Nhà Clinton bỏ dở cuộc đi dạo ngày Chủ nhật trong một khu bảo tồn kỳ thú của Thung lũng Hudson tuyệt đẹp, không xa ngôi nhà Thuộc địa Hà Lan trong Khu Phố Cổ ở Chappaqua, New York, khi điện thoại của ông Bill đổ chuông. Đó là ngày 9 tháng Mười một, năm ngày sau cuộc bầu cử, và tổng thống đắc cử đang gọi điện cho tổng thống gần đây nhất của Đảng Dân chủ. Nhưng Bill không nghe được rõ qua điện thoại di động của ông, và ông hỏi liệu mình có thể gọi lại khi về tới nhà. Cuối cùng, từ nhà Clinton, họ đã nói chuyện qua điện thoại với nhau. Obama giải thích rằng mình đang bận hoàn tất danh sách nội các mới – một dự án mà John Podesta, cựu trưởng ban nhân sự Nhà Trắng thời Clinton, đã phải vận động hậu trường suốt nhiều tháng trời – và ông ta muốn nghe ý kiến của Bill về hai nhân sự thuyên chuyển. Trước khi gác máy, Obama đề nghị Bill nói với Hillary rằng ông cũng muốn sớm nói chuyện với bà ấy.
Một số cố vấn chóp bu của Obama đã biết được lý do: bà là lựa chọn của ông cho chức ngoại trưởng. Các giới chức chính trị bắt đầu nghe được những lời to nhỏ về Hillary ở Bộ Ngoại giao gần như ngay sau cuộc bầu cử. Ngay hôm sau chiến thắng của Obama, Andrea Mitchell của NBC News đã phỏng vấn Philippe Reines, cố vấn cao cấp và là người phát ngôn của Hillary, rằng liệu Hillary có đáp xuống Bộ Ngoại giao hay không. Ông ta đưa ra câu trả lời tương tự câu trả lời ông sẽ đưa ra nếu được hỏi liệu bà Hillary có ký hợp đồng như một “người bắt chó” [1] hay không: mọi chuyện đều có thể.
Con người gốc phía Tây Thượng Manhattan hung hăng, có đôi mắt nâu dữ dội này đã giành được vị trí quan trọng trong nhóm của Clinton với lòng trung thành mãnh liệt và một bản năng nhạy bén trong việc làm sao xây dựng và bảo vệ uy tín của chủ nhân, một người thường có các cuộc trao đổi e-mail đầy xúc phạm với các phóng viên. Reines có khẩu vị tầm thường, thích thêm thắt chút gia vị làm mất mặt người khác, kiểu như viết sai tên đầu của một hạ nghị sĩ trẻ hơn chỉ để tỏ ý rằng nhà lập pháp này chưa đủ tiếng tăm để đáng được nhớ đến, và ông ta có lần đã tự mô tả mình như một tay thủ môn hockey bảo vệ tấm lưới nhà Hillary trước các “đĩa bay” vun vút của giới báo chí. Giờ đây cũng vậy, ông ta muốn biết là liệu “cuốc xe ngựa hội chợ” của cuộc bầu cử năm 2008 này có sắp dừng lại ở một đỉnh cao mới – Bộ Ngoại giao – hay chưa.
Ngày 7 tháng Mười một, sau một chuỗi e-mail với nhiều vị cố vấn cao cấp của Hillary, gồm Maggie Williams, Cheryl Mills và Capricia Marshall, cuối cùng Reines hỏi bà chủ của mình rằng liệu bà có dừng chân ở Bộ Ngoại giao hay không.
Ông ta sẽ dành chức vụ này cho bà, Reines viết.
“Chuyện đó khó có thể xảy ra dù có một triệu lý do,” Hillary trả lời cả nhóm. Bà thấy nó đáng cười, thậm chí lố bịch. Bà bảo Reines rằng bà chẳng buồn tìm hiểu tin đồn ấy từ đâu đến. Nhưng nó không đúng, bà viết.
Cuộc gọi của Obama tối Chủ nhật đó đã tăng thêm tò mò cho Hillary và nhân viên của bà.
Alyssa Mastromonaco – người từ lâu chuyên xếp lịch làm việc của Obama – sau đó đã vươn tay tới Huma Abedin, người đảm đương những nhiệm vụ chính trị và nhân sự nhạy bén nhất của Hillary, và họ đã lên phương án tổ chức một chuyến đi của Hillary đến tổng hành dinh giai đoạn chuyển giao của Obama đặt tại Chicago. Ngay từ sau ngày bầu cử, Hillary đã dành nhiều quan tâm cho một số người vốn không nghĩ bà muốn được đề nghị tham gia nội các, và cá nhân bà vẫn khó mà bị thuyết phục như một số trợ lý, rằng lời mời giữ một chức vụ đang ở ngay trước mắt.
Bên trong Văn phòng Thượng viện của Hillary, thuộc lầu bốn Russell Building uy nghi, một sự pha trộn giữa Nghệ thuật trang trí thế kỷ trước của các tấm đá ốp cẩm thạch với những cây cột Doric [2], nơi những tiếng cót két do giày của những tướng lĩnh và đô đốc dẫm lên sàn có thể nghe rõ mỗi khi họ đến điều trần trước Ủy ban Quốc phòng Thượng viện, các trợ lý vẫn đang vật lộn với câu hỏi làm sao Hillary có thể tiếp tục đeo đuổi những mục tiêu của bà từ Capitol Hill. Sau một mùa hè đầy bất mãn, bỗng có một chuyện xôn xao xung quanh khả năng bất ngờ rằng nhóm Hillaryland có thể tìm thấy ngôi nhà mới trong chính quyền Obama.
Mặt khác, có những lo lắng hoài nghi trong một số trợ lý cấp cao của Obama, kể cả David Axelrod và Jim Messina, người đã thảo luận về lựa chọn này với tổng thống đắc cử hồi cuối tháng Mười, không lâu trước khi kiểm phiếu. Ngay từ đầu mùa hè 2008, Obama từng cân nhắc việc có một Hillary điều hành Bộ Ngoại giao sẽ đem tới những giá trị gì cho cương vị tổng thống của ông.
Axelrod điếng người khi lần đầu tiên được nghe Obama nói rằng muốn Hillary nắm giữ vị trí đó. “Làm sao có chuyện đó được?” Axelrod hỏi. “Chúng ta vừa cùng tiến hành một chiến dịch đầy sức mạnh.”
“Bà ấy là bạn trước khi là đối thủ của tôi,” Obama đáp. “Bà ấy thông minh, cứng cỏi và có uy tín trên thế giới. Tôi tin bà ấy sẽ là một thành viên trung thành trong đội ngũ chúng ta. Tôi không nghi ngờ điều đó.”
Dù cho bà không muốn trả lời về những cú điện thoại tai tiếng lúc 3 giờ sáng để trao đổi trong suốt thời gian tranh cử của mình, nhưng nếu bà ngồi vào chức vụ đó thì bà có lẽ sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc lãnh đạo cùng với họ. Suốt thời gian diễn ra cuộc đua ở vòng đầu mệt nhoài giữa họ, Obama đã chỉ trích bà vì sự phóng đại hồ sơ chính sách đối ngoại của bà. Thế giới trần tục không chỉ là “nơi tôi sẽ gặp gỡ và nói chuyện với vị lãnh đạo nào trên thế giới trong tòa đại sứ, và tôi sẽ uống trà với ai”, ông nói. Nhưng khi đã thắng vòng đầu, các trợ thủ Obama kể, ông bắt đầu ấn tượng trước sự bền bỉ của bà, khát vọng của bà, như người ta miêu tả, để “xuyên thủng một bức tường gạch.” Trong những tháng sau khi đã đánh bại Hillary, ông luôn ngưỡng mộ lòng trung thành mạnh mẽ của bà vì mục tiêu tổng tuyển cử.
Valerie Jarrett, người bạn và cố vấn gần gũi nhất của tổng thống đắc cử, vô cùng tâm đắc với ý tưởng ấy. Chiến dịch tranh cử đã khiến bà rất đau đớn, bởi vì bà có mối quan hệ với nhà Clinton đã từ nhiều năm trước và ngày càng thân thiết thông qua một người chị em Ann Jordan, vợ của Vernon Jordan, tâm phúc của gia đình Clinton. Jarrett luôn ngưỡng mộ và kính trọng cả hai vợ chồng Clinton và được an ủi bởi triển vọng xóa đi các rào cản.
Obama muốn Hillary vào đội của ông, và để thuyết phục các trợ lý của mình, ông tự vứt bỏ luận điểm mà mình từng gán cho đối thủ đeo bám trước đó rằng kinh nghiệm của Hillary chỉ giới hạn trong các tiệc trà. Điều quan trọng là có Hillary trong nội các sẽ cho phép Obama kiểm soát được thế lực chính trị có lẽ là vững chắc nhất trong cả nước.
Trong một loạt cuộc họp tại Chicago chỉ hai ngày sau khi kiểm phiếu, Obama đã tập hợp những trợ thủ trung thành sáng láng nhất của mình, gồm Joe Biden, Podesta, Messina và Rahm Emanuel, để lựa chọn các quan chức hàng đầu trong Chính phủ của mình. Do nền kinh tế đang rơi tự do, quyết định đầu tiên là đề nghị Tim Geithner đảm nhận Bộ Tài chính. Chức ngoại trưởng đứng thứ hai trên chương trình nghị sự. Nhân dịp đó, Obama đã giải thích rõ ràng với đội vận động tranh cử của mình về lý do ông muốn có Hillary. Biden đã phát biểu ủng hộ quyết định đó, theo như lời kể của Ted Kaufman, vị sếp lâu năm trong Thượng viện của Biden, vốn lúc đó cũng có mặt.
Biden đã từng xin lời khuyên của Bill Clinton trước khi tham gia cuộc đua năm 2008, và với tư cách bạn bè lâu năm của hai vợ chồng Clinton, ông ta đã không hề ủng hộ Obama cho đến các giai đoạn cuối của vòng đầu. Ngoài ra, ông cũng đưa ra lời khuyên cho cả Obama và Hillary khi họ mở cuộc chiến khắp cả nước.
“Tổng thống luôn tìm hiểu xem vị phó tổng thống của mình muốn nói về điều gì,” Kaufman nhớ lại. “Phó tổng thống là người ủng hộ Hillary rất mạnh mẽ.”
Obama đi lại quanh phòng để cân nhắc có hoặc không, và cuối cùng đưa ra một quyết định lựa chọn dứt khoát của mình: Có.
Ngày 13 tháng Mười một, bốn ngày sau khi Obama gọi cho vợ chồng Clinton, bà Mitchell thông báo là Hillary được xác nhận đang trên một chuyến bay đến Chicago. Cuối ngày hôm đó, các phóng viên khi đóng chốt ở văn phòng chuyển giao của Obama trong một tòa nhà liên bang ở khu buôn bán, đã phát hiện một đoàn xe mô-tô hộ tống không phải của tổng thống đắc cử, nên đã thắc mắc không biết vị tai to mặt lớn nào đang đến. Cho đến lúc này, cả hai phía đều chưa công khai gì về đề nghị của Obama. Nó bí mật đến nỗi khi Jon Favreau, người viết diễn văn của Obama, đến gặp Abedin tại văn phòng hôm đó, anh ta tưởng rằng Huma đang được phỏng vấn về một chức vụ trong Chính phủ: cái ý nghĩ rằng Hillary đang ngồi trong văn phòng và lắng nghe lời mời của Obama chưa từng thoáng qua trong đầu anh ta.
Obama và Hillary đang hội kiến riêng trong một phòng họp lịch sự, mặt đối mặt, không có mặt bất kỳ trợ lý nào.
Obama nói rằng ông muốn bà nhận công việc này.
“Tôi rất vui lòng, thưa Tổng thống vừa đắc cử,” Hillary đáp. “Nhưng tôi sẽ quay lại Thượng viện. Đó là công việc tôi thật sự muốn làm. Ông đã có rất nhiều người tài để lựa chọn cho vị trí ngoại trưởng.”
Bà nêu ra hai cái tên: nhà ngoại giao kỳ cựu Richard Holbrooke và tướng về hưu Jim Jones, cựu đô đốc Hải quân.
“Tôi có thể hỗ trợ ông tại Thượng viện, bởi vì tại đó đang có những thách thức đối với việc thực hiện chương trình nghị sự của ông,” bà nói với Obama. “Ông cũng đang có cuộc khủng hoảng kinh tế cần xử lý.”
Nhưng Obama đã suy nghĩ về nó rất nhiều rồi, ông nói, rằng bà chính là người phụ nữ dành cho chức vụ ấy. Khi ông bị trói chặt ở Washington với cuộc sụp đổ tài chính, ông cần đến một nhà ngoại giao tài năng – một ngôi sao để đại diện cho ông khắp toàn cầu.
Hillary vẫn nói không.
Hãy về nhà và suy nghĩ thêm, Obama chỉ thị cho bà, điều mà chỉ duy nhất tổng thống đắc cử mới có thể làm. Ông không chấp nhận câu trả lời không. Hai bên có thể bàn tiếp về điều đó, ông nói.
Hillary có nhiều lý do để bác bỏ lời khẩn cầu đầu tiên của Obama. Bà đang bị cuốn hút vào việc quay lại Thượng viện; bà không muốn điều hành một cơ quan đầy những người do Obama chỉ định; những giao thiệp quốc tế của chồng bà có thể trở thành khó xử đối với Obama; bà cũng sẽ không thể trả hết khoản tiền nợ 6,4 triệu đô-la từ cuộc vận động tranh cử, nếu bà nắm một chức vụ ngành hành pháp. Bên cạnh đó, lẽ nào bà có thể làm việc cho một đối thủ đã đánh bại bà và phải nhìn bức chân dung của ông ta hằng ngày trong văn phòng của mình? Còn một điều không ai nói ra, nhưng là hiển nhiên trong giới chính trị – thể hiện sự lưỡng lự trước lời mời của Obama sẽ cho bà đòn bẩy để giành được một thỏa hiệp tốt đẹp hơn nếu cuối cùng bà đi đến chấp thuận. Tất cả những điều đó làm nên lời từ chối.
Trước khi họ gặp nhau mặt đối mặt, trừ một số rất ít, còn hầu hết những người trong cuộc của hai phe đều ẩn mình. Nhưng ngày hôm sau, tờ Huffington Post dẫn lời hai quan chức của Đảng Dân chủ nói rằng Obama đã đề xuất một vị trí cho Hillary. Đột nhiên việc đó trở nên đáng tin hơn. Nó là chiếc dây an toàn cho những người trong Hillaryland, vốn đã một lần tưởng tượng mình sẽ được ở khu West Wing [3] để rồi gãy cánh quay về Capitol Hill. Bộ Ngoại giao tỏ ra là một chỗ hạ cánh an toàn nằm giữa hai nơi đó.
Khi bắt đầu tìm hiểu chức vụ này và tham khảo các ý kiến, Hillary nhanh chóng nhận ra rằng bạn bè và các cố vấn thân cận nhất của mình đã bị chia rẽ về việc bà có nên nhận chức vụ đó hay không.
Madeleine Albright, cựu ngoại trưởng, đang lái xe trong tình trạng ùn tắc giao thông nghiêm trọng trên M Street ở Washington khi Hillary gọi điện xin góp ý. Mười hai năm trước, Hillary thúc giục Bill chọn Albright, lúc đó đang là Đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc, cho chức vụ ngoại trưởng trong nhiệm kỳ thứ hai của ông. Hai người phụ nữ đã cùng nhau công du nước ngoài trong thời gian Clinton tại nhiệm, và sự gắn kết giữa họ được tăng thêm nhờ trải nghiệm chung nền giáo dục Wellesley. Albright không chỉ là bạn Hillary, mà còn là người phụ nữ duy nhất của Đảng Dân chủ từng làm ngoại trưởng, và do đó có tư cách độc nhất vô nhị để tư vấn cho Hillary về chức vụ này, cũng như về việc Hillary có nên nhận nó hay không. Albright ra khỏi xe trên một phố hẻm tại Georgetown vì bà đã đoán chắc cuộc nói chuyện sẽ kéo dài.
“Bà ấy biết rằng tôi rất thích công việc ấy” – Albright nói. “Chúng tôi nói với nhau về chức vụ ấy là thế nào, phải làm gì với nó, có bao nhiêu chuyến công du, Bộ Ngoại giao giống cái gì.”
Albright biết rõ điều gì bạn mình đang thực sự quan tâm, đó là liệu Hillary có thể thật sự thoải mái nếu ở Bộ Ngoại giao hay không. “Tôi đã nói với bà ấy rằng, công việc ấy rất tuyệt vời, rằng bà ấy sẽ là người phi thường tại chức vụ ấy, và rằng đó sẽ là công việc mà bà ấy có thể làm một cách đầy tự hào” – Albright nhớ lại. “Người ta hay nghĩ rằng chính sách đối ngoại chẳng liên quan gì với chính sách đối nội, nhưng chúng là các phần tách ra từ cùng một quang phổ lớn hơn. Do đó tôi biết chắc rằng bà ấy sẽ rất thành công trên cương vị đó.”
Còn Mark Penn thì phản hồi không cần suy nghĩ, rằng bà không nên làm việc cho Obama. Nhưng cuối cùng ông đã đưa ra được một cái nhìn sáng suốt về điều gì sẽ là tốt nhất cho Hillary – đặc biệt khi điều đó hàm ý nhắm đến một cuộc tranh cử tổng thống lần hai. Ông nhìn thấy những lợi ích chính trị sẽ tích lũy được nếu bà đảm nhiệm chức vụ ấy. Trong những lợi ích đó, then chốt là uy tín của bà với tư cách một chuyên gia đối ngoại; nó sẽ một lần nữa chứng minh bà là một đảng viên Dân chủ đầy thiện chí, vượt lên chính bản thân; sẽ một lần và mãi mãi giải phóng bà khỏi cái bóng của Bill, cũng như sẽ làm hài lòng các cử tri của Đảng Dân chủ vòng đầu, những người muốn được thấy bà và Obama hợp nhất sức mạnh lại với nhau.
Penn đã bị những người trong Hillaryland tẩy chay chính vì quan điểm đó, vì theo họ lời khuyên của ông ta không có giá trị gì. Nhưng hai dòng cảm xúc trái ngược nhau của cá nhân ông đã minh họa cho sự chia rẽ trong nhóm Hillaryland. “Văn phòng chúng tôi như bị chẻ làm đôi vì nhiều người không muốn bà ấy đảm nhận chức vụ đó,” một trong các trợ lý tại Thượng viện của Hillary cho biết. “Nhiều người muốn duy trì công việc của mình như cũ – họ thuộc loại nhìn nhận về Obama một cách tiêu cực và chua chát. Nhưng có cả những người khác cho rằng đây là một cơ hội tốt cho bà ấy.”
Obama huy động toàn bộ sức ép sân nhà. Hành động nhân danh ông, một danh sách dài các đảng viên Dân chủ nổi bật đều lên tiếng thúc giục Hillary nhận chức vụ ấy, và rõ ràng là Bill cũng sẵn sàng làm mọi việc cho điều ấy trở nên dễ dàng, bao gồm việc điều chỉnh các hoạt động từ thiện của ông và chia sẻ danh sách các nhà từ thiện của ông với đội ngũ Nhà Trắng mới. Tuy nhiên ông cũng nhạy cảm với những chỉ trích mà ông từng phải hứng chịu trong suốt chiến dịch tranh cử của bà. Trong khi nói rõ rằng bà nên nhận chức ấy, nhưng ông không gây sức ép.
Podesta trở thành con thoi liên lạc giữa Obama và Hillary. Ông ta đề nghị Hillary nhận chức vụ ấy trong những cuộc gặp mặt vào mùa hè 2008, chỉ để chứng tỏ cho bà thấy rằng Obama đã hạ quyết tâm về việc đó. Podesta nài nỉ Hillary đưa ra một lời hứa, và tư vấn cho Obama về chiến lược và chiến thuật buộc bà phải nói có.
Suốt một tuần, báo chí đăng tin bài liên tục xoay quanh câu hỏi liệu bà đã thật sự được đề nghị vào chức vụ đó hay chưa, liệu bà có nhận nó hay không. Phía sau hậu trường, các trợ lý của Clinton và Obama làm việc cật lực để có thể sắp xếp “ván cờ” này. Reines và Andrew Shapiro, một cố vấn an ninh quốc gia, nổi bật với kiểu chơi thí tốt, gián tiếp vận động hành lang cho Hillary. Sinh nhật Joe Biden sắp đến, sau mấy ngày nữa, họ nài nỉ bà gọi điện cho phó tổng thống đắc cử trước hai ngày, và khi hai bên nói chuyện trên điện thoại, Biden đã gây áp lực nhân danh tình bạn. Ông ta đã làm xong phần việc của mình. Emanuel cũng gửi đến bà Hillary lời thúc giục của riêng ông.
Nhưng, trong khi các đồng minh của Clinton thuộc nhóm tham mưu cấp cao của Obama khơi thông các kênh thuyết phục bà, thì nhiều thành viên còn lại trong nhóm lại do dự bởi triển vọng của các nỗ lực đồng hóa vũ trụ của Clinton vào thế giới của Obama.
“Đa số mọi người, tôi không có ý nói đến các cấp cao nhất, những ai đã đóng góp khác nhau ít nhiều cho cuộc vận động bầu cử, có lẽ đều không hề nảy ra ý nghĩ rằng bà ấy và người của bà ấy sẽ trở thành một bộ phận trong Chính phủ mới,” một người phe Obama nói. “Hầu hết những người tôi biết đều không thích điều đó.”
Khi các cuộc chiến ngấm ngầm ấy nổ ra giữa những người muốn Hillary nắm Bộ Ngoại giao với những người không muốn điều đó, thì các tính toán lại chuyển hướng. Lúc đầu có vẻ Obama đã tiến đến rất gần chiếc cúp chiến thắng bằng cách lôi kéo Hillary gia nhập nội các gồm toàn các địch thủ. Nhưng, khi công luận hiểu ra mọi chuyện, thì rõ ràng đó sẽ là nỗi hổ thẹn với Obama nếu Hillary từ chối. Điều đó cũng có nghĩa là danh tiếng của chính bà cũng có thể chợt tiêu tan – có thể các đảng viên Dân chủ sẽ có những phản ứng dữ dội nếu họ xem hành động từ chối là một nỗ lực có chủ đích của Hillary nhằm hại cựu đối thủ của bà.
Hillary đã phải để tâm đến những cái nhìn soi mói ấy kể từ lúc bà rời khỏi tổng hành dinh chuyển giao của Obama. Bà chỉ thị các trợ lý không được tiết lộ về lời đề nghị kia, sao cho nếu bà từ chối Obama, điều đó cũng không gây tai tiếng cho ai.
Suốt nhiều ngày liền, Hillary vẫn chưa quyết định. Bà vừa mới quen với ý nghĩ rằng hoạt động tiếp theo của bà phải là ở Thượng viện, nơi một người chơi với những quan hệ mới và sức mạnh chính trị có thể tạo nên sự nghiệp của một nhà lập pháp tầm cỡ, dù đã thất bại khi tranh cử tổng thống. Thật trớ trêu, hình mẫu ấy chính là Ted Kennedy. Những khác biệt về mặt văn hóa giữa phe Obama và phe Hillary đã dấy lên những nghi ngờ nghiêm trọng về việc liệu họ có thể phối hợp với nhau hay không, và ngay cả các ứng viên từng xung đột nhau nhiều lần về đường lối chính sách ngoại giao suốt chiến dịch tranh cử. Dù họ có nhiều điểm chung hơn là khác biệt, nhưng sự tương phản giữa họ là có thật. Trong vòng đầu, Obama đã nhiều lần phê phán Clinton vì đã bỏ phiếu tán thành cuộc chiến tại Iraq. Clinton thì biếm họa chân dung Obama như một kẻ ngây thơ, bất lực khi phải đối mặt với các quốc gia hay gây gổ như Iran.
Ngày ngày trôi qua, Hillary vẫn thiên về câu trả lời là không. Nhiều nữ cộng sự gần gũi nhất, kể cả Williams và Mills, đều giục bà từ chối sự đề nghị, như lời một cố vấn biết rõ cuộc thảo luận vào thời gian ấy cho biết.
Nhưng cũng có một lực lượng nòng cốt tận tụy nhỏ to hàng tuần lễ đã vận động bà nói có. Reines tháo gỡ từng nút thắt mà ông có thể để bà phải xem xét lại, rồi đề nghị những người khác hành động tương tự. “Nếu bạn nghĩ rằng bà ấy nên làm ngoại trưởng, tốt hơn là bạn hãy gửi e-mail cho bà ấy ngay, bởi bà ấy đang nói không đấy,” ông bảo một đồng nghiệp lúc đêm khuya.
Ellen Tauscher, một thành viên cao cấp của Ủy ban Quốc phòng Hạ viện, nằm trong số những người đã làm thay đổi quan điểm của Hillary vào những ngày cuối cùng trước khi quyết định được đưa ra. Là một thần đồng kỳ tài của Wall Street, rồi trở thành người gây quỹ của Đảng Dân chủ sau khi chuyển đến California với người sau đó là chồng bà, Tauscher đã chủ trì hai chiến dịch tranh cử đầu tiên của Thượng Nghị sĩ Dianne Feinstein vào Thượng viện. Khi bước ra tranh cử như một người ôn hòa kiểu Clinton, Tauscher đã đánh bại một thành viên Đảng Cộng hòa đương nhiệm để giành được một ghế Hạ viện của Vùng Vịnh khi Bill Clinton tái đắc cử năm 1996.
Với vóc người cao, hăng hái và mạnh mẽ như một quả tên lửa Trident, Tauscher kết bạn với đệ nhất phu nhân, và Hillary đã chuyện trò, giúp đỡ bà từ đầu đến cuối cuộc ly dị gay go với người chồng đã thú nhận ngoại tình, cùng thời gian Bill Clinton phải hầu tòa về vụ bê bối Monica Lewinsky. Sau khi Hillary giành được ghế ở Thượng viện, họ càng gắn bó hơn khi cùng nhau làm việc về các hiệp ước quân sự với tư cách thành viên của các Ủy ban Quốc phòng tại Hạ viện và Thượng viện.
Tauscher tin rằng Obama, một người với kinh nghiệm hạn chế về chính sách đối ngoại, cần có những cục nam châm trong đội hình an ninh quốc gia của ông. Bà đã vận động Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates tiếp tục tại vị sau khi chính quyền Bush ra đi, giúp Obama giải quyết cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan. Bà cũng xem Jim Jones, cố vấn an ninh quốc gia sắp tới, là bạn thân của mình. Với tư cách nữ Chủ tịch Tiểu ban Lực lượng Chiến lược, Tauscher không chỉ thích ý tưởng có được ba đồng minh tại Phòng Tình huống, mà còn cho rằng kỹ năng, sự tinh thông và các mối quan hệ trên thế giới của Hillary có thể giúp khôi phục uy tín trên thế giới vốn đã bị đập tơi tả của nước Mỹ, cũng như tập trung vào việc soạn thảo các chính sách quan trọng mà chính quyền Bush đã bỏ qua. Hillary sẽ không cần mất nhiều thời gian để tăng tốc.
Tauscher gọi điện cho Hillary. “Bà phải nhận chức vụ này,” Tauscher nói. Hillary bật cười nắc nẻ như một thói quen và lắp bắp mấy lời phản đối. Nhưng sau đó, bà bắt đầu lắng nghe. Tauscher giải thích, rằng Hillary sẽ nâng cao giá trị cho đội hình an ninh quốc gia của Obama rất mau chóng, sử dụng duy nhất một Rolodex [4] phù hợp bởi chồng bà muốn tạo ra một lực đẩy đa chiều. Chính quyền Bush gần như đã trở nên thù địch với cả thế giới, kể cả các đồng minh lâu năm cũng như các đối tác chiến lược tiềm năng. Đặc biệt, Tauscher lưu ý, hiệp ước START [5] sắp hết hạn và nước Mỹ cần một siêu sao để hàn gắn mối quan hệ đã rách tả tơi với nước Nga. “Chúng ta phải biến nó thành hiện thực,” bà nói về công ước hạt nhân.
Tổng cộng, cuộc tấn công kéo dài 35 phút, và chính Tauscher mấy tháng sau đó sẽ phải nghe Hillary lặp lại những điều ấy, gần như đúng từng lời, khi Hillary đề nghị bà này rời Nghị viện để trở thành Thứ trưởng phụ trách việc kiểm soát vũ khí và các vấn đề an ninh quốc tế.
Hillary cũng hội ngộ với Melanne Verveer, cựu trưởng ban nhân sự Nhà Trắng của bà, bên lề một sự kiện ở New York. Verveer, từng điều hành tổ chức phi chính phủ Vital Voices (Tiếng nói Sự sống) chuyên hỗ trợ các nữ lãnh đạo trên toàn thế giới mà Hillary đã khởi xướng, đã thuyết phục bà nhận chức vụ ấy. Lissa Muscatine, người viết diễn văn kỳ cựu, cũng đề xuất tương tự. Tuy nhiên, nhiều lý do để chấp nhận lời mời vẫn không xóa đi hay loại trừ được mọi lý do để từ chối nó.
Kris Balderston, khi đang ngồi tại Sân bay quốc tế Baltimore-Washington đợi đón con gái từ trường trung học về nhà vào một buổi tối trong tuần ấy, cũng đã gõ trên chiếc điện thoại BlackBerry của mình một bức thư cho Hillary, nêu rõ các lập luận vì sao bà nên nhận chức vụ ấy. “Bà là một người thuộc ngành hành pháp, chứ không phải lập pháp,” ông viết, trên cơ sở niềm tin sâu sắc của Hillary vốn cho rằng những người Đảng Cộng hòa thường rất kiên nhẫn và những người Đảng Dân chủ thì ngược lại. “Bà đang thiếu kiên nhẫn.” Đó là một bức thư dài ít nhất một trang rưỡi.
Không chỉ có mình ông. “Mọi người đều gửi e-mail cá nhân đến cho bà,” một người trong nhà Clinton cho biết. “Như một đợt sóng dâng tràn.”
Ngày thứ Ba, 18 tháng Mười một, năm ngày sau chuyến đi của Hillary đến Chicago, các cố vấn hàng đầu của bà được triệu tập để thảo luận về việc từ chối lời mời của Obama thì sẽ thế nào. Để bảo đảm rằng điều đang treo lơ lửng trên đầu Hillary không bị tiết lộ với mọi người trong cuộc triệu tập, họ đã trao đổi nhanh về những gì bà sẽ nói công khai nếu nhận chức vụ ấy. Tất nhiên, nếu bà nói có, nó sẽ được trình lên để Obama ra tuyên bố. Điểm chung của “các con sư tử” trong cuộc triệu tập hai giờ là đều dành hết cho phương án “không.”
Williams, Mills, Reines, Jim Kennedy, Abe in, Bruce Lindsey – luật sư lâu năm của nhà Clinton – Doug Band và những người khác đều dự họp.
Reines đã dự đoán một cơ hội để trì hoãn việc ra quyết định của Hillary. Đội của Obama hiện vẫn trong quá trình rà soát những xung đột tiềm tàng có khả năng xảy ra giữa các hoạt động từ thiện của Bill Clinton với các trách nhiệm của ngoại trưởng. Nếu bây giờ bà ấy nói không, Reines lập luận, báo chí sẽ nói Bill thiếu tư cách cựu chiến binh.[6] Bà nên đợi cho đến khi quá trình rà soát kia kết thúc đã, ông khuyên, thậm chí còn đề xuất phe Clinton nên nộp ra một bản in danh tính đầy đủ các nhà tài trợ của Bill Clinton, chứ không chỉ hội những người đóng góp hơn 200.000 đô-la mà phía Obama đã yêu cầu, và đem nộp cho bộ tham mưu chuyển giao.
Thoạt đầu Band phản đối ý tưởng đó. Trên thực tế, nói chung không hội từ thiện nào lại đi tiết lộ danh sách các nhà tài trợ, và Band đã lo ngại một cách chính đáng về những chuyện đau đầu tiềm tàng có thể phát sinh. Ông ta bèn tìm cách đi đường vòng, né tránh ý tưởng này, bởi lẽ “đó là một gợi ý hấp tấp,” một người có mặt nhớ lại. Đội của ông Bill “chưa hề sẵn sàng để lâm vào tình huống đó,” nguồn tin cho biết thêm. Nhưng cuối cùng, Band đồng ý.
Bản danh sách vượt quá dung lượng một trang Microsoft Excel khổ lớn, và Maura Pally, một người thân cận của Mills và là người trung thành với Hillary, đã phải đi taxi để giao tận tay cho phía Obama cái tờ in khổ lớn ấy. Mưu mẹo mang lại câu trả lời “có” tốn nhiều thời gian hơn một chút.
Đến thứ Tư, ngày 19 tháng Mười một, Hillary đã nghe được hết mọi tranh luận. “Bà ấy biết ai đang ở phía nào,” một trợ lý nói. “Những ai ủng hộ điều đó đều là vô tích sự hết!”
Bà đã cố gắng liên lạc với Obama để từ chối. Nhưng ông ấy không bắt máy. Có một lần, nhằm tránh sự từ chối, Emanuel đã nói với Hillary rằng Obama đang trong phòng tắm. Cuối cùng, khuya hôm đó, họ cũng nối máy được với nhau.
Xin hãy nói có, Obama nài nỉ. Tôi cần bà trong đội ngũ của tôi.
“Quả thực ông làm khó tôi quá,” bà nói.
“Tôi biết là nó khó cho bà,” Obama nói. “Nhưng tôi muốn bà đảm nhiệm vị trí này.”
Không, xin cảm ơn ông, Hillary bảo Obama, ít nhất đây là lần thứ ba bà từ chối.
Một lần nữa, Obama không chấp nhận lời chối từ. Nhưng ông nói rõ rằng mình sẽ không lặp lại yêu cầu thêm một lần nào nữa. Ông cần một câu trả lời. Nếu đó là không – thật sự là không – thì ông đành phải giao chức vụ ấy cho người khác. Ông cài chốt lên sức ép. Hãy đi ngủ cùng với nó và ngày mai hãy cho tôi câu trả lời cuối cùng, ông nói.
Rào cản chủ yếu đã được tháo gỡ: việc của Bill sẽ không còn là vấn đề, Obama đã tỏ rõ thiện chí sẵn sàng giúp Hillary thanh toán các món nợ trong chiến dịch tranh cử, và điều quan trọng là ông đã cam đoan rằng bà có thể lấp đầy Bộ Ngoại giao với người của bà, chứ không phải người của ông.
Khi màn đêm buông xuống, Reines vẫn chưa nhận được tín hiệu Hillary sẽ đổi ý. Ông đã phải chuẩn bị để sáng hôm sau gửi đi một thông cáo báo chí đặt dấu chấm hết cho vở kịch này.
Đến 8 giờ sáng, ông ta quay lại bàn làm việc của mình tại Thượng viện, nhìn chằm chằm vào hai cửa sổ máy tính: một thông cáo báo chí dạng Microsoft Word trên màn hình và một danh sách báo chí trên Outlook. Ông đã sẵn sàng tung nó cho các phóng viên ngay khi nhận cuộc gọi cuối cùng. Mặc dù Hillary đã chỉnh sửa sơ bộ cho bài viết, nhưng bà vẫn chưa ký vào đó. Mệnh lệnh vẫn chưa đến. Có một “khoảng mất sóng radio,” một cố vấn làm công việc liên quan đến thông cáo kể lại. Khi khoảng lặng hàng phút kéo thành hàng giờ, Reines bắt đầu sốt ruột, bồn chồn lo sợ rằng đã có chuyện gì đó xảy ra.
Ông ta đã đúng. Khoảng 11 giờ trưa, Maggie Williams gọi đến. Reines vội chạy vào văn phòng riêng của Hillary, ngồi xuống cạnh bàn và nói chuyện một cách kín đáo. Williams đã bảo Reines thả ngón tay khỏi nút giữ cuộc gọi.
Sáng hôm đó, Hillary đã gọi lại cho Obama.
“Thôi được, hãy bắt đầu thảo luận về những điều kiện tôi cần nếu tôi nhận công việc đó,” bà nói – một tín hiệu rõ ràng là bà đã chấp nhận chức vụ ấy.
Sự kiên trì của Obama được đền bù. Ông sướng run với quyết định của bà, ông nói với Hillary như vậy. Ông tin rằng họ sẽ làm nên một đội mạnh.
Nói cho cùng, Hillary nghĩ, bà cũng sẽ muốn Obama nói “có”, nếu như vị trí hiện nay của họ đảo ngược. “Điều cuối cùng mách bảo cho tôi phải làm thế, chính là khi tôi bắt đầu thật sự suy nghĩ thế này: giả sử tôi thắng, và giả sử tôi phải đối mặt cùng những cuộc khủng hoảng mà tổng thống đang phải đối mặt – hai cuộc chiến tranh đang tiếp diễn, một nền kinh tế đang suy sụp – và tôi muốn ông ấy có mặt trong nội các của tôi,” bà nói. “Tôi đã nghĩ rất nhiều về điều đó, tôi tin rằng ông ấy là người tốt nhất cho chức vụ đó, tôi đề nghị ông ấy, và ông ấy nói “không”; tôi sẽ cảm thấy thế nào?”
Lời kêu gọi phụng sự là một động lực mạnh mẽ. “Tôi quá thủ cựu và nghĩ rằng khi tổng thống của bạn yêu cầu bạn làm một điều gì đó, thì tốt nhất là bạn hãy có một lý do chính đáng để không thực hiện nó,” bà nói. “Tôi thích làm một thượng nghị sĩ. Tôi nghĩ tôi có thể là một thành viên thật sự hữu ích tại Thượng viện. Nhưng đây là điều ông ấy muốn tôi làm, và ông ấy cần một câu trả lời.”
❀ ❀ ❀
[1] Nguyên văn: ‘Sign as dog catcher’, một ẩn dụ chính trị, liên quan một chính trị gia nổi tiếng Mỹ nhận chức ngoại trưởng đầy khó chịu những năm 1940. (ND)
[2] Một kiểu kiến trúc Hy Lạp cổ đại. (ND)
[3] West Wing: khu chái Tây của Nhà Trắng, nơi có Phòng Bầu dục (văn phòng làm việc của Tổng thống Mỹ) và nhiều văn phòng khác dành cho các nhân viên chủ chốt. (BT)
[4] Một dạng sổ tay văn phòng dùng để ghi tên các đối tác giao dịch trong công việc. Ở đây tác giả dùng như một ẩn dụ về các mối quan hệ đa dạng của Hillary. (BT)
[5] Strategic Arms Reduction Treaty, Hiệp ước Cắt giảm vũ khí chiến lược. (BT)
[6] Ngụ ý nói kháy chuyện ông phản đối đi lính thời chiến tranh Việt Nam, nên thiếu tư cách cựu chiến binh; và cũng có ý cho rằng ông không xứng đáng là đảng viên kỳ cựu. (ND)