DANH SÁCH ĐEN CỦA HILLARY

Hillary Clinton: Bí Mật Quốc Gia Và Sự Hồi Sinh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1

❊ ❊ ❊

Tại Ballston ở gần Arlington, bang Virginia, trong một văn phòng chật chội ở tầng ba là trụ sở chiến dịch vận động tranh cử tổng thống của Hillary Clinton, nơi từng có lúc trong tình trạng cấp tập hối hả, Kris Balderston và Adrienne Elrod đưa tay chạm lần cuối lên những cái tên trên tờ danh sách đen ghi lại các kẻ thù chính trị của Hillary. Đó là vào cuối tháng Sáu năm 2008, và Hillary đã dừng cuộc đua giành ghế tổng thống. Phòng chiến tranh, đầu não của bà, nơi đã từng khởi xướng những cuộc chiến ồn ào, nay vắng lặng. Đội xử lý dữ liệu đã giải tán. Vị giám đốc chính trị đã buông xuôi. Một số trợ thủ của Hillary giờ đã ghép vào chiến dịch vận động cho Barack Obama ở Chicago.

Bộ râu muối tiêu của Balderston khiến ông trông như một giáo sư đại học người Anh, một chức vụ giúp người ta khỏi phải cạo râu. Khi bước vào tuổi ngũ tuần, ông đã sát cánh với nhà Clinton từ những ngày họ ở Nhà Trắng, với tư cách phó trợ lý cho tổng thống, sau đó là giám đốc pháp luật của Hillary và phó chủ tịch ủy ban Thượng viện. Các chức quản lý chính thức ấy che lấp mất chân giá trị của Balderston: ông từng là một nhà hoạt động chính trị xuất chúng và là một trong những người tán gẫu được Hillary yêu thích. Sau hơn 12 năm làm việc cho nhà Clinton, ông biết làm cách nào để ghi điểm trong một cuộc tranh đua trên chính trường.

Adrienne Elrod, một cô gái tóc vàng 31 tuổi hòa nhã, dáng vẻ khoan thai kiểu Ozark điêu luyện, đã gắn bó với nhà Clinton còn lâu hơn Balderston, ngay từ thời ấu thơ của cô tại Siloam Springs, một thị xã có 15.000 dân ở Tây Bắc Arkansas, vùng biên Oklahoma. Cô biết Bill Clinton ít ra từ khi mới năm tuổi. Cha cô, John Elrod, một luật sư nổi tiếng ở Fayetteville, thuộc nhóm bạn đầu tiên của vị tổng thống tương lai tại trường Arkansas Boys State khi họ đang ở tuổi teen. Cũng như Bill Clinton, Elrod có đôi mắt màu xanh lơ sáng long lanh và một nụ cười cởi mở nồng nhiệt truyền cảm lập tức. Cô làm việc lần đầu ở Nhà Trắng thời Clinton sau khi thực tập tại đó năm 1996, rồi trở thành một cộng tác viên chính trị của Đảng Dân chủ, sau đó nắm giữ các chức vụ cao hơn ở Capitol Hill [1]. Cô gia nhập đội vận động tranh cử tổng thống của Hillary Clinton với tư cách trợ lý truyền thông và sau đó đổi thành “Văn phòng liên lạc-nghị viện và vận động-cử tri” của Balderston vào tháng Ba. Được tin tưởng bởi những liên hệ chặt chẽ với mạng lưới Clinton, Elrod đã giúp Balderston hoàn tất bản danh sách đen.

Hàng tháng trời, họ đã tỉ mỉ cập nhật thông tin lên một chiếc bảng lớn bằng cả bức tường, với vô số các biểu tượng, chữ cái và mũi tên được mã hóa bằng màu sắc để theo dõi và cập nhật xem nghị sĩ nào có những hành động nghiêng về ủng hộ Hillary, và ai bị lôi kéo về phe Obama. Chẳng hạn, các chữ cái “LO” chỉ một nghị sĩ “nghiêng về Obama” [leaning Obama], còn chữ “BD” viết màu xanh lơ chỉ ra rằng đó là một thành viên thuộc Liên minh Blue Dog [2] trung dung ôn hòa trên Capitol Hill.

Một trong những công việc sau cùng của chiến dịch là ghi lại trong một tập tin Microsoft Excel tên và hoạt động của các thành viên Nghị viện. Họ cẩn thận ghi chú ai tán thành Hillary, ai hậu thuẫn Barack Obama, và ai đứng ngoài – đây là một quy trình tác nghiệp chuẩn mực của bất cứ một tổ chức chính trị chuyên nghiệp nào. “Chúng tôi muốn có một hồ sơ về những ai tán thành và ai chống đối,” một thành viên trong đội vận động bầu cử của Hillary nói, “để xem trong số những người ủng hộ chúng tôi, ai là người sẽ cùng đi tiếp, và ai dừng lại. Trong số những người không tán thành chúng tôi, ai có lý do để không ủng hộ chúng tôi chỉ vì họ là thành viên Nhóm Nghị sĩ da màu trong Hạ viện hoặc là nghị sĩ đại diện bang Illinois. Và tất nhiên, những kẻ đáng lẽ phải đi cùng Hillary nhưng đã quay lưng với bà và ủng hộ Obama.”

Đối với Hillary, thất bại này không phải là dấu chấm hết cho sự nghiệp chính trị của bà, và bảng dữ liệu đó rất cần thiết cho cuộc chiến chính trị hiện tại, đó là một loại sổ tay ân oán như các chính trị gia trước kia thường gọi. Có nghĩa là, khi gặp nghi vấn, bà và Bill sẽ có trong tay tất cả mọi thông tin cần thiết để mau chóng đưa ra quyết định – bao gồm tha bổng, giảm tội, và tăng nặng các nhân tố – sao cho bằng hữu được ban thưởng và kẻ thù thì bị trừng phạt.

Bảng dữ liệu là thành quả từ những hiểu biết sâu sắc của những người tham gia lập ra nó. Hết lòng trợ giúp nhà Clinton, Balderston và Elrod tận lực làm sổ tay ân oán. Họ ghi nhớ gần như từng mẩu trợ giúp mà nhà Clinton đã nhận và từng chân tơ kẽ tóc những gì chống lại họ. Gần như sau sáu năm, tất cả các trợ lý nhà Clinton vẫn có thể kể vanh vách thông tin về các đối thủ và ân nhân, về những gì họ từng làm, đặc biệt là có thể tường trình chính xác từng chi tiết, từng tội lỗi của những ai đã phản bội nhà Clinton – y như nó vừa xảy ra chỉ mấy tiếng trước. Việc lập bảng dữ liệu này bảo đảm rằng hành động của các tội đồ và các vị thánh đều không bao giờ bị lãng quên.

Có cả một khu vực đặc biệt của Clinton dành cho những người ủng hộ Obama hoặc đứng ngoài cuộc dù chính Bill và Hillary mang lại tiền bạc và địa vị chính trị cho họ, hoặc viết thư giới thiệu giúp con cái họ vào học tại một ngôi trường danh giá. Trong bản thảo ban đầu của danh sách đen, mỗi nghị sĩ thuộc Đảng Dân chủ được đánh giá bằng một con số mang giá trị từ 1 đến 7; những ai giúp Hillary nhiều nhất sẽ giành phần thưởng là số 1 và những người bội bạc nhất sẽ mang số 7. Dãy các số 7 gồm những thượng nghị sĩ John Kerry, Jay Rockefeller, Bob Casey và Patrick Leahy, cùng các hạ nghị sĩ Chris Van Hollen, Baron Hill và Rob Andrews.

Dù đã có đến số 7 nhưng có vẻ thế là chưa đủ để phân loại hết các kẻ phản bội nằm trong những liên minh nhất thời.

Claire McCaskill có lẽ sẽ phải chiếm chỗ gần với hỏa ngục nhất trong phán quyết của nhà Clinton. Bill và Hillary đã dọn sạch mọi trở ngại cho bà này chạy đua vào Thượng viện tại Missouri vào năm 2006, như đã làm với Obama. Nhưng dường như McCaskill đã quên ân huệ đó khi Tim Russert của đài NCB hỏi bà liệu Bill có phải là một tổng thống vĩ đại, trong chương trình Meet the Press (Gặp gỡ Báo giới) chống lại Thượng Nghị sĩ Jim Talent vào tháng Mười năm 2006. “Ông ta là một lãnh đạo vĩ đại,” Claire McCaskill nói về Bill, “nhưng tôi không muốn con gái mình đến gần ông ta.”

Ngay lập tức McCaskill đã phải hối hận về câu nói ấy; sự đau khổ đã khiến bà phải “khóc như mưa,” theo lời kể của một người bạn. Bà biết rằng, lời bình luận của mình nghe có vẻ như được cân nhắc kỹ, chứ không giống một sự lỡ mồm đáng được bỏ qua. Đã vậy, Hillary lập tức hủy bỏ việc gây quỹ đã lên kế hoạch từ trước cho McCaskill. Vài ngày sau, McCaskill đã gọi cho Bill và nói xin lỗi trong nước mắt. Bill tỏ ra độ lượng, chính điều ấy khiến McCaskill cảm thấy tệ hại hơn. Sau khi thắng cử, bà ta càng cảm thấy sợ hãi khi phải đối mặt với Hillary tại Capitol Hill. “Tôi thật sự không muốn đi cùng thang máy một mình với bà ấy” – McCaskill thổ lộ với bạn bè.

Nhưng Hillary lúc đó vừa mới bắt đầu chiến dịch vận động tranh cử tổng thống, vẫn cần có McCaskill, hay sự ủng hộ từ các cử tri Missouri. Các nhóm phụ nữ, gồm cả EMILY’s List [3], đã thuyết phục McCaskill “lên cùng con thuyền” với gia đình Clinton, và Hillary đã cố gây cảm tình riêng với người đồng nghiệp mới bằng một bữa trưa hai người tại Phòng ăn Thượng viện đầu năm 2007. Thay vì trực tiếp đề nghị McCaskill ủng hộ, Hillary tiếp cận một cách mềm mại hơn, đó là việc tìm kiếm nền tảng đấu tranh chung cho cuộc vận động tranh cử, kể cả chi phí hữu hình. “Có một khía cạnh rất nhân bản ở Hillary,” McCaskill nghĩ.

Trong khi đó, Obama cũng đang thuyết phục McCaskill bằng một loạt các cuộc đối thoại tại hành lang Nghị viện. Rõ ràng, Hillary nghĩ rằng mình đã có được McCaskill. Nhưng sự lựa chọn của McCaskill luôn luôn là ủng hộ Obama hoặc đứng ngoài cuộc. Tháng Một năm 2008, McCaskill không chỉ trở thành nữ thượng nghị sĩ đầu tiên ủng hộ Obama, mà còn gửi thông điệp đến nhóm của ông rằng sự hỗ trợ của bà ta có thể còn gấp bội nếu các Thống đốc Kathleen Sebelius và Janet Napolitano đồng thời lên tiếng ủng hộ ông. Ngay trước khi tuyên bố ủng hộ Obama, McCaskill gọi điện cho thư ký riêng của Hillary là Huma Abedin để làm rõ rằng đó không phải là một quyết định cố ý giấu giếm Hillary.

Nhưng trò đánh cược bộ ba [4] của những nữ lãnh đạo khi trao cho Obama sự hậu thuẫn công khai của họ lại là một cú đòn hủy diệt. Căm ghét vẫn là một từ khá nhẹ để miêu tả cảm giác mà những người trung thành nòng cốt của Hillary dành cho McCaskill, kẻ giờ đây đưa ra lời ủng hộ tươi rói cho Obama – đó là một vết dao cứa xót xa trong lòng Hillary từng ngày, suốt vòng đấu đầu tiên.

Nhiều cái tên khác thuộc phe đối thủ trong bản danh sách cũng tương đối dễ nhớ, từ Ted Kennedy [5] đến John Lewis [6], các nhân vật biểu tượng của phong trào dân quyền, mà sự đào ngũ của họ gây tổn thương đến mức Bill Clinton có vẻ không muốn nhắc đến họ. Trong các cuộc hội đàm riêng tư, ông cố lý giải những động cơ khiến Lewis quay thuyền giữa dòng, sau khi Obama bắt đầu cài được cái răng cá của líp xe lên những nhà làm luật da màu nhằm buộc họ chỉ được quay theo “chiều đúng của lịch sử”. Lewis, do vị thế riêng trong lịch sử Mỹ, đối diện với phép thử lòng trung thành độc nhất vô nhị khi trước mặt ông là một ứng viên da màu bằng xương bằng thịt đang chạy đua chức tổng thống, thật sự là một minh họa hoàn hảo cho việc các phụ tá của Hillary cần nắm bắt thêm thông tin chi tiết, chứ không chỉ chia các nhân vật thành hai phe tán thành và chống đối. Có lẽ đến một ngày nào đó, sự quay lưng của Lewis có thể sẽ được tha thứ.

Ted Kennedy (một con số 7 nữa trong sổ đen) lại là câu chuyện khác hẳn. Ông ta đả kích Hillary kịch liệt nhất, và tung ra một diễn văn then chốt ủng hộ Obama ngay trước vòng đầu của “Thứ Ba trọng đại”, loại bỏ bà như thể quăng đi tờ báo cũ của ngày hôm qua, và xem Obama là người thừa kế xứng đáng Lâu đài Camelot. Những gì ông ta làm rất ăn ý với một bài xã luận trên New York Times do chính Caroline Kennedy viết ra với giọng điệu ít “đao to búa lớn” hơn nhưng cũng cùng một nội dung. Bill Clinton đã nài xin Kennedy dừng lại, nhưng vô ích. Dù sao, các phụ tá nhà Clinton vẫn hả hê khi các kẻ thù vấp ngã. Nhiều năm sau, họ đã có thể pha trò cười với nhau về số phận những người mà họ cho là kẻ phản bội. “Bill Richardson bị điều tra; John Edwards dính bê bối; Chris Dodd thì bị hạ bệ” – người này nói với người kia. “Còn Ted Kennedy,” người trợ lý hạ giọng thành tiếng thì thầm bí hiểm cho nút thắt câu chuyện, “chết rồi.”

Suốt nhiều tháng trời, lúc cuộc vận động lên đến cao trào, Balderston và Elrod thu hẹp các bảng thành một danh sách nhỏ hơn chỉ gồm những nghị sĩ then chốt cần nhắm tới, đó là những người vẫn chưa đưa ra quyết định sau “Thứ Ba trọng đại.” Trong những tháng cuối cùng của cuộc vận động tranh cử, Hillary và nhóm phụ tá của mình đã dành rất nhiều nỗ lực nhằm lay chuyển các nhà lập pháp cá biệt này, đến mức khi bàn nhau xem ai là kẻ thọc mũi dao vào lưng bà và xoáy mạnh nó, tên của họ đã bật ngay ra trong đầu các trợ lý của Hillary.

Đối với Balderston, sự phản bội của Jim Moran, hạ nghị sĩ đến từ Alexandria, bang Virginia, có lẽ mang tính riêng tư nhất. Hai người là bạn thân ở Del Ray, vùng lân cận của Alexandria, cách trụ sở vận động bầu cử khoảng sáu dặm [7]. Họ thậm chí từng cùng tham gia một câu lạc bộ sách. Suốt nhiều tháng trời Balderston đã nhiều lần nài nỉ Moran ủng hộ. Moran giả bộ rụt rè. Ông ta tán dương Hillary nhưng chỉ hé lộ chút xíu hứa hẹn về việc ủng hộ. Tiếp đó, vào tháng Một năm 2008, Moran gửi tin nhắn miệng cho Balderston: Tôi hoàn toàn ủng hộ Hillary. Hiển nhiên, Balderston rất phấn khởi. Việc giành cảm tình của các cử tri không mấy tiến triển, nên việc thêm một cái tên mới vào cột ủng hộ Hillary rõ ràng là tin mừng. Nhưng niềm vui của Balderston đã chết yểu. “Cái gì thế này? Mẹ kiếp,” ông thốt lên khi đọc bài báo viết rằng Moran đã lên tiếng ủng hộ Obama chỉ hai tuần sau đó. Balderston gọi cho vị nghị sĩ, người bạn cố tri của mình, từ văn phòng vốn cũng gần nhau. “Đừng bao giờ gọi tôi nữa!” Balderston nói. Ông cũng thôi không lui tới câu lạc bộ sách.

Bill đặc biệt nổi giận vì trường hợp Lois Capps, vị nữ dân biểu của California. Ông từng hỗ trợ cho Walter, chồng của Capps trong cuộc vận động tranh cử, giúp ông này hạ đo ván một nữ nghị sĩ đương nhiệm vào năm 1996, và năm sau đó Bill Clinton đã tán dương Walter nhân dịp hoạt động kỷ niệm Hạ viện bằng cách gọi ông ta là người “quá hoàn hảo ở Hạ viện,” sau đó đã giúp Lois Capps giành được vị trí từng là của chồng mình trong một cuộc bầu cử đặc biệt. Laura, con gái của nhà Capps, còn được làm việc tại Nhà Trắng thời Clinton.

“Làm thế nào điều đó lại xảy ra?” Bill hỏi sau khi biết Lois Capps ủng hộ Obama hồi cuối tháng Tư.

“Ngài có biết là con gái họ kết hôn với Bill Burton không?” một phụ tá của Hillary đáp.

Burton làm việc cho Obama với tư cách là một phát ngôn viên cấp cao trong chiến dịch vận động tranh cử và có thể sẽ gia nhập đội ngũ nhân sự Nhà Trắng, dĩ nhiên điều này chẳng xoa dịu được chút nào nỗi thất vọng của vị cựu tổng thống. Bill và Hillary đã bị sốc vì bao nhiêu đảng viên Dân chủ bỏ rơi họ để gắn bó với cái nhãn hiệu mới mẻ của Barack Obama. Những tổn thương và xúc phạm vẫn chưa chấm dứt, mỗi cú đòn sau lại càng đau hơn cú trước, cứ thế việc đào ngũ xảy ra hết tháng này sang tháng khác. Suốt cả mùa xuân và mùa hè, chiến dịch vận động của nhà Clinton tiến đến những ngày cuối mà không có thêm được dù chỉ một người ủng hộ.

Điểm kết là đâu đó khi Hillary – trong một phòng họp yên ắng lặng lẽ ở trụ sở DNC [8] – yêu cầu các “siêu đại biểu” [9] hãy cho bà lời hứa của họ, chỉ riêng tư thôi, là họ sẽ ủng hộ bà khi bỏ phiếu tại hội nghị, dù họ không sẵn sàng mạo hiểm chính trị trong việc bộc lộ công khai trước khi bầu. Khác với các cử tri theo thông lệ vốn được bầu từ các vòng lựa chọn và các cuộc họp kín của Đảng toàn quốc, các “siêu đại biểu” – một nhóm những nghị sĩ, thống đốc bang, và những quan chức khác của Đảng Dân chủ – có quyền ủng hộ bất cứ ứng viên nào họ muốn. Nỗ lực lần cuối cùng, Hillary năn nỉ họ đừng ghi tên vào cột Obama, chỉ thế thôi. Bill cũng xông xáo tương tự, bằng những cuộc gọi và những lần xen ngang các vị nghị sĩ với lời nài nỉ: “Chỉ xin đừng ủng hộ Obama.”

Balderston và Elrod ghi chép lại tất cả về từng người một, cả điều tốt lẫn xấu về họ, lưu lại cho lịch sử – và cho Doug Band, một sĩ quan tùy tùng của cựu Tổng thống Bill Clinton, có dáng cao, đầu hói. Là một cựu sinh viên Đại học Florida, Band có một lòng trung thành mãnh liệt với vị cựu tổng thống, sánh ngang với bản năng của ông ta trong việc tích của và giữ gìn địa vị. Trong cái nhìn của những người thuộc thế giới của Clinton, suốt một thời gian dài Band “luôn luôn trông chừng cho Số Một.” Nhưng nếu điều ấy là đúng, thì Bill Clinton luôn ở bên cạnh Số Hai của mình. Ngay khi còn trẻ, Band đã phục vụ Nhà Trắng dưới thời Clinton, sau đó tiếp tục hỗ trợ tạo dựng và quản lý trang web từ thiện rộng lớn của Clinton.

Đối với các chính trị gia, nhà tài trợ, cũng như nhà báo, điều quan trọng nhất ở Band là việc ông ta đã trở thành người gác cửa cho Bill Clinton. Ít ai nghi ngờ về tầm nhìn chiến lược của Band trong việc lập ra một đế chế nhân ái hậu-tổng thống của Bill, cũng như về việc ông đánh giá Huma Abedin, trợ lý riêng hàng đầu của Hillary, là thuộc số bạn bè thân cận nhất của mình. Nhưng một số cộng sự thuộc Hillaryland [10] lại không thấy rõ ảnh hưởng của Band đối với vị cựu tổng thống. Ông ta cay nghiệt đến mức Maggie Williams, một nhân vật thuộc hàng thân cận nhất với Hillary, có lúc đã kể cho bạn bè rằng bà ta thôi làm việc ở Quỹ Clinton phần lớn là vì Band. Nhưng Band là người phụ trách cơ sở dữ liệu Clinton, một vai trò biến ông thành trọng tài phán xét khi nào thì các chính trị gia nhận được sự trợ giúp của gia đình Clinton và khi nào thì không.

“Trừng phạt không nhiều như ban thưởng, và tôi thật sự cho rằng đó chính là điểm mấu chốt,” một nguồn tin quen thuộc với lối nghĩ của Bill cho biết. “Hiếm khi nói ‘chúng tôi sẽ giúp anh,’ mà thường hay nói ‘chúng ta đang giúp bạn bè của mình.’ Tôi thật sự nghĩ đó là điểm tinh tế cơ bản trong đầu Bill Clinton. Bà ấy thiếu cân nhắc, nhưng ông ấy thì có.”

Năm 2012, khi đang ăn tối với vài người bạn tại quán Cafe Milano ở Georgetown, Bill Clinton hồi tưởng lại điều ông xem là một “đòn trừng phạt” nặng nề nhất từ Jason Altmire, một hạ nghị sĩ trẻ, người từng được nhà Clinton nâng đỡ từ lúc mới khởi đầu sự nghiệp. “Nếu trong chính trị anh không có lòng trung thành,” cựu tổng thống nói, “thì có cái gì nữa đây?”

Nếu có một gã trai nào đó làm hình minh họa trên tờ quảng cáo cho sự phản-bội-và-trả thù, thì đó chính là Altmire, một cựu cầu thủ bóng đá cao to của trường Đại học bang Florida, từng giành được chiếc ghế của mình tại Hạ viện tây Pennsylvania vào giữa thời Đảng Dân chủ thắng cử như chẻ tre năm 2006. Trong suốt sáu năm, Altmire đã làm trợ lý Hạ viện, một phận sự nổi bật nhờ được chọn vào nhóm cải cách chăm sóc y tế của Hillary năm 1993. Đó là công việc đáng kể duy nhất mà ông ta từng làm tại Washington trước khi thắng cử, và ông ta cũng biết rõ đây là bệ phóng quan trọng trong sự nghiệp của mình. Ông ta là một mục tiêu hàng đầu mà Hillary nhắm đến nhằm thu được cảm tình của các “siêu đại biểu” vào mùa xuân năm 2008.

Hạ mình nhún nhường, Hillary đã gặp gỡ nhiều “siêu đại biểu” này trong các cuộc họp mặt tay đôi lần lượt với từng người tại phòng họp tầng hai của tòa nhà trên Capitol Hill, nơi làm trụ sở của cả DNC và Ủy ban Vận động Tranh cử Nghị viện của Đảng Dân chủ (DCCC). Khi Hillary muốn tránh mặt “những tay săn ảnh tò mò,” bà thường tổ chức các cuộc gặp mặt ở gần Khách sạn Phoenix Park. Nhưng Hillary không chỉ né tránh báo giới ở DCCC. Cánh vận động của Đảng Dân chủ tại Hạ viện bị kiểm soát bởi Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi, về mặt kỹ thuật là một quyền lực trung lập, chuyên nghe lén việc riêng tư, đã khiến các hạ nghị sĩ nòng cốt đã chạy sang phe Obama từ cuối tháng Một và đầu tháng Hai. Brian Wolf, một người gốc Arkansas và là Giám đốc điều hành DCCC, đã phối hợp với Balderston và Elrod nhằm lôi kéo các nhà lập pháp trong tòa nhà này đến các cuộc gặp với Hillary và cũng cố làm dịu bầu không khí. Ít nhất có một lần, lúc sự căng thẳng giữa Hillary Clinton và Nancy Pelosi lên quá cao, các trợ lý của họ đã phải cố tách hai người phụ nữ này ra để họ không đụng mặt nhau. “Suýt nữa là rắc rối to,” một nguồn tin cho hay. Một số bạn bè của Pelosi tiết lộ rằng bà ta thù địch với mọi nỗ lực của Hillary, một phần do ghen tỵ, phần khác do mong muốn gõ cửa vào ngôi nhà Obama. “Tôi nghĩ sự ủng hộ này được tính toán rất kỹ,” một người bạn của cả hai nữ chính khách này cho biết. “Hiển nhiên, việc làm cách nào nắm chặt toàn bộ các phiếu mới của cử tri là quan trọng đối với vị nữ Chủ tịch Hạ viện, và đó là chính trị.”

Cả DCCC và Khách sạn Phoenix Park, đều chỉ cách Capitol Hill vài bước chân, được lựa chọn cốt sao cho các “siêu đại biểu” đầy quyền năng khó mà tránh gặp Hillary bằng cách viện cớ rằng họ không có thời gian. Người ta kháo nhau rằng một cựu đệ nhất phu nhân, thượng nghị sĩ của New York, và người đang chạy đua sát nút chức tổng thống, từng than phiền là các nghị sĩ tránh mặt bà. Người ta cũng kể với nhau rằng áp lực nặng nề của Hillary lên các “siêu đại biểu” – nhất là với những người như Jason Altmire, vốn khó lọt vào danh sách quyền lực Washington – khiến họ không dám đi lại đàng hoàng cho tới sau ngày “Thứ Ba trọng đại” vào tháng Hai. Hillary mong khi đó cái tên được đề xướng sẽ là tên mình, và dù tình hình ra sao, bà vẫn chán ghét việc phải cầu cạnh lá phiếu và tiền bạc của những nhà lập pháp và nhà tài trợ. Bà thích làm một người độ lượng hào phóng ban phát ân huệ hơn là đi lượm lặt chúng.

Hillary đã đánh mất Altmire từ lâu trước khi nhận ra rằng phải giành lấy ông ta. Trong khi mãi đến mùa xuân năm 2008 bà mới có thể kết nối với các cử tri đoàn, thì Obama đã tiếp cận Altmire lần đầu vào mùa hè năm 2007. Đến tháng Mười năm đó, vị hạ nghị sĩ trẻ tuổi của tiểu bang Pennsylvania cùng với Dân biểu Patrick Murphy đã được mời dự buổi diễn thuyết của Michelle Obama tại Philadelphia. Sau bài diễn văn, hai vị nghị sĩ đã dành thêm hơn một giờ phía sau sân khấu để trò chuyện với đệ nhất phu nhân tương lai, lúc đó đang ngồi trên một chiếc ghế dài uống nước và giải thích về chiến lược của chồng bà nhằm đánh đổ sức mạnh ghê gớm của Clinton. Dù tụt rất xa sau Hillary trong đợt bầu cử phổ thông trên toàn quốc, nhưng Obama lại giành thắng lợi tại Iowa và New Hampshire, khiến cuộc đua trở thành tay ba, với cả nhà Clinton và John Edwards. Edwards đã sớm rời cuộc đua ngay sau đó. “Khi cuộc đua chuyển sang giai đoạn tay đôi, chính là lúc Barack tỏa sáng,” Michelle nói với hai nghị sĩ trẻ của Đảng Dân chủ. “Bà ấy sẽ không biết điều gì đã đánh đổ mình đâu.”

Bốn năm sau, Altmire vẫn còn ấn tượng với bài thuyết trình của Michelle Obama. “Bà ấy nhận định đúng điều gì sắp diễn ra,” ông ta nói. “Bà ấy nói sai về New Hampshire, nhưng nói được chính xác điều gì sắp đến.” Murphy, bạn thân của Altmire, đã ủng hộ Barack Obama, bằng cách gắn bó với vị tổng thống tương lai vào thời điểm triển vọng thắng cử của ông ta khá ảm đạm. Altmire, theo lời đồn thì khi đó cũng đã sẵn sàng gia nhập, nhưng lại cố trì hoãn – ông ta muốn chắc ăn. Obama cũng đưa ra yêu cầu lần nữa ngay trên hành lang Hạ viện trong dịp Tổng thống George W. Bush đọc Thông điệp Liên bang năm 2008. Ông hỏi Altmire đã “sẵn sàng vượt qua ranh giới do dự hay chưa,” và sau đó cứ khoảng sáu tuần một lần Obama lại liên lạc để xem đã có câu trả lời ủng hộ hay chưa.

Cuối cùng, đến ngày 29 tháng Hai năm 2008, Hillary mới vươn tay tới Altmire. Bà gọi điện đến nhà ông ta và để lại một lời nhắn. “Động lực đang ở phía chúng tôi,” bà nói, ám chỉ các vòng đầu ở Texas và Ohio sẽ được tiến hành vào thứ Ba tới. Dưới góc độ quan hệ công chúng, đó là cuộc thi buộc phải giành phần thắng. Nếu không chiến thắng trong vòng bỏ phiếu phổ thông ở một trong hai bang đó, chiến dịch vận động của bà xem như hết hy vọng. Việc kiểm đếm cử tri lại là vấn đề khác, bởi lẽ công chúng và thậm chí nhiều phóng viên chính trị giàu kinh nghiệm cũng không thật sự hiểu việc đó quan trọng đến mức nào. Dù thắng hay thua tại các bang này, Hillary vẫn không thể đuổi kịp Obama trong cuộc đua giành sự ủng hộ từ các cử tri đoàn toàn quốc, nếu thiếu một luồng gió siêu đại biểu thổi mạnh theo hướng bà mong đợi. Nhưng bà vẫn chưa sẵn sàng lôi kéo họ vào hàng ngũ của bà, và Bill cũng vậy.

Altmire nhận được cú điện thoại từ một trợ lý của Bill sáng ngày 4 tháng Ba, ngày diễn ra bầu cử tại Ohio và Texas. Ông ta được khuyên hãy ủng hộ cựu tổng thống. Nhưng Bill không trực tiếp cầm máy. Các cuộc đấu đã đến quá gần nên khó có thể gọi điện. Sau khi đã rõ ràng là Hillary sẽ giành được phiếu phổ thông tại cả hai bang, Altmire nhận được cú điện thoại thứ hai. Lần này thì chính Bill lên tiếng.

“Ông ấy cầm điện thoại. Ông ấy đang bay bổng, có thể nhận thấy điều đó trong giọng ông ta,” Altmire nhớ lại.

“Chúng tôi thật sự cần anh,” Bill nói với Altmire.

Nhưng Altmire lo rằng Hillary có lẽ sẽ không thuyết phục được các cử tri bảo thủ tại quận Pennsylvania của ông. Bill phản bác, viện dẫn đến những khoảnh khắc chiến thắng của chính ông tại quận này vào các năm 1992 và 1996. Ông biết rất rõ các cử tri ở đó chẳng thua gì Altmire. Bill lập luận, Hillary từng là đệ nhất phu nhân cấp quốc gia mà khắp miền Arkansas bảo thủ quê mùa ai ai cũng biết, đã hai lần giành ghế thượng nghị sĩ, một phần do bà đã làm được tốt hơn cả kỳ vọng ngay tại ngoại ô New York bảo thủ. Khi gọi điện nhắc nhở một cảm tình viên cũ, vị cựu tổng thống cũng cảm ơn Altmire về những đóng góp của ông trong nhóm công tác cải cách y tế năm 1993. Do đã chuyển sang ủng hộ Obama, Altmire bèn nói với Clinton rằng, ông không thích hệ thống siêu đại biểu hoặc ý nghĩ cho rằng lá phiếu của ông có sức nặng hơn những lá phiếu của mỗi cử tri của ông. Ông không có ý định ủng hộ bất kỳ ai, ông đã nói thế với cựu tổng thống.

Nhưng Clinton không dễ dàng bỏ cuộc. Altmire là một trong số gần một tá siêu đại biểu Đảng Dân chủ được mời dự bữa tiệc cocktail ngày 12 tháng Ba, tại nhà riêng trị giá hàng triệu đô-la của gia đình Clinton ở Washington, một nơi ẩn mình giữa các tòa đại sứ ngoại quốc và ngay gần dinh thự rộng rãi của vị phó tổng thống. Tại bữa tiệc, Altmire đã hỏi Hillary một câu lịch sự đơn giản: Bà đang tụt lại. Liệu bà có con đường nào để giành chiến thắng hay không? “Tất cả các quý vị đều là những siêu đại biểu,” bà nói với cả nhóm, “và các siêu đại biểu phải nhắm đến và đưa ra quyết định để có thể đảo ngược những gì các cử tri đã quyết định.” Điều này không tác động gì nhiều tới Altmire; cũng chẳng có vẻ lay chuyển được số đông các đồng nghiệp của ông ta.

Vào ngày Thánh Patrick, Obama đã đi thăm một trường cao đẳng cộng đồng tại quận của Altmire và mời vị nghị sĩ này cùng tham gia. Giống như một tân binh đội bóng đá trường Đại học Phân ban I, Altmire được cấp cho một ô cửa sổ để thò đầu vào ké cẩm đám cử tọa lạnh nhạt. Ngồi cạnh David Axelrod, Altmire quan sát Obama diễn thuyết, tổ chức họp báo, và trả lời phỏng vấn với Gwen Ifill của hãng thông tấn truyền hình PBS.

Sau đó ông ta leo lên chiếc xe SUV của vị thượng nghị sĩ và phóng đến Sân bay quốc tế Pittsburg. Tránh để con voi đầu đàn [11] chắn ngang giữa họ, Obama và Altmire kể cho nhau về những đứa con gái của họ, đều trạc tuổi nhau. Khi đến sân bay, Obama ra hiệu cho đội an ninh của mình ra khỏi xe, để lại hai chính trị gia ngồi riêng với nhau trong chiếc SUV.

“Tôi sẽ chiến thắng trong cuộc bầu cử này,” Obama quả quyết. “Tôi sẽ trở thành tổng thống của ông, và tôi muốn ông về đội chúng tôi… Ông không phải cam kết gì ngay bây giờ, nhưng tôi muốn có sự hỗ trợ của ông.”

Altmire nói ông ta đang ở một vị thế rất khó khăn, vì phe Clinton gần như sẽ chiến thắng với đa số phiếu tại quận của ông ta. Obama nhắc lại sự tin tưởng của mình cũng như mong muốn có Altmire về phe với mình, rồi ra hiệu cho sĩ quan đặc vụ mở cửa xe để ông ra máy bay.

Nhưng Altmire còn có điều muốn nói. Ông ta muốn Obama biết rằng ông và nhà Clinton đã gắn bó với nhau, và buột miệng thốt ra lời chúc tốt đẹp cho bài phát biểu sắp tới của Obama về vấn đề chủng tộc tại Philadelphia. “Này, Thượng Nghị sĩ, tôi biết ngày mai sẽ rất quan trọng với ngài. Chúc may mắn” – Altmire nói.

Obama quay về phía viên sĩ quan đặc vụ và ra hiệu đóng lại cửa. Ông nghiêng người về phía Altmire với cái nhìn quả quyết, nhíu mày, nheo mắt “Chúng tôi sẽ ổn thôi,” ông nói. “Người ta đã bảo tôi rằng tôi sẽ không thể nào đánh bại Hillary Clinton, và tôi đang đánh bại cả hai Clinton… Chỉ còn một rào cản nữa thôi. Đừng lo lắng cho tôi. Tôi sẽ ổn.”

Sự khác biệt giữa hai cách vận động như một cú sốc kỳ lạ đối với Altmire: trong khi Hillary cố nài nỉ ông giúp đỡ, Obama lại khác hẳn. Khi nghe Obama diễn thuyết về vấn đề chủng tộc ngày hôm sau, Altmire lần đầu tiên chợt nghĩ, “Gã này thật đặc biệt. Gã có những điểm khác mọi người.” Chính Obama, chứ không phải Clinton, là người mà ông sẽ tán thành nếu bị dồn đến chân tường. Dù chưa tiết lộ với bất kỳ ai, Altmire đã quyết định trong đầu – ông mong muốn Obama chiến thắng. Ông cảm thấy mình đang thật sự bày tỏ thiện chí với Hillary bằng cách luôn giữ kín suy nghĩ của mình. Trong Hillaryland, ông có thể lập tức bị xem là một kẻ cơ hội, bởi lẽ ông đã từ chối quá nhiều lần gặp mặt với nhà Clinton, rồi sau đó hóa ra là một kẻ phản bội dứt khoát.

Tháng Tư, Altmire lại nhận được lời nhắn là Bill muốn nói chuyện lại với ông ta. Vị nghị sĩ nói với đội của Hillary rằng, hai người có thể vừa đi vừa trò chuyện trong khoảng một tiếng, cuộc đi dạo mà sau này các trợ lý của Hillary nhớ lại giống như một quả mận thơm ngon nhưng họ lại tặng cho một nghị sĩ vô ơn bạc nghĩa. Altmire được cựu tổng thống biệt đãi cả trên sân khấu lẫn sau cánh gà. Bill ca ngợi ông ta trong diễn từ của mình, tiếp đó đặt tay lên vai vị nghị sĩ và thì thầm vào tai ông ta, những cử chỉ Clinton kinh điển để truyền tải sự thân mật với đối tác. Khi cuộc gặp mặt kết thúc, Altmire chui vào xe. Bill đi theo, đưa điện thoại sát vào tai mình, thể hiện rõ là mình đang nói chuyện với Hillary. Trong chiếc SUV, Altmire trình bày với cựu tổng thống một bài thuyết lý dài dòng rằng giờ đây mình đã rất ác cảm đối với vai trò các siêu đại biểu.

“Tôi nghĩ cả anh và tôi đều biết rõ rằng Hillary đang giành chiến thắng tại quận của anh, và anh nên giúp đỡ người dân ở quận bằng cách ủng hộ Hillary,” Clinton nói.

Nếu có ai biết phải nắm lấy gì để thành tổng thống, thì đó chính là Bill Clinton, và nhà Clinton cho rằng Obama vẫn chưa sẵn sàng để trở thành tổng thống. Điều này đã thu hút sự chú ý của Altmire. Bill nói thế là có ý gì? Ông ta đang muốn nói về điều gì?

“Tại sao ngài lại nghĩ rằng Thượng Nghị sĩ Obama chưa đủ tố chất để làm tổng thống?” Altmire hỏi.

Clinton ngước lên, “Tôi không nói rằng ông ta chưa đủ tố chất,” ông giải thích. “Tôi không muốn nói điều ấy, nhưng khi tôi từng là tổng thống, nhìn lại thì tôi đã mắc một số sai lầm ban đầu do thiếu kinh nghiệm. Tôi đã không chuẩn bị để làm tổng thống giống như tôi ước muốn thành tổng thống. Anh chàng này còn xa mới sẵn sàng làm tổng thống cũng giống như tôi vào năm 1993.” Sau đó giọng Clinton bỗng chua chát khi nói rằng “mấy tay bạn thân ở giới truyền thông” của Obama sẽ chỉ biết ‘che đậy cái đó bằng mọi cách’ một khi chàng ta mắc sai lầm.”

Khi phiếu được kiểm đến ngày 22 tháng Tư, Hillary đã giành được 10 điểm tại Pennsylvania và 31 điểm tại quận của Altmire. Kết quả này càng đè nặng lên Altmire, người lâu nay từng luôn luôn tuyên bố mình không thích việc lật ngược ý chí của các cử tri mà chính mình đại diện. Giờ đây, khi được lên tiếng, cử tri của ông đã hô to, “Hillary!” Các cử tri từng là tấm khiên che tiện lợi giúp Altmire khỏi phải đưa ra một quyết định, thì nay lại trở thành mũi giáo nhọn của Hillary.

Một thông tin sai gây ra thất bại không tránh khỏi, thậm chí đau đớn. Thông qua một hệ thống thông tin tổng hợp, các trợ lý của Hillary nhận được thông điệp sai lầm rằng Altmire đã sẵn sàng ủng hộ bà. Họ mời ông ta gặp bà vào buổi sáng một tuần sau đó tại trụ sở của DNC tại Washington. Bà Clinton, rã rời sau cuộc marathon sáu tuần lễ cho chiến dịch ở Pennsylvania, thức dậy sớm để tiếp Altmire lúc 8 giờ. Cà phê và bánh ngọt đã thành tấm vé tiêu chuẩn trong phòng họp nhỏ mà Hillary dùng để tranh thủ các siêu đại biểu. Có một chiếc bàn trong phòng, nhưng hai chiếc ghế dựa thì được kê sao cho Hillary ngồi mặt đối mặt gần vị khách của mình, và không gì ngăn trở cuộc trò chuyện giữa họ. Bà đã nói trước với các cộng sự rằng việc cầu cạnh phiếu bầu của các siêu đại biểu là không xứng đáng với bà, càng không xứng đáng với những gì mà nhà Clinton đã làm, hay những gì họ vẫn quen trong hành xử giữa các chính trị gia ngang hàng. Nhưng giờ đây bà không có những lựa chọn khác. Bà đang phấn khởi vì tưởng đã giành được sự ủng hộ của Altmire, còn Altmire biết rằng bà sẽ không có được điều đó; họ cùng nhìn nhau thăm dò.

Hillary bắt đầu nói. Tổng thống Clinton đã rất vui khi gặp Altmire, và bà cũng rất mừng khi giành điểm tại quận của ông ta. Giờ đây, chẳng có gì cản trở Altmire ủng hộ bà, giống như những đảng viên Dân chủ tại quận của ông ta đã làm. Altmire nói rằng ông ta rất ấn tượng với những gì mà bà đã đạt được. Nhanh chóng bỏ qua sự khách sáo vòng vo, Clinton dồn ông ta ra quyết định với tư cách một siêu đại biểu. Altmire lại tiếp tục điệp khúc quen thuộc, giải thích dài dòng vì sao ông ta không thích hệ thống siêu đại biểu đó.

Lần đầu tiên Hillary hiểu ra rằng ông ta sẽ không ủng hộ mình trong bất kỳ tình huống nào. Bà đã hết kiên nhẫn. Không để ông ta nói hết, bà đứng dậy, đưa tay ra bắt tay ông ta và cảm ơn vì ông ta đã dành thời gian cho mình. Tính cả những cử chỉ, lời lẽ lịch sự, thời gian trao đổi, tất cả chỉ diễn ra trong chừng bảy phút. Với Hillary, đó là bảy phút quá dài.

Khi Altmire vừa đi khỏi, bà trách mắng những cộng sự của mình. “Chết tiệt. Phí thời giờ quá!” bà nổi đóa, giọng đầy căm phẫn và thất vọng. “Tôi đã tưởng như các vị nói, rằng ông ta vẫn ủng hộ tôi.”

Sau đó, bà xin lỗi vì đã nóng giận, nhưng sự tức giận đó là thật và rất sâu sắc. Cuộc gặp Altmire đã để lại vết thương cho Hillary và các trợ lý của bà cho đến nhiều năm sau. Họ cảm thấy ông ta chỉ tận dụng vị thế siêu đại biểu đáng giá của mình, đánh đổi ân huệ dành cho mình chỉ để tiếp cận vị cựu tổng thống và đệ nhất phu nhân. Đội Clinton hy vọng rằng đã đến lúc ông ta nên thôi diễn cái trò cợt nhả ấy và từ bỏ hẳn nó.

“Nơi thiêu đốt nhất trong địa ngục sẽ dành cho những kẻ nào tuyên bố trung lập trong những lúc bất ổn. Ông ta là một trong số đó,” một cố vấn nhớ lại. “Thà là một gã kiểu này đến thẳng trước mặt tôi và nói rằng, ‘Tôi không ủng hộ bà ta. Mẹ kiếp.’”

Hôm trước Lễ Tạ ơn năm 2008, sau khi Bill và Hillary vận động tranh cử cho Obama thành công, Altmire bước lại gần cựu tổng thống tại quầy tiếp khách VIP phía trước mặt một người gây quỹ cho Thị trưởng Luke Ravenstahl của Pittsburgh. Bill tỏ ra thân thiện, nhưng lạnh nhạt và chỉ ít phút sau thành băng giá. Phát biểu trên diễn đàn Omni William Penn của Steel City chứa hơn 400 người, Bill đã biểu dương sự ủng hộ nhiệt tâm của Ravenstahl và một chính trị gia địa phương khác là Dan Onorato, cả hai đều từng hậu thuẫn Hillary trong vòng đầu của cuộc vận động tranh cử.

Khi thoáng trông thấy Altmire tại bàn đầu, ông nhìn vị nghị sĩ với ánh mắt coi ông ta như đã chết rồi và dõng dạc tuyên bố, “Và tôi sẽ không bao giờ quên những ai đã ủng hộ Hillary.”

Hơn một năm sau, tại đám tang của Nghị sĩ John P. Murtha huyền thoại vùng tây Pennsylvania, Bill cũng chỉ chào hỏi Altmire một cách khách sáo. Clinton cuối cùng đã nắm được cơ hội để hành động nhiều hơn là chỉ quay lưng lạnh nhạt với Altmire hay phớt lờ ông ta như lần trước mặt người gây quỹ. Altmire sẽ phải trả món nợ trung lập vào gần bốn năm sau, trong vòng đầu cuộc bầu cử của Đảng Dân chủ tại Pennsylvania năm 2012.

Trong thời gian Hillary Clinton công tác tại Bộ Ngoại giao, Bill đã sử dụng ảnh hưởng, khả năng gây quỹ và tài thuyết phục của mình để hướng mọi người đến với mạng lưới chính trị của gia đình ông. Ông giúp đỡ gần như bất kỳ bạn bè nào của ông hay của Hillary khi họ cần trợ giúp chống lại một phụ tá nào đó của Obama – và thậm chí trừng phạt ai đó cố ý trung lập trong khi nhà Clinton cho rằng họ phải trả nợ bằng lòng trung thành. Là những người xây dựng Đảng Dân chủ trong suốt một thời gian dài, vợ chồng Clinton nói chung không ủng hộ đảng viên Cộng hòa chống lại đảng viên Dân chủ – mặc dù, ít ra trong một trường hợp, các nỗ lực của Bill có giúp cho một đảng viên Cộng hòa (GOP [12]) có được chiến thắng. Nhưng điều đó không gây trở ngại gì cho giới chóp bu. Thông điệp của vợ chồng Clinton gửi tới các đảng viên Đảng Dân chủ rất rõ ràng: Tốt nhất hãy đi với chúng tôi, đừng chống lại chúng tôi. Hơn bốn năm trời, Bill đã chắt lọc được một số thành công nổi trội trong những cuộc đấu đọ sức của một đảng viên Dân chủ chống lại những đảng viên khác. Chúng vừa thiết thực, vừa mang tính trừng phạt: mỗi thắng lợi của một người trung thành với Clinton đều bảo đảm rằng Hillary sẽ có một đội ngũ hùng mạnh hơn cho cuộc chiến một khi bà trở lại. Và chính sách trả thù kiểu Mossad, “tóm-bạn-khi-bạn-không-ngờ-nhất,” đã làm nản lòng những chính trị gia muốn cản đường bà trong tương lai. “Họ trở nên trung thành,” một trợ lý Clinton lý giải. “Họ quen với sự trung thành.”

Sẽ là bất cẩn về mặt chính trị nếu nhà Clinton không giám sát kỹ bạn bè và kẻ thù của mình. Các chính trị gia ở khắp nơi đều làm việc ấy. Cái khác là ở chỗ vợ chồng Clinton, do danh tiếng và các cương vị họ từng nắm giữ, duy trì được khả năng ban thưởng và trừng phạt nhiều hơn bất kỳ ai khác trong nền chính trị hiện đại. Và trong khi các trợ tá của họ có được trí nhớ rất dai và chi tiết, thì việc rút ra một danh sách những kẻ tráo trở từ trong tệp danh sách mỏng về các nhân vật chính trị mà họ tương tác là việc chẳng khó gì. “Tất nhiên, tôi không gọi đó là bản danh sách kẻ thù,” nguồn tin thân cận với gia đình Clinton cho hay. “Tôi không muốn làm bà ấy mang tiếng là một Nixon mặc váy.”

Một cố vấn lâu năm khác của Hillary cũng tế nhị thanh minh tiếng đồn dai dẳng về bản danh sách ấy. “Tôi tin chắc Doug có vài ghi nhớ chết tiệt trong cái BlackBerry [13] của ông ta, cũng như những người khác trong chúng ta thôi,” vị cố vấn này nói, “nhưng cho rằng nó được cập nhật, lan truyền, phổ biến, và phải lệ thuộc vào đó, thì thật ngớ ngẩn.”

Vào mùa hè năm 2008, Hillary Clinton vẫn chưa biết liệu có hay không và bao giờ thì bà sẽ lại tranh cử tổng thống. Nhưng bà đã biết rõ ai đứng về phía mình và ai thì không, từng cái tên một.

❀ ❀ ❀

[1] Capitol Hill là một khu vực thuộc Washington, DC. Địa điểm này thường được dùng để chỉ Nghị viện Hoa Kỳ, do cả Thượng viện và Hạ viện đều đặt trụ sở tại Điện Capitol, Capitol Hill, Washington, D.C. (BT)

[2] Nguyên văn: ‘Blue Dog Coalition’. Đây là một nhóm những nghị sĩ thuộc Đảng Dân chủ, tự nhận mình thuộc phe ôn hòa, bảo thủ. (BT)

[3] Một tổ chức chuyên quyên góp tiền và vận động giúp đỡ cho các phụ nữ trong Đảng Cộng hòa. (ND)

[4] Nguyên văn: ‘trifecta’. Trong cá độ, đặc biệt trong môn đua ngựa, từ này chỉ việc chọn ra ba con về đầu. (BT)

[5] Edward Moore “Ted” Kennedy (1932-2009): thượng nghị sĩ Mỹ của tiểu bang Massachusetts, đảng viên Đảng Dân chủ. Được bầu vào Thượng viện lần đầu vào tháng 11 năm 1962 và tổng cộng chín lần, làm việc trong Thượng viện được 46 năm. Tại thời điểm ông mất, ông là thành viên kỳ cựu thứ nhì của Thượng viện và cũng là thượng nghị sĩ phục vụ thời gian dài thứ ba trong lịch sử Hoa Kỳ. Ông là con của Joseph P. Kennedy, là em trai của tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ John F. Kennedy. (BT)

[6] John Lewis là một chính trị gia Georgia người da màu thuộc Đảng Dân chủ, ông là lãnh tụ phong trào dân quyền Mỹ-Phi duy nhất còn sống. (BT)

[7] 1 dặm (1 miles) = 1,609 km.

[8] Democratic National Committee - Ủy ban Quốc gia Đảng Dân chủ. (ND)

[9] Nguyên văn: ‘Superdelegates’, là những đại biểu đến dự một đại hội chọn ứng viên tổng thống tại Hoa Kỳ, họ không bị pháp luật ràng buộc phải bỏ phiếu cho ai sau các cuộc bầu cử tổng thống sơ bộ. Siêu đại biểu thường là các viên chức dân cử và các viên chức đảng hiện tại cũng như cựu viên chức dân cử và các cựu viên chức đảng. Đôi khi siêu đại biểu còn chỉ đại biểu “tự do” (unpledged delegates) nhưng cũng có một số đại biểu “tự do” không phải là siêu đại biểu. Ngoài ra, cũng có các viên chức dân cử và viên chức đảng là các đại biểu bị ràng buộc phải bỏ phiếu cho ai (pledged delegates). (BT)

[10] Nguyên văn: ‘Hillaryland’, tên tự gọi của một nhóm những cố vấn chính của Hillary Rodham Clinton từ khi bà là đệ nhất phu nhân và khi trở thành thượng nghị sĩ Hoa Kỳ. Nhóm này có các thành viên cốt lõi là: Huma Abedin, Patti Solis Doyle, Mandy Grunwald, Neel Lattimore, Ann Lewis, Evelyn Lieberman, Tamera Luzzatto, Capricia Marshall, Cheryl Mills, Minyon Moore, Lissa Muscatine, Neera Tanden, Melanne Verveer, và Maggie Williams. (BT)

[11] Biểu tượng của Đảng Cộng hòa. (ND)

[12] GOP: Grand Old Party, hay Đảng Cộng hòa. (ND)

[13] Tên một loại điện thoại được tin dùng nhờ tính bảo mật cao trong một số cơ quan chính phủ Mỹ. (ND)

LLARY CLINTON: BÍ MẬT QUỐC GIA VÀ SỰ HỒI SINH ebook©MotSAch TVE-4u©nguyenthanh-cuibap —★— Nhà xuất bản: NXB Thanh Niên
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.