đối ngoại Thượng viện. Trên đường Paul tới Văn phòng Hart, Bovard báo cáo ngắn gọn về nội dung điều trần của Hillary mà Bộ Ngoại giao gửi tới đêm hôm trước.
Trong 10 phút sau cùng trên đường tới đó, và chỉ vài phút trước khi tới phòng điều trần, Paul đã nắm được các chi tiết về diễn biến vụ việc, về một loạt các cuộc điện thoại cùng các ghi chú về an ninh giữa Tripoli và Washington trước vụ tấn công, về nguyên nhân Hillary đã không được thông báo về các diễn biến có nguy cơ mất an ninh cao ở Libya, và tại sao các quan chức Bộ Ngoại giao được rời đi hoặc chuyển công việc khác, chứ không phải bị chỉ trích như trong báo cáo của ARB. Thay vì đặt một danh sách dài các câu hỏi, Paul sắp xếp lại thông tin về các yếu tố then chốt trong câu chuyện Benghazi, để Bovard có thể giúp ông điều chỉnh khi cần. Nếu định tỏ thái độ cứng rắn với Hillary trong phiên điều trần, ông ta sẽ không chia sẻ về kế hoạch hoặc các câu hỏi với cộng sự của mình trước đó.
Paul là một trong hai thành viên Cộng hòa trong ủy ban này, những người được cho là quan tâm đến việc chạy đua vào ghế tổng thống năm 2016. Người thứ hai là Marco Rubio, một người Mỹ gốc Cuba, 41 tuổi, đến từ bang Florida. Ông ta đã theo sát vụ Benghazi suốt nhiều tháng, trong cả hai tư cách là thành viên Ủy ban Tình báo và Ủy ban Đối ngoại Thượng viện. Không như Paul, Rubio dựa nhiều vào các cộng sự an ninh quốc gia để đưa ra các câu hỏi trong phiên điều trần. Ông ta tham dự cả hai phiên điều trần công khai và kín về vụ Benghazi, với quyết tâm tận dụng khoảng thời gian làm việc với Hillary lần này để gây sức ép buộc bà trả lời các câu hỏi của cá nhân ông ta với Bộ Ngoại giao. Ông ta muốn tỏ ra như một nhà điều tra nghiêm túc, hăng hái tìm cách lấp đầy khoảng trống thông tin mình có được từ Bộ Ngoại giao, truy xét đến tận cùng các câu trả lời, thậm chí với cả những câu trả lời mà ông ta biết rằng chẳng để làm gì.
Để chuẩn bị, Hillary đọc các bản tóm tắt và nội dung của hơn 30 cuộc thông báo riêng rẽ của Capitol Hill và các cuộc điều trần trong suốt bốn tháng rưỡi kể từ sau vụ tấn công, cả những phiên bà tham dự lẫn những phiên các quan chức chính quyền khác điều trần mà bà không có mặt. Bà e ngại sẽ có các câu hỏi liên quan đến những hành động của các bộ và cơ quan khác, và cố gắng để sẵn sàng trả lời các câu hỏi đó – thậm chí cả khi những câu hỏi đó chẳng liên quan gì đến vai trò ngoại trưởng. Hillary cũng đã họp kín với các cộng sự cấp cao vài ngày trước phiên điều trần để xem xét những câu hỏi mà các thượng nghị sĩ có thể đặt ra với bà. Các nhân viên nghĩ rằng Paul và Rubio sẽ tấn công Hillary.
Họ xem xét trình tự các luận điểm mà Susan Rice đưa ra trong chương trình truyền hình hôm Chủ nhật và cả thông tin đồn đại đã trở thành tâm điểm chỉ trích của phe Cộng hòa đối với chính quyền. Vì FBI tiến hành thẩm vấn những người còn sống sót sau vụ tấn công Ramstein ở Đức trước khi Rice phát biểu trên truyền hình, nên phe Cộng hòa vẫn tin rằng Nhà Trắng và Thượng viện biết chắc chắn là không có biểu tình phản đối bên ngoài cổng Lãnh sự quán trước vụ tấn công. Tuy nhiên, Bộ Ngoại giao phản bác rằng, các quan chức ở Washington cố đợi để phỏng vấn người sống sót, bởi vì họ không muốn mang tiếng là can thiệp các cuộc thẩm vấn điều tra của FBI, và FBI đã không cung cấp thông tin về kết quả điều tra cho các cơ quan khác cho tới tận sau khi Rice xuất hiện trong chương trình truyền hình Chủ nhật.
Trong suốt phiên điều trần, Hillary đã thể hiện bức xúc trước sự tập trung của các thượng nghị sĩ Cộng hòa vào lập luận mà Rice đã sử dụng, cũng như trước câu hỏi thời điểm nào chính quyền mới bắt đầu gọi vụ việc đó là khủng bố. Ngay khi bà gọi vụ tấn công là khủng bố tại cuộc thông báo trước lưỡng viện vào tuần xảy ra vụ Benghazi, thì việc xác định động cơ của kẻ tấn công đã trở thành thứ yếu so với việc truy tìm và đưa chúng ra trước pháp luật.
“Tôi không thể hiểu nổi,” bà nói với các cộng sự. “Tại sao họ lại không chịu thấy điều đó.”
“Bất kỳ ai khi thông báo hay điều trần đều muốn đứng dậy và hét lên ‘Khác nhau cái quái gì đâu?’” Reines nói, vô tình đã gieo một hạt mầm.
Thực tế, đến cuối năm 2012, người đứng đầu ngành tình báo quốc gia, James Clapper, đã trở nên giận dữ trước các câu hỏi dồn dập từ Ủy ban Tình báo Hạ viện, một nghị sĩ đã hỏi ông ta học được gì từ vụ Benghazi làm ông ta mất bình tĩnh. “Điều tôi học được đó là không bao giờ có chuyện chúng tôi đưa ra quan điểm với quý vị một lần nữa,” Clapper nói.
Một nghị sĩ phe Cộng hòa phản ứng giận dữ với quan điểm này chính là Ron Johnson, Thượng Nghị sĩ bang Wisconsin nhiệm kỳ đầu; cũng như Paul, ông này đặt nhiều câu hỏi với Hillary ngay trong phiên điều trần mà mình tham gia lần đầu với tư cách thành viên Ủy ban Đối ngoại. Xuất thân từ giới doanh nhân chứ không phải từ chính giới hay từ ngành chính sách công, nên Johnson đòi hỏi các cuộc thông báo nội bộ phải bao quát khắp các chủ đề. Tuy nhiên, ông ta thường tự đặt ra các câu hỏi ngay khi đang diễn ra điều trần, chứ không chú ý đến những ghi chú đã được đánh dấu sẵn về những gì cần hỏi. Có lẽ, không ai ngoài Ron Johnson có thể chuẩn bị cho chính mình để có thể gây ấn tượng đáng nhớ nhất trong cuộc điều trần.
Hillary đến đúng giờ, xuất hiện từ căn phòng phía sau bức tường cẩm thạch. Bà đeo cặp kính có gọng dày màu đen, mắt kính được thiết kế để giúp bà chống chứng hoa mắt mắc phải sau đợt đột quỵ. Bà nhanh chóng nhìn thấy và tới ôm người bạn cũ từ Ủy ban Quân vụ Thượng viện là John McCain. Sau đó, bà tới ôm Barbara Boxer, Thượng Nghị sĩ Đảng Dân chủ của bang California, con gái của Boxer kết hôn với em trai Hillary. Thượng Nghị sĩ phe Dân chủ của bang Maryland là Ben Cardin bắt tay và ôm hôn Hillary, trước khi bà tới chụp ảnh cùng Bob Corker – một nhân vật Cộng hòa cấp cao ngồi bàn chủ tọa, và với Bob Menendez – người chủ trì phiên điều trần này thay Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại John Kerry đã được tổng thống đề cử kế nhiệm Hillary.
Sau các màn chào hỏi xã giao, Hillary đi vòng ra sau bục phát biểu nói nhỏ gì đó với Reines, rồi ngồi xuống, đặt tập hồ sơ đóng gáy bằng vòng xoắn trắng to xuống bàn, ngay trước mặt. Reines ngồi xuống hàng ghế ngay phía sau, chếch phía bên phải Hillary. Sát ông là Mills, người cũng ôm một tập bản sao hồ sơ.
Khi Menendez khai mạc phiên điều trần, còn nhiều thượng nghị sĩ vẫn chưa tới. Paul và Johnson đều đến sớm, trong khi Rubio và một vài nghị sĩ bước vào lúc phiên điều trần đã bắt đầu. Mọi người trong phòng chờ đợi xem các thượng nghị sĩ phe Cộng hòa sẽ công kích Hillary ra sao và bà đáp trả thế nào. Còn các phóng viên thì chăm chú lắng nghe cuộc trao đổi để rình đưa tin nóng và gửi thông báo tin tức qua e-mail, hay những dòng tin ngắn chạy dưới màn hình.
Trong phát biểu khai mạc, Hillary lặng đi một chút khi nói về cuộc điện thoại gọi tới gia đình Sean Smith và Chris Stevens. Nhưng, bà không tiết lộ thông tin mới nào về vụ tấn công cũng như phản ứng của Bộ Ngoại giao. Thượng Nghị sĩ Jim Risch của bang Idaho ép Hillary phải định danh vụ tấn công.
“Tôi gọi đó là một vụ tấn công của phiến quân có vũ trang,” Hillary nói.
“Được lắm!” Risch xen vào, giọng có vẻ giễu cợt.
Điều đáng ngạc nhiên là trong khi báo chí và các cộng sự của Hillary chuẩn bị kỹ lưỡng cho trận chiến đầu tiên này, thì Rubio lại có vẻ bỏ qua cơ hội tranh luận và đánh bại Hillary. Điều quan trọng với Rubio đó là tập trung vào các dữ kiện, chứ không phải quan điểm chính trị. Có thể, ông ta đã thấy được quá nhiều rủi ro gây phương hại tới các cơ hội chính trị của bản thân nếu ông ta đứng về bên thua trong cuộc trao đổi một đổi một.
Còn Johnson – người mới tham gia chính trị, sau khi giành chiến thắng tại Wisconsin nhờ phong trào Tea Party năm 2010 – lại chẳng thể hiện một chút nào tính thận trọng như của Rubio. Ông ta chỉ gắn mình với câu hỏi liệu chính quyền có lừa dối công chúng về bản chất vụ tấn công, và cho rằng thật ra mình đã biết câu trả lời.
“Tôi đánh giá cao việc bà gọi đó là một vụ tấn công vũ trang, nhưng tôi muốn quay lại luận điểm của Đại sứ Rice đưa ra năm ngày sau đó trên các chương trình Chủ nhật; và tôi có thể nói, việc đó là cố tình đánh lạc hướng dư luận Mỹ,” Johnson bắt đầu nói.
“Vâng, kể từ khi…” Hillary đáp, nhưng Johnson đã cắt lời bà.
“Vì sao điều đó không được biết đến?” Ông ta hỏi, buộc Hillary giải thích lý do Bộ Ngoại giao không phỏng vấn những người sống sót sau vụ Benghazi để tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra.
Mills nhoài người từ hàng ghế phía sau đưa cho Hillary một mẩu giấy. Hillary đọc đoạn tin, trong đó nhắc bà những yếu tố cốt yếu của các mốc thời gian – thông tin tình báo của FBI về những gì đã xảy ra tại thực địa không được cung cấp cho các cơ quan liên bang vào thời điểm quan điểm cáo buộc được đưa ra.
“Tôi có thể nói rằng, vào thời điểm vụ tấn công xảy ra và người của chúng tôi được cứu khỏi hiện trường, thì mối quan tâm tức thì và số một của chúng tôi là chữa trị cho họ. Như tôi đã nói, một nhân viên an ninh ngoại giao của chúng tôi tại Walter Reed đã bị thương nặng. Khi đưa họ tới Frankfurt Ramstein để cứu chữa và FBI đã lập tức phỏng vấn họ, thì lúc đó chúng tôi không kịp nghĩ rằng lẽ ra phải nói chuyện với họ trước FBI tiến hành việc đó.
“Và chúng tôi đã không biết – tôi nghĩ điều này là chính xác, thưa ngài – chính tôi cũng không biết đến bất cứ báo cáo nào trái với quan điểm (của cộng đồng tình báo) vào thời điểm Đại sứ Rice phát biểu trong các chương trình Chủ nhật trên truyền hình,” – Hillary nói, thêm vào một sự trợ giúp chính trị dù là quá muộn để bảo vệ cho Rice. “Và quý vị cũng biết, tôi chỉ muốn nói rằng người ta buộc tội Đại sứ Rice cùng chính quyền đã lừa dối công luận. Còn tôi có thể nói rằng, hãy thử đặt mình trong câu chuyện này và hiểu xem chuyện gì đã thật sự xảy ra, thì không gì có thể vượt quá sự thật.” Tuy nhiên, dù cố tình hay không, thì cũng không nghi ngờ rằng Rice đã mô tả không đúng chuỗi sự kiện đã xảy ra tại Benghazi.
Hillary đã giành ưu thế trong cuộc tranh luận, nhưng Johnson không đầu hàng. Ông ta đưa thêm một vài luận điểm.
“Chúng ta bị đánh lạc hướng rằng, đã có cuộc biểu tình phản đối, rồi mọi chuyện bất ngờ vượt khỏi tầm kiểm soát – một cuộc tấn công đã nổ ra. Cũng dễ dàng xác định rằng, sự thật không phải như vậy…” Johnson phản bác.
Reines từng nói với Hillary rằng tại các cuộc họp kín, các quan chức cấp cao chính quyền từng sôi sục khi đối đầu với hàng loạt chỉ trích từ phía Đảng Cộng hòa về điểm đó.
Hillary nổi sung, bà và Johnson như lao vào trận đấu, cho đến khi vị thượng nghị sĩ cuối cùng phải từ bỏ quan điểm của mình.
“Người dân Mỹ lẽ ra đã biết chuyện trong vài ngày sau đó, nhưng sự thật là họ đã không được biết,” ông ta nói.
Nếu phe Cộng hòa muốn đưa lên truyền hình, Hillary sẵn sàng cho họ cơ hội ấy. Bà nói chậm rãi, nhấn mạnh từng từ cuối câu, “Với lòng kính trọng và tiếc thương, tôi xin thông báo, chúng ta đã có bốn công dân Mỹ hy sinh.” Âm điệu giọng nói của bà lên cao. Khi nhận ra sự thay đổi trong giọng của Hillary, Reines đang ngồi phía sau bên trái bà, đã vươn về phía trước để xem Hillary hướng về phía ai; và ông ta rất ngạc nhiên khi nhìn thấy Johnson, người mà ông ta chỉ biết rất ít.
“Liệu có phải do cuộc biểu tình?” Hillary tiếp tục. “Hay, vì những kẻ đó ban đêm đi ra ngoài rồi quyết định giết hại một vài người Mỹ? Hai điều đó khác nhau thế nào?”
“Nhiệm vụ của chúng tôi là tìm hiểu xem điều gì đã xảy ra và làm tất cả những gì có thể để ngăn chặn nó tái diễn. Thưa ngài thượng nghị sĩ, tôi đang làm hết sức mình để trả lời câu hỏi đó của ngài, nhưng sự thật là mọi người lúc đó, theo dòng thời gian thực, đang cố gắng để có được thông tin tốt nhất. Tôi biết, họ (cộng đồng tình báo) đã có bước tiến, cùng các ủy ban khác để lý giải cho luận điểm nêu trên. Nhưng theo quan điểm của tôi, lúc này đây rõ ràng rằng việc xem xét chuyện đã xảy ra để tìm hiểu nguyên nhân khiến những phiến quân hành động như vậy không quan trọng bằng việc truy lùng chúng, đưa chúng ra trước pháp luật, còn sau đó, có thể chúng ta sẽ tìm hiểu điều gì đã xảy ra vào thời điểm đó.”
Với các quan chức Chính phủ vốn nghĩ rằng các nghị sĩ Cộng hòa chỉ muốn nắm lấy cơ hội chính trị từ thảm họa đó hơn là tìm ra bài học để có thể ngăn chặn các vụ tấn công khác, thì phản ứng của Hillary thật tuyệt vời. Còn với phe Cộng hòa, giờ đã có một đoạn băng hình về hình ảnh Hillary mất bình tĩnh khi trả lời chất vấn về vụ Benghazi.
“Okay,” Johnson đáp. “Cảm ơn bà ngoại trưởng.”
Tuy nhiên, trận chiến mới trôi qua một nửa thời gian. Phía sau Johnson vài hàng ghế, Paul đang ghi chép lại phản ứng của Hillary và quyết định đến lượt ông ta đặt câu hỏi, ông ta sẽ tiếp tục quan điểm cứng rắn của người đồng nghiệp từ Wisconsin. Không cần nhìn bản ghi chép, Paul nói, việc Hillary sắp rời khỏi Bộ Ngoại giao có liên quan đến vụ Benghazi; sau đó ông ta dội bom bằng nhận định, nếu là tổng thống – vị trí ông ta lên kế hoạch theo đuổi trong năm 2016 – ông ta sẽ sa thải Hillary.
“Rõ ràng là, bà sắp rời đi, nên bà chấp nhận cả tội ác như thảm họa tồi tệ nhất từ sau vụ 11 tháng Chín,” ông ta nói. “Nếu tôi đang là tổng thống, và tôi phát hiện bà đã không đọc điện báo từ Benghazi, từ Đại sứ Stevens, thì tôi sẽ yêu cầu bà rời khỏi vị trí. Tôi nghĩ, việc đã xảy ra thật phi lý, không gì biện hộ được.”
Có thể Paul đang tô vẽ một khoảnh khắc nổi bật cho mình, song ông ấy lại dựa vào một điểm không vững. Hơn một triệu điện báo mỗi năm được gửi tới Bộ Ngoại giao từ các nhà ngoại giao trên toàn cầu; nếu vị ngoại trưởng nào đó đọc một cái thì đó là việc đương nhiên, vì nó đã được các trợ lý đánh dấu để sếp họ chú ý. Sau đó, các trợ lý của Paul đã tiết lộ đoạn băng hình này cho phóng viên.
“Bạn biết không, họ làm như là cạo râu mỗi sáng vậy,” một người bạn thân của Hillary nói. “Tôi có thể thấy Rand Paul cạo râu đến ba lần ngay cả khi xà phòng cạo đã hết nhẵn.”
Tất cả những “vai chính” đều có được thứ họ muốn trong phiên điều trần này. Rubio chứng tỏ được mình đứng trên cuộc chiến đảng phái; Johnson ghi tên mình vào tấm bản đồ chính khách bằng việc bức Hillary phải tức giận; Paul phù phép hình ảnh mình như một tổng thống; còn Hillary đã bảo vệ được Obama, Rice và chính mình qua việc tạo nghi vấn về động cơ của các thượng nghị sĩ mới thuộc nhánh Tea Party của phe Cộng hòa. Cơn giận của Hillary với Johnson là sự xúc động của một nhân chứng kỳ cựu, người biết chờ đợi khoảnh khắc thích hợp và sử dụng chính sự công kích của đối thủ để chống lại ông ta.
“Bà ấy có đủ mọi cung bậc của cảm xúc,” một cựu quan chức cấp cao của chính phủ nói. “Họ có nhiều cảm xúc, nhưng kiểm soát rất tốt… Tôi nghĩ, bà ấy rất mạnh mẽ, và tôi không cho rằng ai đó đã khiến bà ấy tổn thương bằng sự công kích. Đâu đó có một vài đoạn clip có thể gây bất lợi cho bà ấy, nhưng điều đó chẳng hề gì.”
Nhận định mang tính toàn diện nhất của Hillary về vụ Benghazi, trong suốt nhiều giờ điều trần trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện và Ủy ban Ngoại giao Hạ viện ngày hôm ấy, đó là bà đã khẳng định quan điểm cho rằng việc nước Mỹ chùn bước và rút lui còn nguy hiểm hơn nhiều so với việc duy trì và củng cố sự hiện diện tại các vùng bạo lực trên thế giới. Bà nhấn mạnh, Mỹ là ngọn hải đăng, và không thể nhượng bộ trước những kẻ khủng bố, những kẻ áp bức và bạo lực. Bản QDDR đã thể hiện triết lý của bà về việc biến ngoại giao viễn chinh ở những khu vực có xung đột trở thành “quy phạm mới” và “quản lý rủi ro” chứ không chỉ ngăn ngừa bằng cách né tránh nó.
Khi các cơ sở ngoại giao của Mỹ bị tấn công ở những nước mà các nhánh Hồi giáo cực đoan nổi lên, chẳng hạn vụ Lãnh sự quán Mỹ ở Peshawar, Pakistan hồi năm 2010, mà Hillary và các thứ trưởng ngoại giao cùng xem lại những hình ảnh trong một cuộc họp, thì phản ứng của Hillary là làm sao để chắc chắn rằng đội ngũ của bà tại Bộ Ngoại giao hiểu rõ các rủi ro mà các nhà ngoại giao phải đối mặt và tìm cách để giảm thiểu chúng, cũng như tăng gấp đôi các nỗ lực ngoại giao ở những khu vực như vậy.
“Chúng ta đã đi một chặng dài trong bốn năm qua, và chúng ta không được thoái lui. Nếu Mỹ vắng mặt, nhất là rút khỏi các môi trường bất ổn, thì sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Chủ nghĩa cực đoan đã bén rễ, lợi ích của chúng ta bị thách thức, an ninh trong nước chúng ta bị đe dọa,” bà nói. “Đó là lý do tôi cử Chris Stevens tới tuyến đầu ở Benghazi.”
Một nguồn tin từng thân cận với Hillary trong việc thực thi các khuyến nghị của ARB kể lại: bà ấy tin chắc rằng “chúng ta quá cẩn thận” khi cuộc tấn công nổ ra.
“Tôi nghĩ bà ấy tin rằng, nói thật chính xác, chúng ta sẽ chẳng bao giờ hoàn toàn loại trừ được hết rủi ro,” nguồn tin cho biết. “Quan niệm của bà ấy về nền ngoại giao viễn chinh, phần chủ đạo trong QDDR, là rất quan trọng đối với bà ấy. Nền ngoại giao không còn đơn thuần là các mối quan hệ giữa các chính phủ. Đặc biệt, các đại sứ và nhân viên ngoại giao cần có liên hệ với các tổ chức phi chính phủ (NGO), với những cá nhân hoạt động phi nhà nước, với doanh nghiệp. Và Hillary rất tin tưởng điều đó. Tôi nghĩ, bà ấy muốn đề cập đến những thiếu sót còn tồn tại, đến các vấn đề mang tính hệ thống về chức năng của an ninh ngoại giao. Tuy nhiên, bà ấy không thổi phồng bài học này, mà muốn nhắc nhở các thành viên Nghị viện và người dân rằng, chúng tôi sẽ còn đối mặt với rất nhiều rủi ro ở đấy, rằng chúng tôi sẽ tiếp tục tìm cách để kiểm soát rủi ro này… Đó là bức tranh về ngoại giao hiện đại.”
Jason Chaffetz là Nghị sĩ Đảng Cộng hòa bang Utah, một người đàn ông 46 tuổi nhưng trông vẫn như đứa trẻ, một trong những người chỉ trích quan điểm của Hillary về chính sách ngoại giao viễn chinh; ông ta nhanh chóng trở thành cỗ máy đứng sau cuộc điều tra vụ Benghazi của Ủy ban Giám sát và Cải cách Chính phủ của Hạ viện hồi mùa thu năm 2012. Vì có thời là bạn với cựu Nghị sĩ New York Anthony Weiner, Chaffetz từng đến nhà riêng của Hillary ở Washington, dự tiệc đính hôn gia đình Clinton tổ chức cho Weiner và Huma Abedin năm 2010. Khi ấy Chaffetz nghĩ, có lẽ Bill Clinton đã quá hăng hái khi đón khách với cái “bắt tay hai phút kiểu đàn ông,” gồm một tay bắt, một tay nắm chặt cánh tay khách. Trong nhiệm kỳ đầu của mình, Chaffetz cũng từng gặp Hillary tại buổi tiếp khách do Bộ Ngoại giao tổ chức để chào mừng các tân nghị sĩ.
Sự vụng về có duyên tự nhiên của Chaffetz khiến người ta dễ đánh giá thấp ông ta. Chính Reines cũng có lần hạ thấp tầm quan trọng của ông ta bằng việc ví ông này như “Jeremy Chaffetz.” Nhưng, nhân vật từng là chân sút mà truyền thông có thiện cảm trong đội bóng của Đại học Brigham Young này lại là một chính trị gia sắc sảo, người từng đánh bại Nghị sĩ Chris Cannon trong cuộc bầu cử sơ bộ năm 2008 dù không sống tại địa phương. Trước đó, ông ta từng tham gia chiến dịch tranh cử và hỗ trợ Jon Huntsman giành được chức Thị trưởng Utah năm 2004; sau đó làm Chánh văn phòng cho Huntsman.
Khi Chaffetz công du Libya hồi tháng Mười một năm 2012, một luật sư của Bộ Ngoại giao được cử theo sát ông ta trong các cuộc gặp với Tướng Carter Ham, người đứng đầu Bộ Tư lệnh châu Phi trong chặng dừng chân tại Đức, và với các quan chức Mỹ tại Thủ đô Tripoli của Libya. Chaffetz tham gia hai ủy ban điều tra vụ tấn công ở Benghazi – ủy ban của Issa và Ủy ban Tình báo Hạ viện – vì thế, chuyến công du của ông ta được xem là một phần của cuộc điều tra hơn là chuyến công du nước ngoài bình thường của một nghị sĩ. Dù Chaffetz không thích luật sư của Bộ Ngoại giao có mặt trong các cuộc gặp làm việc của ông ta – nhưng chỉ phàn nàn điều này với luật sư đó, chứ không báo về Bộ Ngoại giao ở Washington – và luật sư vẫn được phép tham dự, cho tới trước cuộc gặp giữa Chaffetz với Gregory Hicks, Phó trưởng Phái bộ Mỹ tại Tripoli, vì lý do nội dung được phân cấp bảo mật. Luật sư đó không có đủ tư cách an ninh liên quan đến chủ đề cuộc gặp, và buộc phải rời đi.
Hicks sau đó đã nhận được cuộc gọi từ Cheryl Mills. “Bà ấy không hài lòng việc luật sư đi cùng Hạ Nghị sĩ Chaffetz không được phép tham dự cuộc gặp,” Hicks nói tại phiên điều trần. “Lời lẽ không thể hiện sự chỉ trích trực tiếp, nhưng giọng điệu của cuộc hội thoại thì có – và đó là một phần của văn hóa Bộ Ngoại giao – sự thật là bà ấy đã gọi cho tôi, và qua giọng nói tôi cảm nhận rõ là bà ấy không hài lòng.”
Theo quan điểm của Bộ Ngoại giao, Mills đã có biện pháp bảo vệ hợp pháp và đúng chuẩn đối với Bộ và các nhân viên ngoại giao. Còn trong mắt Chaffetz, vị luật sư có mặt tại đó chỉ nhằm đe dọa chính các quan chức này. “Thật rất khác thường khi có mặt một ‘người giữ trẻ’ kiêm thư ký ghi chép trong suốt thời gian cuộc gặp, theo dõi từng cử chỉ của tôi,” Chaffetz nói. “Tôi nghĩ, điều đó đe dọa những ai muốn nói chuyện với tôi. Nó khiến tôi không thoải mái. Giống như ép buộc chia sẻ những thông tin không nên chia sẻ vậy.”
Một loạt cuộc điều tra của Nghị viện về vụ Benghazi chịu chung cảnh là thừa nhiệt tình nhưng thiếu tập trung – cụ thể là, ám ảnh về các luận điểm của Susan Rice và liệu tổng thống có gọi vụ tấn công vũ trang đó là một hành động khủng bố hay không, đã làm loãng hẳn thông điệp của Đảng Cộng hòa. Giữa lúc đó Chaffetz đã phác thảo được một câu chuyện mạch lạc hơn nhằm chỉ trích Hillary đã quá tin vào chính sách ngoại giao viễn chinh.
Không như các hạ nghị sĩ khác, Chaffetz nghi ngờ cái chết của Stevens là kết quả của một triết lý sai lầm. Ông ta bị ám ảnh bởi cuộc nói chuyện với một thiếu tá đứng đầu nhóm thủy quân lục chiến chống khủng bố (FAST: fleet antiterrorism security team) ở Tripoli. Họ nhìn qua bờ tường phía nam của Đại sứ quán ở Tripoli về vùng ngoại ô quê mùa của thành phố, và người lính chỉ về phía một ngôi nhà nằm trên một khu vực diện tích chừng một nửa mẫu Anh [2] cách đó không xa.
“Trước khi chúng tôi tới đây, họ có một cái thang, và chiếc thang từ ngôi nhà đó dựa vào tường của Đại sứ quán,” viên thiếu tá kể cho Chaffetz. “Ở đó không có hàng rào thép gai. Hằng ngày, họ xuất hiện, đổ rác xuống sân sứ quán. Ông cứ thử tới đó xem, vẫn còn cả đầu cá và đủ loại rác thải. Khi đến đó, chúng tôi đã bảo họ, ‘Mọi người hãy hạ cái thang đó xuống ngay. Nếu còn trèo lên bức tường, tôi sẽ bắn.’ Họ nhận được thông điệp và không còn ném rác xuống sân sứ quán nữa. Tuy nhiên, trước khi chúng tôi tới, bầu không khí ở đó dường như là thông điệp, ‘Chúng tôi không muốn xúc phạm ai. Chúng tôi không muốn để ai nghĩ xấu về mình.’”
Chaffetz nghĩ, sự năng động của ngoại giao phản ánh vấn đề cách tiếp cận khiến người Mỹ dễ dàng trở thành đối tượng bị tấn công. Lính thủy quân lục chiến sẵn sàng sử dụng, hoặc ít nhất là đe dọa sử dụng vũ lực, với những người không tôn trọng cơ sở của Mỹ, trong khi đó các nhà ngoại giao lại để điều đó xảy ra theo cách thức có thể khuyến khích những kẻ tấn công tiềm ẩn. “Chúng tôi trồng cây ngay cạnh tường sứ quán. Bạn có thể dễ dàng chạy tới, trèo lên cây và nhảy qua tường sứ quán. Thật quá dễ dàng,” như Chaffetz nói sau này. “Bất kỳ học sinh trung học nào cũng làm được điều đó. Lính thủy quân lục chiến đã thất bại, nhưng đó chính là cách tiếp cận mang tính văn hóa mà Bộ Ngoại giao theo đuổi.”
Từng phản đối quyết định của Obama gây chiến tranh ở Libya, Chaffetz cáo buộc rằng cái chết của Stevens là do tham vọng của Hillary muốn chứng tỏ cuộc can thiệp đó là đúng đắn. Ông ta nói, “Trước vụ tiến công, tôi từng nghĩ rằng, việc lật đổ Gaddafi và thiết lập sự hiện diện mạnh mẽ của nước Mỹ tại Libya có thể là khúc hát thiên nga bi ai cáo chung của bà ấy. Đó lẽ ra là một thành tựu lớn, nhưng toàn bộ các quân bài đã tuột khỏi tay bà ấy. Tôi không lên án bà ấy về việc chúng ta bị tấn công. Tôi chỉ nghĩ rằng, nỗ lực của bà ấy nhằm thúc đẩy bình thường hóa (các mối quan hệ ngoại giao) khi hy sinh công tác bảo đảm an ninh đã trả giá bằng mạng sống của công dân Mỹ; đó là kiểu thúc đẩy văn hóa của chính quyền này và của cá nhân bà ấy.”
Rõ ràng, những kẻ khủng bố đáng bị lên án vì hành động tấn công của chúng. Nhưng Hillary đã nôn nóng muốn xây dựng Libya thành một câu chuyện thành công bền vững; và theo những gì Hicks điều trần thì Stevens đã tới Benghazi hồi tháng Chín ít nhất một phần là do Hillary muốn nhanh chóng nâng cấp cơ sở ở đó thành một cơ quan thường trực. Cùng thời điểm ấy, khi Bộ Ngoại giao tìm cách chứng minh về sự tiến bộ ở Libya bằng cách bình thường hóa các hoạt động an ninh, thì đất nước này lại trở nên nguy hiểm hơn mỗi ngày. Điều đó càng đúng với tình hình Benghazi. Nhưng, Washington đã không chú ý tới các cảnh báo từ các nhân viên tình báo trên địa bàn Tripoli, từ Gene Cretz cho tới Chris Stevens. Không có bằng chứng cho thấy những yêu cầu của họ được chuyển tới bàn của Trợ lý ngoại trưởng Pat Kennedy hay tới những người thân cận nhất của Hillary, vì thế càng có lý do để đặt câu hỏi tại sao. Ủy ban Xem xét Trách nhiệm (ARB: Accountability Review Board) kết luận rằng tình hình an ninh đáng lo ngại ở cả Tripoli và Benghazi, và những nhân viên tại Benghazi thấy rằng việc bảo đảm an ninh của họ không phải là ưu tiên cao ở Washington. Kết cục, Chris Stevens chết khi đang thực thi nhiệm vụ được giao, mạo hiểm đi vào một trong những vùng nguy hiểm nhất trên thế giới, với sự hậu thuẫn an ninh ít ỏi, cốt để tránh gây sợ hãi cho những người mà ông ấy hy vọng có thể thiết lập quan hệ đối tác. Nhưng ARB cũng cho rằng, Bộ Ngoại giao đã để ông ấy hoạt động mà không có đủ mạng lưới chức năng. Hillary đã truyền đi thông điệp khắp cơ quan mình là bà ấy tin rủi ro của việc cử các nhà ngoại giao đến các vùng nguy hiểm là một cái giá xứng đáng; nhưng trong trường hợp này, ARB mạnh mẽ chỉ ra rằng, việc tính toán giữa rủi ro và phần thưởng nhận được từ đó là không tương xứng. “Bộ Ngoại giao cần lập tức xem xét lại sự cân bằng giữa ‘rủi ro chấp nhận được’ và ‘kết quả kỳ vọng,” các nhà điều tra viết. “Trong khi chưa thể rút lại các hoạt động ở môi trường như vậy, Bộ Ngoại giao cần tiếp tục thực thi nhiệm vụ trên cơ sở bắt buộc như sau: (1) một nhiệm vụ xác định, có thể đạt mục tiêu và được ưu tiên; (2) sự đánh giá sáng suốt về rủi ro và thiệt hại liên quan; (3) một cam kết về nguồn lực đủ để giảm thiểu rủi ro và thiệt hại; (4) chấp nhận minh bạch những rủi ro và thiệt hại không thể tránh khỏi; (5) luôn chú trọng đến sự thay đổi tình hình, trong đó phải xác định khi nào cần từ bỏ hay thực thi nhiệm vụ ở một nơi xa.”
Bất chấp những hoài nghi về mặt học thuyết, Hillary đã giành được điểm cao cho cách mà bà phản ứng trước các vụ tấn công. David Petraeus đã giằng co với Bộ Ngoại giao về quan điểm quanh vụ Benghazi, tuy nhiên ông ta cho rằng, phản ứng của Hillary đã thể hiện rõ nét kỹ năng lãnh đạo của bà. “Cũng như với nhiều nhà lãnh đạo lớn, phẩm chất ấn tượng nhất được bà ấy bộc lộ rõ nét nhất vào những thời điểm khó khăn. Chẳng hạn, trong vụ Benghazi, tôi cho rằng bà ấy đã rất quả cảm, quyết đoán và kiềm chế,” ông ta nói. “Bài phát biểu của bà ấy tại căn cứ không quân Andrews, khi những chiếc quan tài phủ quốc kỳ Mỹ mang thi thể những người thiệt mạng ở Benghazi về nhà, đã thể hiện các phẩm chất đó của bà ấy, cũng như đã thể hiện trong việc gánh vác rất nhiều hoạt động khác ngoài những việc mà bà ấy chủ trương và điều hành.”
Nếu cuộc điều tra vụ Benghazi chứng minh được điều gì đó, thì Hillary – ứng cử viên hàng đầu trong cuộc đua giành tấm vé đại diện Đảng Dân chủ tranh cử tổng thống năm 2016 – sẽ không còn đứng ngoài cuộc xung đột đảng phái mà bà đã cố gắng tránh trong gần bốn năm qua với vai trò ngoại trưởng. Trong bối cảnh nền chính trị tổng thống, mối quan hệ Hillary đã thiết lập được với phe Cộng hòa trong nhiệm kỳ vừa qua không có nhiều ý nghĩa. Chưa đầy một tuần sau khi bà điều trần trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện hồi tháng Một năm 2013, trên kênh Fox News, Lindsey Graham – thành viên ôn hòa của phe Cộng hòa, người đang bước vào vòng quay bầu cử ở South Carolina nổi tiếng bảo thủ – nói rằng Hillary đã “thoát tội giết người.”
Một tờ quảng cáo cũ về Benghazi của Ủy ban Quốc gia Đảng Cộng hòa (RNC) mà chiến dịch tranh cử của Romney đã không sử dụng trong những tuần cuối cùng, đã được phân phát ngay khi các cuộc điều tra mà phe Cộng hòa tiến hành tại Hạ viện trở nên nóng hơn. Lời lẽ có thay đổi vài lần vào tháng Mười hai, khi phe Cộng hòa thay đổi hướng công kích từ Obama sang Hillary. Đến lượt mình, Hillary cũng thúc đẩy hệ thống phòng thủ chính trị của mình. Nếu muốn chạy đua vào ghế tổng thống, trong bốn năm tới bà sẽ phải đối phó với Darrell Issa, Jason Chaffetz, Lindsey Graham, Rand Paul và nhiều nhân vật đối kháng khác thuộc phe Cộng hòa – và nếu bà may mắn thì cũng phải bốn năm sau đó. Đến mùa xuân năm 2013 thì đã rõ là bà sẽ còn phải nghe về Benghazi nhiều lần nữa. Người phát ngôn RNC Sean Spicer thẳng thừng chỉ rõ, “Nếu chạy đua, bà ấy có thể phải làm quen với việc mắt bị tấm quảng cáo đó (Benghazi) tra tấn.”
❀ ❀ ❀
[1] Gia đình Clinton bị cáo buộc huy động vốn không hợp lệ khi đầu tư vào công ty Whitewater Development Corp, tại Arkansas. (ND)
[2] 1 mẫu Anh (1 acre) = 0,404 hec-ta. (BT)