Mùa xuân năm 2009, như thường lệ, nhóm phụ trách công tác kiểm tra của Obama tập hợp tại văn phòng của luật sư Nhà Trắng Greg Craig, một căn phòng được ốp gỗ nằm cuối tầng hai khu West Wing. Trong phiên họp vào giờ ăn trưa, một vài trợ lý cấp cao xem xét hồ sơ của 15 ứng viên xin việc. Ngày hôm đó, nổi bật lên là một cái tên đã gợi lại ký ức về chiến dịch tranh cử: Capricia Marshall.
Những người ở khu West Wing xem Marshall, người trung thành tuyệt đối với Hillary, là kẻ thù. Cũng giống nhiều phụ nữ quanh Hillary, Marshall nhã nhặn, có kỷ luật. Bà có nước da ngăm, mái tóc cắt ngắn lịch sự điểm vài sợi bạc, mang hai dòng máu Croatia và Mexico, thích chế độ tập luyện khắt khe P90X [1]. Marshall quen biết nhà Clinton từ rất lâu và là một trong những người bạn thân thiết nhất của Hillary ở Washington kể từ khi trở thành thư ký Nhà Trắng trẻ nhất, sau cuộc vận động tranh cử của Bill năm 1992.
Khi ngừng tranh cử tổng thống vào tháng Sáu năm 2008, Hillary đã giao cho Marshall tiếp quản Ủy ban Hành động chính trị của bà, vào thời điểm một vài thành viên Đảng Dân chủ lo sợ Hillary có thể có nỗ lực cuối cùng tại Đại hội Đảng nhằm giành tấm vé ứng viên tổng thống. Sự thù địch giữa hai phe trở nên sâu sắc đến mức chân dung Hillary được dán đầy trên bảng thông tin tại văn phòng của nhóm lập kế hoạch cho Obama. “Họ có tất cả những bức ảnh chân thực của bà ấy,” một người đã nhìn thấy những bức ảnh nói. “Như trong một phòng thay đồ thể thao vậy.” Ngay cả khi cuộc bầu cử sơ bộ đã được định đoạt, Marshall vẫn được điều hành những dự án nhạy cảm, như tuyển người kiểm đếm số phiếu ủng hộ của các đại biểu dự Đại hội Đảng ở Texas để chắc chắn rằng Hillary có được thắng lợi công bằng. Tuy nhiên, với đám trợ lý của Obama thì tội lỗi nổi bật nhất của Marshall là bị xem như đại diện cho những kẻ đáng ghét ở Hillaryland.
Nhóm của tổng thống đã miễn cưỡng chấp thuận Cheryl Mills, người được Hillary chọn làm chánh văn phòng của bà; nhưng vẫn do dự về trường hợp chọn Philippe Reines làm cố vấn cấp cao. Họ đều là người của Hillary và vì thế sẽ hoàn toàn đặt dưới sự điều hành của bà. Nhưng Hillary lại chọn Marshall làm Trưởng ban lễ tân quốc gia, một vị trí ngang với đại sứ và luôn có một chỗ ngồi riêng trên chiếc Air Force One trong mọi chuyến công du nước ngoài của tổng thống. Người bạn thân này của Hillary sẽ không chỉ có nhiều thời gian làm việc trực tiếp với Obama, mà còn có thể chiếm được một vị trí cao trong chính quyền mà lẽ ra phải được trao cho một thân hữu của tổng thống.
Có một cảnh báo khác về các quyết định bổ nhiệm của Hillary. Kết quả thanh tra nói chung cho thấy hàng loạt vấn đề, từ suy thoái đạo đức nghiêm trọng đến tội lái xe sau khi sử dụng chất kích thích và thỉnh thoảng liên quan những chuyện đáng xấu hổ; chẳng hạn một nhân viên được đề xuất bổ nhiệm bị bắt gặp đi với Lisa Ann, một nữ diễn viên phim khiêu dâm, đóng vai chính trong phim Who’s Nailin’ Paylin (Ai là Nailin’ Paylin) của hãng Hustler. Vấn đề của Marshall tuy không liên quan tới chuyện gì tương tự, nhưng vẫn rắc rối không kém: bà ta không thực hiện các thông báo về thuế năm 2005 hoặc 2006. Marshall đã sửa chữa sai sót này vào mùa thu 2008, khi biết rõ Hillary sẽ nhận một chức vụ trong Chính phủ. Hóa ra Marshall được quyền hoàn thuế vào những năm đó. Tuy nhiên, vấn đề thuế cũng là vật cản đối với vài ứng viên của Obama nữa, trong đó có cả Bộ trưởng Tài chính Tim Geithner và Tom Daschle, và Nhà Trắng không còn chút hào hứng nào với chuyện gian lận thuế nữa.
Khi vị đại diện thanh tra tới từ Bộ Tư pháp đọc to bản ghi nhớ dài ba trang về Marshall, Phó giám đốc nhân sự Nhà Trắng Jim Messia và Phó giám đốc truyền thông Nhà Trắng Dan Pfeiffer ngồi trên ghế bành, lo lắng ra mặt, trong khi những cựu nhân viên chiến dịch tranh cử của Obama đứng quanh căn phòng. Như một lẽ đương nhiên, vị trí tốt như thế phải được dành cho một người trung thành với Obama – chứ không phải Marshall, và càng không phải bà ta nếu đứng trước những nghi vấn về khai thuế bất hợp pháp. Pfeiffer nói: “Vấn đề này sắp trở nên rất nghiêm trọng vào đúng thời điểm mà chúng tôi đã xác nhận được nhiều thông tin về Daschle và Geithner.”
Mọi người trong phòng phản ứng dữ dội. “Chết tiệt, không.” “Suốt chiến dịch tranh cử bà ta đúng là một con khốn.” Và những lời tệ hơn thế.
Ở Marshall có sự kết hợp giữa kinh nghiệm lập các kế hoạch xã hội ở cấp độ vĩ mô và sự thân cận với Hillary, điều này giúp bà ta đương nhiên thích hợp cho chức vụ ấy, nhưng các trợ lý của Obama không nghĩ vậy. Không một ai trong phòng đứng lên ủng hộ Marshall. Từ chuyên gia lập pháp Sean Kennedy – người sẽ phải giúp Marshall được Thượng viện phê chuẩn nếu được bổ nhiệm, giám đốc nhân sự Nancy Hogan, chuyên viên về các vấn đề đạo đức Norm Eisen, cho đến Greg Craig – ông và Thượng Nghị sĩ Richard Blumenthal từng là bạn học của Bill Clinton và Hillary Rodham từ những ngày Bill bày món gà rán của mẹ mình lên bàn tiếp đãi những vị khách đang tranh luận về chiến tranh Việt Nam trong căn hộ tương lai đầu tiên của cặp đôi này ở gần Trường Luật Yale. Việc Craig ủng hộ Obama trong chiến dịch tranh cử được coi là một sự phản bội bạn bè.
Những trợ lý thân cận với Obama cho rằng không hẳn là mọi người thật sự muốn phản đối Marshall, mà chỉ là muốn một trong những thành viên đáng tin cậy của đội mình có được vị trí cấp cao. “Theo kiểu, ‘Chúng ta nên có người của mình. Chúng ta cần có người của mình,’” vị trợ lý cấp cao Nhà Trắng hiểu rõ các cuộc tranh luận về Marshall cho biết. “Nếu Hillary là tổng thống và chúng ta cần đạt thỏa thuận về Desiree Rogers [bạn lâu năm của Obama] hay Valerie Jarrett sẽ trở thành Trưởng ban lễ tân thì cũng xảy ra chuyện tương tự,” vị trợ lý này nói tiếp. “Khi nghĩ theo cách đó, thật dễ hiểu vì sao họ lại không muốn ai đó trong số chúng ta đi cùng đường với họ?”
Quá trình rà soát diễn ra theo một cách mà sao cho đến thời điểm một ứng viên đến được nhóm của Craig, thì anh hay cô ta sẽ là hy vọng tốt nhất duy nhất được xem xét. Đó là được hoặc mất đối với Marshall. Nếu Obama từ chối bà, thì một ứng viên khác sẽ được sắp xếp thế chỗ theo cùng một cách đó, một quá trình mất đến hàng tuần hoặc hàng tháng trời.
Phe của Obama và Hillary đều công khai nói đã bỏ lại cuộc bầu cử ở phía sau. Nhưng ở đây, họ lại túm tụm và phơi bày sự thật trong văn phòng của Craig, nơi những tủ sách thì trống rỗng và dấu ấn cá nhân duy nhất là tấm áp phích Robert F. Kennedy treo trên tường. Hai phe không hiểu nhau, họ không ưa nhau, cũng không tin tưởng nhau. Các trợ lý tổng thống không nghĩ ra được một ứng viên nào khác khi Messina yêu cầu đưa ra để bỏ phiếu, nhưng họ chắc chắn rằng mình không chọn Marshall.
Lần lượt từng trợ lý giơ nắm tay của mình lên với ngón cái chỉ xuống. Nhưng rồi Messina – người Montana, có mái tóc vàng đỏ và giọng nói nhẹ nhàng đã giúp giảm bớt nét thô tục thường thấy trong ngôn từ của anh ta – lại mang đến tin xấu cho cả nhóm.
“Tôi đồng ý,” ông ta nói. “Đây rõ ràng là một sự lựa chọn của HRC [2] và cần được trình lên tổng thống.”
Thông thường, bất đồng nhỏ giữa những trợ lý cấp dưới sẽ được Mills hoặc trợ lý của Obama cố gắng giải quyết ổn thỏa, chứ không chuyền bóng lên cấp cao hơn. Những người thuộc phe Obama cố gắng vạch ra giới hạn với Marshall, người đại diện cho Hillary. Hiếm khi có cuộc chiến nhân sự kết thúc ngay trước cửa phòng Obama như thế. Đây là một “phép thử” và là “bước ngoặt” trong cuộc chiến khốc liệt, kéo dài hàng tháng trời giữa Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao, về quyền hạn của Hillary trong việc lựa chọn nhân sự – theo lời một trong số những nhân viên.
Marshall có vũ khí bí mật, đó là một người em họ của Valerie Jarrett, Ann Marchant, từng là trợ lý đặc biệt của Bill Clinton ở Nhà Trắng. Marchant đã thay Marshall vận động hành lang với Jarrett, nói về những điểm mạnh và kỹ năng của bà ấy, động viên Jarrett thuyết phục tổng thống.
Hillary cũng cố gắng giúp Marshall. Người của Nhà Trắng hoàn toàn không đánh giá cao vai trò của một trưởng ban lễ tân và những gì vị trí đó mang lại, bà nghĩ vậy. Đó không chỉ đơn thuần là một vị trí lễ tân hào nhoáng hay chỗ cho một nhà tài trợ non kinh nghiệm ở Washington.
“Không ai thích hợp hơn cho công việc này” – Hillary nói với Obama. “Bà ấy đã có kinh nghiệm từ khi làm việc ở văn phòng công tác xã hội, bà ấy giỏi ứng xử và biết tổ chức nhân sự. Bà ấy sẽ làm tốt đến mức khó tin.” Hillary cũng dành thời gian nói chuyện với các trợ lý của tổng thống. “Không, tôi chỉ đang nói với các vị rằng đây là người tốt nhất,” bà quả quyết. “Các vị sẽ biết rằng tôi đúng khi các vị làm việc với bà ấy sau một tháng.” Hillary biết rằng mình còn đang nắm quân át chủ bài trong tay. “Tổng thống nói rằng tôi có thể chọn người cho Bộ Ngoại giao, và đây là lựa chọn của tôi”, bà nói. “Vậy hãy theo ý tôi đi.”
Cuối cùng, Obama đã bác các ý kiến mà các nhân viên của ông đưa ra, gửi một thông điệp mạnh mẽ tới cả hai phe rằng, ông sẽ dành cho Hillary sự ủng hộ mà ông đã hứa khi bổ nhiệm bà. Những cố vấn ngoại giao nóng tính và đầy nhiệt huyết của Obama đã phải chấp nhận mọi chuyện, kể cả việc bị loại ra khỏi Bộ Ngoại giao. Hillary đã cô lập Samantha Power, một trợ lý chiến dịch tranh cử của Obama, người từng gọi Hillary là “quái vật” – một lời bình luận đã làm cô ta có được vai trò chính thức trong chiến dịch tranh cử của Obama. “Cần phải có một sự hợp nhất, giống như sự hợp nhất của hai tập đoàn lớn” – một cố vấn cấp cao của Nhà Trắng nhớ lại. “Ngoài công việc của một đại sứ, Sam Power đến đây thay vì Bộ Ngoại giao, nơi mà cô ta mong muốn.”
Cơn tức giận và nỗi thù hận kéo dài sau vụ tuyển chọn nhân sự là sắc thái chủ đạo trong cách thức mà nhóm an ninh quốc gia của tổng thống phản ứng với Bộ Ngoại giao trong suốt năm đầu tiên của Chính phủ; và với một số trợ lý khác còn hơn thế nữa. “Bộ Ngoại giao đúng là một ốc đảo. Ý tôi là, không một vị bộ trưởng nào khác trong Chính phủ có thể tuyển người theo cách mà bà ấy đã làm,” theo lời một nhân viên Nhà Trắng. “Thế giới của bà ấy là thế giới của những người trung thành với nhà Clinton, nơi họ có thể tự tung tự tác mà không hề sợ bị trừng phạt vì những lỗi lầm hoặc tội chống lại người khác mà họ mắc phải trong suốt chiến dịch tranh cử.”
Cam kết của Obama đã đem đến cho Hillary sức mạnh đòn bẩy ghê gớm, khiến những địch thủ của bà trong phe Obama – Messina, Pfeiffer, Robert Gibbs và David Plouffe – biết thế nào là con đường gian khổ. Những cuộc chiến lẻ tẻ với nhiều lý do đã làm căng thẳng thêm mối quan hệ giữa Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao trong năm làm việc đầu tiên của Hillary, và vấn đề nhân sự thuộc nhóm vấn đề gây tranh cãi quyết liệt nhất. Thông thường, Nhà Trắng thực hiện đa phần việc bổ nhiệm các vị trí ở những cơ quan Chính phủ được chỉ định; các bộ trưởng chỉ có quyền tuyển một vài cố vấn riêng. Ở Bộ Ngoại giao, con số này cao hơn nhiều, nhờ lời hứa của Obama.
Vậy nên khi Hillary lần đầu đặt chân đến trụ sở Bộ Ngoại giao – Tòa nhà Liên bang Harry S. Truman – với tư cách người chủ mới, bà mang theo một đoàn tùy tùng xứng với biểu tượng mang tính quốc tế. Và bà được chào đón như một ngôi sao.
Sự nổi tiếng của bà không chỉ nhờ mang họ Clinton. Mà còn, như những người biết rõ bà thường nhắc, vì bà là người phụ nữ dám đứng lên và chiến đấu mỗi khi thế giới xung quanh muốn hạ gục bà, từ thất bại trong nỗ lực cải cách hệ thống chăm sóc y tế và tai tiếng về sự không chung thủy của người chồng, đến những khó khăn, vất vả của cuộc tranh cử năm 2008 trong Đảng Dân chủ. Những bi kịch cá nhân và thành công sau đó của bà đã nhiều lần được cả thế giới biết đến. Mặc dù bà từng là đệ nhất phu nhân và thượng nghị sĩ Mỹ, bà vẫn giữ đức tính của phụ nữ. Bà đã phục vụ chồng với tư cách một cố vấn đắc lực nhất trong nhiều thập kỷ, nhưng lại phải chịu những lời cáo buộc là lợi dụng danh tiếng của chồng chứ không phải là nhờ vào năng lực cá nhân.
Khi bước vào tiền sảnh của tòa nhà trụ sở Bộ Ngoại giao “xây bằng đá vôi và đá hoa cương” trong ngày làm việc đầu tiên, ngày 22 tháng Mười một năm 2009, Hillary hào hứng và đầy hy vọng. Một hàng dài những lá quốc kỳ từ khắp nơi trên thế giới, ánh sáng tràn đầy khắp mặt sàn đen bóng, những hàng cột trụ vuông làm từ đá cẩm thạch, tiền sảnh như một ốc đảo, nơi vốn là trung tâm của “ma trận” bộ máy công chức, nổi bật lên trong dãy hành lang mờ mờ, nâu xám, trăng trắng, gợi lên hình ảnh một ngôi trường trung học của những năm 1950 chưa bao giờ được nâng cấp. Vào thời điểm đó, những công chức bàn giấy đi dọc dãy hành lang này để chào đón vị lãnh đạo mà sự xuất hiện của bà sẽ làm cho công việc của họ trở nên nổi bật hơn.
Trong Chính phủ, điểm khác biệt của Bộ Ngoại giao là Bộ này có đội ngũ khoảng 14 nghìn chuyên viên trình độ cao, được đào tạo bài bản về đối ngoại, đã phục vụ qua nhiều đời Chính phủ dù đảng nào nắm quyền, và họ đã làm việc ở nước ngoài trong phần lớn sự nghiệp của mình. Bộ này còn được bổ sung một nhóm nhỏ hơn một chút gồm các công chức (khoảng 11 nghìn người) làm công việc trợ giúp ngoại giao, cùng khoảng 40 nghìn đến 50 nghìn nhân viên địa phương tại gần 270 đại sứ quán và tổng lãnh sự quán của Mỹ trên thế giới.
Những nhân viên ngoại giao là lực lượng nòng cốt của Bộ, thường thì họ tốt nghiệp trường Ivy League và Đại học Georgetown, hay Đại học George Washington, hoặc Đại học American ở Washington cũng là nguồn cung cấp nhân sự cho Bộ. Dù Bộ Ngoại giao bây giờ đa dạng hơn nhiều, nhưng tầng lớp nhân sự ngoại giao cao cấp của nó vẫn là một đội hình những nhà cải cách thích phiêu lưu, trưởng thành nhờ chơi quần vợt ở các câu lạc bộ. Họ thật khó gây ấn tượng gì sâu đậm, một phần vì vẻ hấp dẫn tập thể của họ là điệu bộ “y như nhau,” mà đến lượt nó, lại được cả một đội ngũ công chức bắt chước, gồm ngày càng nhiều chuyên gia cấp cao, tự xem mình ngang hàng với các quan chức ngoại giao trên đỉnh vòm.
Rất ít trong số họ từng chứng kiến điều gì tương tự như sự kiện xuất hiện của Hillary Clinton tại Bộ Ngoại giao. “Nó giống như một buổi diễn nhạc rock đông nghẹt,” theo lời một công chức, người đã không thể tìm được một khe hở nào ở sảnh nhà đã chật cứng người. Anh ta vội chạy qua khu vực họp báo và leo lên gờ tường gần nơi Hillary chuẩn bị có bài phát biểu đầu tiên. Anh ta không phải người duy nhất có ý nghĩ rằng: khi mình đến được chỗ đó thì chắc cả trên gờ tường và các cửa sổ cũng đã đầy người. Các quan chức Chính phủ gần như đã trèo cả lên những thanh kèo, và cuối cùng nhân viên an ninh phải ngăn cản rất nhiều những người cũng đang cố leo chen dọc theo gờ tường. Cả các công chức háo hức ấy lẫn đám đông còn lại buộc phải theo dõi bài phát biểu trên BNET, hệ thống truyền hình nội bộ của Bộ Ngoại giao.
Bước qua một biển nhân viên trong những bộ đồ lịch lãm theo kiểu Brooks Brother và Talbots, Hillary lên bục phát biểu, phía dưới là rào rào những tràng vỗ tay, và các công chức giơ cao những chiếc điện thoại có camera – như những fan nhạc pop cuồng nhiệt. Đó là một thời khắc lịch sử, ít nhất là trong thế giới của Bộ Ngoại giao. Bà mỉm cười thoải mái và vẫy chào những gương mặt quen thuộc. Khi phát biểu, bà tuyên bố về “một kỷ nguyên mới của nước Mỹ” và rằng, bà đã lên kế hoạch để xác định lại vai trò của Bộ Ngoại giao trong công tác đối ngoại.
Đứng ngay phía sau Hillary là Bill Burns, một quan chức ngoại giao cấp cao, người sẽ sát cánh cùng Hillary suốt bốn năm tới. Sự hiện diện của ông ta như phát đi tín hiệu tới những nhân viên ngoại giao rằng họ sẽ có nhiều tiếng nói hơn ở Bộ Ngoại giao thời Hillary – một tin tốt cho những nhà ngoại giao và giới phân tích chính sách, những người mà sự am hiểu của họ thường bị xem nhẹ dưới thời Tổng thống Bush.
Nếu sự hiện diện lần đầu tiên của Hillary giống một buổi biểu diễn nhạc rock, thì hẳn Hillary phải là Bono – một ngôi sao nổi tiếng thế giới, và nổi tiếng về những cuộc vận động ủng hộ cho những người kém may mắn. Về khía cạnh này, chắc chắn bà là một trong số những người đó. Bà không phải là chính trị gia nổi tiếng đầu tiên nắm quyền ở Bộ Ngoại giao. 6 trong số 15 tổng thống Mỹ đầu tiên từng ngồi ghế ngoại trưởng. Những thành viên hàng đầu của Nghị viện, bao gồm Henry Clay và John C. Calhoun, cũng từng giữ vị trí đó, giống như hai thẩm phán Tòa án Tối cao là John Marshall và Charles Evans Hughes. Nhưng đã nhiều thập kỷ trôi qua kể từ khi một quan chức dân cử trở thành một người có tầm ảnh hưởng lớn ở Bộ Ngoại giao, và chưa bao giờ một nhà ngoại giao hàng đầu nước Mỹ lại lập tức được nhiều người trên thế giới biết đến và ngưỡng mộ như bà. Đội ngũ nhân viên Bộ Ngoại giao mới của bà vẫn chưa biết phải mong đợi điều gì từ sự lãnh đạo của bà, nhưng họ có thể chắc chắn rằng bà sẽ thu hút được đám đông ở bất cứ nơi nào bà đến.
Mệnh lệnh của Hillary với đội quân của bà trong ngày hôm đó đã làm lu mờ một sự thật rằng, công việc quản lý gần nhất của bà (đứng đầu chiến dịch vận động tranh cử) đã thất bại, và rằng bà chưa từng điều hành một cơ quan với quy mô 70 nghìn nhân viên của bộ máy đối ngoại gồm cả Bộ Ngoại giao và Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ. Bà tiếp quản một cơ quan đã mất tầm ảnh hưởng đến Lầu Năm góc và các cơ quan an ninh quốc gia khác, thừa hưởng những nhân viên ngoại giao ngày qua ngày phải giải quyết hậu quả của chính sách đối ngoại dưới thời Bush, một giai đoạn đã biến nước Mỹ trở thành trung tâm hứng chịu búa rìu của thế giới. Điều nào cũng đều tệ như nhau: sự quý trọng của thế giới trước nước Mỹ, vị thế của Bộ Ngoại giao trong lĩnh vực an ninh quốc gia, hay tinh thần của các nhân viên ở Foggy Bottom. Lầu Năm góc toàn quyền giải quyết đa phần các vấn đề đối ngoại, chủ yếu liên quan các cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan, còn nhân viên ngoại giao được yêu cầu bảo vệ các hoạt động của nước Mỹ trước những người đồng cấp của họ ở các quốc gia khác.
Với tư cách là đệ nhất phu nhân và sau đó là thành viên Ủy ban Quốc phòng Thượng viện, Hillary đã tiếp xúc với nhiều nhà lãnh đạo thế giới và tìm hiểu về chính sách đối ngoại ở tầm vĩ mô, nhưng bà không dành nhiều thời gian cho các vấn đề nhỏ lẻ. “Bà ấy dường như là một người thực tập về ngoại giao. Mặc dù quen biết nhiều nhân vật nổi tiếng, nhưng bà ấy vẫn trong trạng thái học việc,” một trong những người đại diện hàng đầu của bà thừa nhận. “Bà là người quan tâm giải quyết những vấn đề trong nước – như chăm sóc sức khỏe, phụ nữ và trẻ em, hay vấn đề cựu chiến binh. Trong năm đầu tiên, chúng tôi phải dành nhiều thời gian cho nỗ lực bình thường hóa quan hệ giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Armenia. Đó không phải là những điều Hillary từng dành nhiều thời gian nghĩ đến.”
Hơn nữa, lối tư duy theo trường phái trung dung mà bà tán thành đã phát triển trong khoảng thời gian từ cuối giai đoạn Bill Clinton còn tại nhiệm đến khi Obama đắc cử tổng thống. Bà đã ủng hộ việc dùng đến cách tiếp cận quyền lực thông minh trong chính sách đối ngoại. Nhưng bà vẫn phải tìm hiểu mối quan tâm của từng quốc gia để có thể sử dụng các công cụ hỗn hợp này.
Quan trọng hơn, Hillary phải xử lý quan hệ với vị lãnh đạo mới của mình, cũng như những mối lo ngại của Đảng Dân chủ kể từ khi John F. Kennedy đề cử Lyndon Johnson – người mà ông ta căm ghét, nhưng về mặt chính trị là không thể thiếu – làm cấp phó của mình. Hillary thích câu thành ngữ “Gặt hái những thứ ta vun trồng” được rút ra từ một câu chuyện trong cuốn sách Jeremiah về người Do Thái, gồm cả chuyện gia đình Hoàng hậu Esther ở xứ lưu đày. Từ lâu Hillary coi Esther là một trong những nhân vật mà bà yêu thích nhất trong Kinh thánh không chỉ vì hoàng hậu này là người phụ nữ mạnh mẽ nhất trong Kinh thánh, mà còn vì câu chuyện bà cứu người Do Thái thoát khỏi sự tàn sát của Tể tướng Ba Tư, một chi tiết có liên hệ với chính sách Trung Đông của chính Hillary.
Một phần quan trọng trong sự “gặt hái” ở Bộ Ngoại giao là phải hoàn toàn tranh thủ được Obama và Nhà Trắng. Tổng thống đã đề phòng ngay từ những cuộc tiếp xúc ban đầu với Hillary, theo lời một người trong cuộc có dịp quan sát. Họ có lẽ tôn trọng nhau một cách miễn cưỡng trong suốt chiến dịch tranh cử, và khó thành bạn của nhau. Mối quan hệ hợp tác mới của họ rất chuyên nghiệp và lịch thiệp, nhưng thiếu sâu sắc. “Họ không hề có mối quan hệ gần gũi trong năm đầu tiên,” một trợ lý an ninh quốc gia của Obama nói. “Ban đầu, mọi chuyện có vẻ hoàn hảo,” theo lời một người thân thiết với Hillary. “Họ luôn đối xử với nhau rất tích cực, thậm chí nồng nhiệt, nhưng chỉ vậy thôi. Không có nhiều tình cảm, cũng không có nhiều cuộc trò chuyện tự nhiên.”
Mối quan hệ giữa các nhân viên của Obama và Hillary, đặc biệt giữa những người từng làm việc trong chiến dịch tranh cử, đều rất chừng mực. Mọi bất đồng dễ trở nên nghiêm trọng bởi dư âm từ cuộc tranh cử không khoan nhượng, một động lực dễ thổi phồng những xung đột nhỏ và gây nên chuỗi những bất đồng giữa Mills và McDonough, trợ lý an ninh quốc gia cấp cao gần gũi tổng thống.
Khi Obama nhậm sở, ông ta mang theo một nhóm người trong độ tuổi trên dưới 30, ồn ào và kiêu ngạo, những người vừa mới kết thúc chiến dịch của cuộc đời mình. Một số nguồn tin ban đầu mô tả nhóm người này đa số đều là đàn ông, trông hơi quá khổ so với những cái quần ống bó họ mặc; khi họ có mặt đầy đủ trong các văn phòng ở khu West Wing, đám phóng viên và những người bên ngoài bảo rằng trông nơi đó như “hội sở sinh viên.” Một trong những thành viên Nhà Trắng chống đối Hillary quyết liệt nhất là Pfeiffer, phát ngôn viên dẻo mỏ đầy ác ý. (Một trợ lý của Hillary từng mỉa mai Pfeiffer là “con số không” có chỗ đứng trong Nhà Trắng nhờ cơ may ngẫu nhiên và lòng trung thành với Obama). Ngoài ra, còn có cả Bill Burton, phó thư ký báo chí luôn mồm nhai kẹo cao su, con rể của kẻ đâm sau lưng Clinton là Lois Capps, kẻ thích bị căm ghét và lăm le chiếm ghế thư ký báo chí khi Robert Gibbs rời nhiệm sở.
Những nhân viên Nhà Trắng không hiểu tại sao phe Hillary vẫn tỏ vẻ bề trên – vì xét đến cùng, dù sao họ đã thua kia mà. Trong cuộc chiến nhân sự, Mills vẫn giữ trong tay con át chủ bài: lời hứa của Obama cho phép Hillary tuyển nhân viên. Bà không bao giờ thay đổi quyết định. Reines thích chế nhạo mọi người ngay trước mặt, và cũng hay làm thế qua e-mail. Không ai phản ứng – hoặc muốn phản ứng – để được đánh giá cao như cách của Huma. Cô ta từng có lần xuất hiện trên tấm bìa tạp chí Vogue, một hành động phá vỡ những quy tắc bảo thủ của Washington – những quy tắc mà các nhân viên luôn muốn làm ngược lại.
Trong khi những phụ tá của họ vẫn giữ thái độ thù địch có từ chiến dịch tranh cử, Obama và Hillary lại cố gắng xây dựng một hình mẫu tốt đẹp hơn trên cấp cao nhất. Sau khi tổng thống trả lời phỏng vấn trên truyền hình tại Phòng Bầu dục, rồi bàn luận với nhóm phát ngôn viên của mình, gồm cả Gibbs và Vietor, một phụ tá của ông kể một chuyện phiếm về Hillary, tổng thống bèn cắt lời “Thôi đi. Đâu phải thế.”
Kể từ thời điểm bổ nhiệm Hillary, Obama đã nói rõ rằng ông muốn các thuộc cấp không để những cảm xúc tiêu cực gây ảnh hưởng đến những hành xử với Hillary, và phải có thái độ nghiêm túc và tôn trọng hết mức có thể trước bà, theo lời một cố vấn hàng đầu của Obama.
Tương tự, vào tháng Năm năm 2009, Hillary cũng khiển trách một cố vấn vì đã nói xấu sau lưng Obama. Tại Nhà Trắng sáng hôm đó, tổng thống đã đề nghị Hillary nhận một nhiệm vụ nho nhỏ.
“Ông ta không có việc gì khác tốt đẹp hơn để làm sao?” một trợ lý than phiền.
“Đừng nói vậy,” Hillary nói. “Đừng bao giờ nói như vậy. Ông ấy là tổng thống.”
Hillary luôn dành sự tôn trọng đúng mực cho tổng thống, cả trước công chúng lẫn trong những cuộc gặp riêng. “Bà ấy đã làm việc rất chăm chỉ để thiết lập và cho thấy là mình đúng là người đứng đầu Bộ Ngoại giao, chứ không phải tổng thống,” một cựu quan chức Chính phủ nói.
Nhưng, sự ngờ vực lẫn nhau ở tầng lớp cao nhất dưới quyền Obama và Hillary trong vài tháng đầu tiên tai hại đến mức những người trung gian đã phải tổ chức một bữa ăn tối tại Comos Club, một nơi đặc biệt của Washington, nhằm xoa dịu căng thẳng giữa những thành viên cấp cao của Hillary ở Bộ Ngoại giao và các nhà tài trợ hào phóng của Obama, những người đã được đền đáp bằng các vị trí đại sứ, chứ không phải bằng công việc do Hillary chọn cho họ. “Những đại sứ của Obama tại các nước lớn đã bị các nhân viên cấp cao của Bộ Ngoại giao xa lánh,” theo lời một nhân vật từng có mặt tại bữa tối đó, có sự hiện diện của hàng chục phụ tá cấp cao của Hillary và một tá đại sứ của Obama. Trong số các đại sứ, có Matthew Barzun, người sau này đóng vai trò chính tác động đến việc hoàn tất thanh toán khoản nợ của Hillary sau chiến dịch tranh cử; có cả Don Beyer, một tay buôn xe hơi, và phó thống đốc bang Virginia. “Bữa tối rốt cuộc có ý nghĩa rất quan trọng trong việc cải thiện mối quan hệ,” vẫn nhân vật đó cho biết. “Về lý thuyết, thật dễ dàng để những người đó ghét nhau.”
Khác với rất nhiều những người trung thành trong cuộc vận động tranh cử nay đã có chỗ đứng trong Chính phủ, Hillary có mặt ở đó không phải vì Obama yêu quý bà hay nợ bà bất cứ điều gì. Bà ở đó là vì một loạt các vấn đề. Với việc bổ nhiệm Hillary và Robert Gates, bộ trưởng Bộ Quốc phòng dưới thời Bush, Obama đã hiện thực hóa tuyên bố trong chiến dịch tranh cử là thành lập một đội ngũ gồm cả những đối thủ. Những người Cộng hòa và phe diều hâu trong Đảng Dân Chủ xem một Nhân viên An ninh Quốc gia mới và thiếu kinh nghiệm tại Nhà Trắng là một nhân vật dày dạn kinh nghiệm..
Hơn nữa, khi Obama đặt Hillary vào vị trí mà bà chỉ có thể có tầm ảnh hưởng như ông ấy muốn, Obama cũng tước đoạt cái vị thế giúp bà có thể gây khó cho ông tại Nghị viện, và ông ấy đã khiến quyền lực đó gần như bất khả thi trong cuộc tranh cử của Hillary năm 2012. Một vài người, kể cả chiến lược gia lão luyện của nhà Clinton là Mark Penn, đã nhìn trước việc Hillary chuẩn bị cho một cuộc chạy đua khác chống lại Obama. Bởi thế, đưa Hillary vào trong Chính phủ là bảo đảm chắc chắn về mặt chính trị để điều ấy sẽ không xảy ra.
Với tân tổng thống, sự kết hợp này vẫn còn rất nhiều thử thách. Ngay khi bước qua cửa kính của đại sảnh chính tại trụ sở Bộ Ngoại giao trong ngày đầu tiên, Hillary đã cho Obama thấy bà là một người trung thành. Khả năng của bà trong việc bỏ qua bất đồng với ông giờ là một phần câu chuyện đưa bà lên thành một chính trị gia sẵn sàng hy sinh vinh quang của bản thân vì tập thể. Về phần mình, Obama đặt niềm tin vào Hillary trong việc thực hiện những chính sách của ông.
Đối với bất cứ một chính phủ nào, việc xây dựng chính sách đối ngoại cũng là một quá trình phức tạp, trong đó rất nhiều cơ quan đóng vai trò quan trọng. Tùy thuộc tổng thống, một cơ quan có thể thắng thế trước những cơ quan khác trong một khoảng thời gian dài. Tuy vậy, quyền lực thật sự trong nửa thế kỷ qua vẫn thuộc về những quan chức an ninh quốc gia của tổng thống, nhóm người ban đầu được thành lập như một biện pháp nhằm xử lý quá trình đưa ra quyết định một cách lộn xộn của Tổng thống Franklin Roosevelt. Qua nhiều năm, những quan chức đó, những người chịu trách nhiệm trong việc điều phối hoạt động của các cơ quan an ninh quốc gia từ Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Cơ quan An ninh nội địa, Cục Tình báo trung ương (CIA) đến những cơ quan khác – đã tăng lên khoảng 300 người. Các lãnh đạo, các cố vấn an ninh quốc gia và cấp phó của họ thường gần gũi với tổng thống, cả về khoảng cách lẫn những mối quan hệ cá nhân, hơn với các bộ trưởng. Có một chuyện đùa ở Washington rằng, giai đoạn duy nhất mà cố vấn an ninh quốc gia có quan hệ tốt đẹp với ngoại trưởng là khi Henry Kissinger nắm cả hai chức vụ đó.
Obama phải làm cho Hillary thấy hài lòng. Vì có thể bà sẽ sử dụng ảnh hưởng của mình để công khai chống lại ông – hoặc tệ hơn, sẽ từ chức trong sự đối đầu – Hillary có thể gây suy yếu những nỗ lực tái đắc cử của Obama. Với việc bổ nhiệm đặc phái viên của bà và cho bà toàn quyền kiểm soát Bộ Ngoại giao, Obama đã cho phép bà được quyền điều hành. Nhưng không nhiều. Phó Tổng thống Joe Biden mới là người được chọn để giải quyết các vấn đề Iraq, và những quan chức an ninh quốc gia luôn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong các vấn đề về Afghanistan, Pakistan, và khu vực Trung Đông. Bà luôn có một vị trí tại bàn họp, nhưng sẽ phải tìm lối đi riêng cho các cuộc thảo luận tại hậu trường.
Trong ngày đầu tiên bà đứng trên cương vị mới sau bài phát biểu tại đại sảnh, Obama và Biden ghé thăm căn phòng lộng lẫy của Benjamin Franklin tại tầng tám trụ sở Bộ Ngoại giao, để dự buổi lễ Holbrooke tuyên thệ nhậm chức đại diện đặc biệt tại Afghanistan và George Mitchell nhậm chức đặc phái viên tại khu vực Trung Đông.
Obama đã tự dàn xếp việc bổ nhiệm Hillary bằng những điều khoản ngắn gọn. “Thật là đặc ân cho tôi được có mặt ở đây để tôn vinh tất cả các bạn, những con người đầy tài năng của Bộ Ngoại giao,” Obama nói. “Tôi đã dành cho các bạn một món quà ra mắt, đó là bà Hillary Clinton.” Thế đấy. Những sự chú ý của ông với Holbrooke cũng rất hạn chế. Một cách đáng lo ngại, Holbrooke đã so sánh Việt Nam và Afghanistan trong những phát biểu của mình, một sự so sánh khiến Obama bực mình.
Màn giới thiệu đầu tiên của Obama về Hillary có vẻ rất thận trọng. Ông bày tỏ lòng tôn trọng nhưng không niềm nở, sẵn sàng để Hillary nắm Bộ Ngoại giao, tuyển dụng các đặc phái viên và tùy tùng của bà, nhưng cũng không tỏ ra sốt sắng. Mối quan hệ của họ là quan hệ công việc, chỉ giới hạn trong giờ hành chính. Bill và Hillary từng sống tại Nhà Trắng trong 8 năm, và với cương vị ngoại trưởng, Hillary sẽ có mặt tại đó vài lần một tuần trong những cuộc họp với Hội đồng An ninh quốc gia của tổng thống và nhiều sự kiện khác. Hillary thậm chí đã đề nghị Obama cùng ăn trưa mỗi tuần một lần như một điều kiện để bà nhận công việc. Nhưng tất cả là vì công việc, không phải để chơi. Nhà Obama không mời nhà Clinton tới dùng bữa tối, cũng chẳng mời họ đến rạp phim của Nhà Trắng; và cho đến thời điểm đó, Obama cũng không mời Bill cùng chơi golf.
Nhưng dù sao thì lịch làm việc của nhà Clinton cũng đã kín. Trong khi Hillary làm việc ở Bộ Ngoại giao, Bill tiếp quản công việc của gia đình, với hoạt động của bộ máy chính trị rộng lớn nhà Clinton. Hillary có lý do thuyết phục để giới hạn những hoạt động chính trị của mình trong phạm vi cương vị bộ trưởng. Đầu tiên và quan trọng nhất, luật pháp quy định giới hạn những gì quan chức cấp cao trong Chính phủ có thể làm tại khu vực đã tranh cử. Nhưng quan trọng hơn, luật pháp giúp Hillary tránh dính dáng đến các xung đột. Trong cuộc vận động tranh cử, bà đã bị phân cực; nhưng với tư cách là ngoại trưởng của Mỹ, bà trở nên nổi tiếng. Hồi tháng Hai, với sức nóng của cuộc bầu cử sơ bộ Đảng Dân chủ, tỉ lệ ủng hộ bà đạt mức 48%. Khi bà đấu với Obama suốt mùa xuân, tỉ lệ đó tăng lên 54%, rồi nhảy vọt lên 65% sau khi bà chấp thuận đề nghị trở thành ngoại trưởng. “Trong lần thứ hai quay lại vũ đài chính trị và công việc của Đảng,” theo lời một cố vấn trong chiến dịch tranh cử năm 2008, “bà ấy đã trở nên năng nổ hơn.”
Lý do đó đủ sức nặng để Hillary tập trung nỗ lực tái thiết ở Bộ Ngoại giao như một cách âm thầm và bình tĩnh nâng cao dần vị thế của mình trước công chúng Mỹ. Điều đó cũng có nghĩa là gánh nặng duy trì các mối quan hệ và giải quyết các vấn đề sau cuộc bầu cử sơ bộ đã chuyển cho Bill. “Ông ấy phải giải quyết tất cả các công việc chính trị của gia đình lúc này” trong khi Hillary ở Bộ Ngoại giao, một nguồn tin thân cận với Bill cho biết. Theo thỏa thuận về công việc của Hillary tại Bộ Ngoại giao, Bill đã đồng ý hạn chế những hoạt động ở nước ngoài trong khuôn khổ Quỹ Sáng kiến toàn cầu Clinton. Điều đó cho ông nhiều thời gian hơn để lên kế hoạch cho những sự kiện chính trị, trong đó có cả những sự kiện có lợi cho Obama, mặc dù điều này khiến nhiều người không hài lòng. Nhưng dù sao, tất cả đều tốt cho nhà Clinton.
Bill rất háo hức quay lại các hoạt động chính trị. Trong dịp Lễ Tạ ơn, tại bữa tiệc gây quỹ của Luke Ravenstahl ở Pittsburgh, Bill đã nhìn chằm chằm Jason Altmire. Nhưng đây không phải thời điểm để trả thù. Trước tiên, Bill phải tập trung thanh toán các khoản nợ cho những người bạn chân thành và tận tụy, như Terry McAuliffe – người thân với gia đình Clinton nhiều năm qua.
Trong thế giới của Clinton, McAuliffe được gọi là “Ông Macker,” ông ta bắt đầu học cách kiếm tiền từ khi mới 14 tuổi ở Syracuse, New York, nơi ông ta làm công việc lát đường lái xe vào nhà. Cuối cùng, ông ta cũng trở thành một gã lắm tiền thành đạt, rồi viết hồi ký kể lại chuyện bỏ lại đứa con mới sinh và vợ trong ô tô khi đang trên đường từ bệnh viện về nhà để kịp tới dự một buổi gây quỹ. Qua nhiều năm, ông ta đã trải qua nhiều công việc, như giám đốc tài chính trong chiến dịch tranh cử tổng thống của Jimmy Carter; chủ tịch Ủy ban quốc gia Đảng Dân chủ, và đồng chủ tịch chiến dịch tranh cử năm 2008 của Hillary. Nhưng chính McAuliffe, người có thể đổi một chiếc du thuyền lấy một con lạc đà, là nhà tài trợ chính cho gia đình Clinton. Ông ta thậm chí đứng ra bảo lãnh khoản vay 1,3 triệu đô-la để họ mua một căn hộ ở Chappaqua.
Đôi khi, lòng trung thành với Bill còn nhằm gây ấn tượng với một người đã được ấn định trước là sẽ thua, và không ai ngoài McAuliffe xứng đáng với kiểu trợ giúp đó. Trở lại tháng Tám năm 2008, trong Đại hội toàn quốc Đảng Dân chủ, McAuliffe đã đến gặp Bill và Hillary để thông báo rằng ông đang tính chuyện chạy đua vào ghế thống đốc bang Virginia. Ông mang theo tờ báo địa phương có bài viết về cơ hội này. “Hãy làm đi,” họ nói. Vài tháng sau, khi Hillary đang phỏng vấn những ứng viên xin việc, tại căn hộ sang trọng ở Central Park South, Bill gọi McAuliffe đến khu Harlem để bàn công chuyện. “Tôi từng là thống đốc, tôi biết về những vấn đề mà các thống đốc phải giải quyết, vậy tại sao ông không đem vài người của ông tới đây?” Bill nói. McAuliffe đến Harlem cùng nửa tá cố vấn. “Bill giảng giải một cách nhiệt tình, Terry thì chăm chú ghi chép,” một phụ tá của McAucliffe cho biết. Vị cựu thống đốc bang Arkansas bắt đầu bài giảng về những quy định chính sách, bổ trợ cho McAuliffe những điều cần biết về các mánh khóe tranh cử. Ông ấy nói về “những mẹo chính sách thực dụng, như việc biến chất thải gia cầm thành nhiên liệu thay thế vậy,” một nguồn tin cho biết. Sau khi bị hạn chế hàng loạt công việc kể từ khi Hillary khởi sự ở Bộ Ngoại giao, Bill đã tham gia góp sức cho cuộc chạy đua của McAuliffe. Vị cựu tổng thống hứng thú với vai trò cố vấn chính trị, người gây quỹ và người đại diện chiến dịch. Trong tháng Hai, ông đã chủ trì bữa tối gây quỹ thường niên của Đảng Dân chủ, mặc dù những đảng viên Dân chủ bang Virginia trước đó đã bầu Obama. Ông đi khắp bang vận động cho McAuliffe, ở Richmond, Norfolk và Roanoke, suốt mùa xuân năm đó.
Tuy giữ khoảng cách, Hillary vẫn theo dõi hoạt động của McAuliffe. Tại một sự kiện của Vital Voices diễn ra vào tháng Ba, bà đã hỏi Mo Elleithee, phát ngôn viên chiến dịch tranh cử tổng thống, về tình hình chạy đua vị trí thống đốc của McAuliffe. Còn khi được hỏi Hillary có nói trực tiếp với McAuliffe về việc đó hay không, Philippe Reines trả lời rằng mọi cuộc đối thoại sẽ được giữ kín – ngầm thừa nhận rằng bà ấy đã có những tính toán về cuộc chạy đua đó, dù công khai tuyên bố không dính líu.
Việc McAuliffe thắng cử quả là bất khả thi. Ngay tại Virginia quê nhà, vùng ngoại ô trong lành phía bắc Washington, ông ta cũng bị xem là một kẻ hoạt động chính trị vãng lai, theo kiểu một người nhà Clinton hơn là người dân Virginia. Capricia Marshall, vào thời điểm đó đã được Nhà Trắng bổ nhiệm vào vị trí trưởng ban lễ tân, cũng có mặt trong dạ tiệc tranh cử của McAuliffe như một người thuộc Hillaryland. Chẳng có gì để ăn mừng, McAuliffe đã thất bại.
Kể từ những ngày cuối cùng trong nhiệm kỳ tổng thống của Bill, Hillary đã luôn có mặt trên những đường đua chính trị, chiến thắng trong hai cuộc chạy đua vào Nghị viện, nhưng thất bại trong chiến dịch tranh cử tổng thống. Bình thường, hẳn bà sẽ sát cánh cùng McAuliffe, quyên tiền và vận động ủng hộ ông. Nhưng công việc mới đòi hỏi bà phải giữ khoảng cách với cuộc chạy đua của McAuliffe cũng như mọi cuộc tranh cử khác. Thay vào đó, bà tập trung vào bàn cờ chính trị quốc tế và đặc thù ngành hành pháp của Washington.
❀ ❀ ❀
[1] P90X: một phương pháp tập luyện cường độ cao, kết hợp các bài tập tim mạch nhằm tăng cường sức mạnh và sự dẻo dai linh hoạt của cơ thể. (BT)
[2] Tức Hillary Clinton. (BT)