Khi Hillary Clinton lần đầu gặp lãnh đạo phe đối lập Libya Mahmoud Jibril ở một căn phòng áp mái sang trọng trong một tòa nhà tại Westin Paris vào ngày 14 tháng Ba năm 2011, như một phần trong chiến dịch xây dựng liên minh chống Gaddafi, Chris Stevens là một trong số ít các quan chức Mỹ có mặt trong phòng. Stevens có ấn tượng mạnh về bài diễn văn của Jibril hôm đó – mang tầm nhìn về một Lybia thời hậu Gaddafi – và ông muốn Hillary truyền đạt điều này tới Tổng thống Obama.
Là một nhà thực hành kiểu mẫu trong hoạt động ngoại giao theo hướng viễn chinh mà Hillary cho là nhân tố quan trọng để cải thiện vị thế của Mỹ ở nước ngoài, đặc biệt là tại thế giới Ả-rập và Hồi giáo, Stevens nổi bật trong lớp huấn luyện đối ngoại những năm trước. Thành thạo tiếng Ả-rập và tiếng Pháp, ông đã dành phần lớn sự nghiệp 20 năm của mình làm một quan chức chính trị tại các thủ đô ở Trung Đông và Bắc Phi, gồm Jerusalem, Damascus, Riyadh, và tại thành phố Tripoli – ông giữ vai trò tham tán và công sứ trong khoảng hai năm rưỡi ở mỗi nơi cho đến năm 2009. Trong chuyến công tác đầu tiên ở Libya, ông đã gửi về Washington những báo cáo đánh giá thẳng thắn về tính lập dị của Gaddafi. Trong đó ông nhận xét người hùng Libya này “thường tránh nhìn thẳng vào mắt suốt phần đầu của cuộc gặp, và có thể giữ im lặng kéo dài rất khó chịu.”
Sự kết hợp giữa hiểu biết về khu vực, tinh thần phục vụ tận tụy cho quan điểm ngoại giao xem trọng sự tham gia tại chỗ của các tổ chức cộng đồng và dân sự, cùng với niềm tin vào tầm nhìn của Jibril về Libya đã giúp Stevens đương nhiên trở thành người liên lạc giữa Mỹ với phe đối lập Libya, chỉ vài tuần sau khi liên quân bắt đầu tấn công lực lượng Gaddafi.
Ngày 5 tháng Tư năm 2011, Stevens đến Benghazi, thành lũy của lực lượng nổi dậy, trên một tàu hàng của Hy Lạp. Chuyến đi được ông mô tả là một nhiệm vụ “ra ngoài và gặp càng nhiều thành viên ban lãnh đạo trong Hội đồng chuyển tiếp quốc gia càng tốt.”
Cách tiếp cận của Hillary với các khu vực xung đột – như được nêu trong QDDR và được thể hiện qua hoạt động của Bộ Ngoại giao với Lầu Năm góc ở Afghanistan, Pakistan và Iraq – đó là thúc đẩy sự phối hợp giữa các cơ quan chính phủ, tạo điều kiện để các nhà ngoại giao đặt chân tới những nơi nguy hiểm nhất trên thế giới. Còn rủi ro, theo bà, là cần thiết để bảo vệ và thúc đẩy lợi ích của nước Mỹ. Ban hành chỉ vài tháng trước khi Stevens tới Benghazi, QDDR trước hết lưu ý rằng “việc mở rộng sức mạnh viễn chinh của Mỹ đối với các cuộc xung đột và khủng hoảng được thiết lập trên kinh nghiệm của những quan chức trong lĩnh vực đổi mới của Bộ Ngoại giao và USAID, những người đã lập nên các tiêu chuẩn mới tạo xung lực tại chỗ.” Báo cáo lập luận, “Những nỗ lực này phải trở thành một phần của ‘quy phạm mới’ cho người của chúng ta khi được cử đến những môi trường có xung đột và hậu-xung đột.” Nó cũng đề cập cách thức “quản lý rủi ro” ở những nơi như vậy, chứ không né tránh nó.
Stevens làm việc tại Benghazi đến tháng Mười một năm 2011 rồi rời Libya, sau đó trở lại vào tháng Năm năm 2012, lần này thì đến Tripoli làm Đại sứ Mỹ để cộng tác với một chính phủ non nớt. Stevens là người “nổi tiếng vì luôn giữ được bình tĩnh kiểu California, ngay cả khi phải đối mặt với các cuộc khủng hoảng ngoại giao thách thức nhất,” – Hillary đã phát biểu như thế tại Bộ Ngoại giao trong buổi lễ thăng chức cho Stevens. “Thách thức” là từ chính xác chỉ những gì Stevens gặp phải. Tháng Ba, Đại sứ tiền nhiệm Gene Cretz từ Tripoli điện về Washington yêu cầu thay đổi kế hoạch của Bộ Ngoại giao cho quá trình chuyển đổi từ tình thế an ninh khẩn cấp sang “các hoạt động an ninh bình thường.” Bộ Ngoại giao đang tiến hành rút quân theo từng giai đoạn đối với ba đội an ninh cơ động đặc biệt (MSD), gồm nhóm sáu chuyên viên an ninh của Bộ Ngoại giao, những người phối hợp chặt với các cơ quan khác như thủy quân lục chiến và FBI, và một đội an ninh của Lầu Năm góc gồm 16 thành viên (SST). Kế hoạch đưa ra đề xuất thay thế các nhóm này bằng các quan chức an ninh ngoại giao truyền thống từ Bộ Ngoại giao và lực lượng an ninh địa phương.
Nhưng do môi trường an ninh bất ổn ở Tripoli, trong suốt quá trình chuyển đổi chính trị dự kiến kéo dài ít nhất là một năm sau cuộc bầu cử tháng Sáu năm 2012, và do yêu cầu an ninh của những chuyến thăm thường xuyên của các “nhân vật quan trọng,” nên trong một bức điện ngày 28 tháng Ba, Cretz đã yêu cầu giữ lại một đội MSD để huấn luyện các lực lượng địa phương cho tới ngày 1 tháng Bảy năm 2012; Tripoli cần được tăng số nhân viên an ninh thường trực, và Bộ Ngoại giao cần bố trí hàng chục quan chức an ninh ngoại giao làm nhiệm vụ tạm thời thay cho các đội MSD rút về nước. Ngoài ra, ông còn yêu cầu Bộ Ngoại giao duy trì một nhóm năm nhân viên an ninh ngoại giao tạm thời, trong khoảng thời gian quay vòng 45 đến 60 ngày ở Benghazi.
Trong yêu cầu được tăng viện, Cretz làm việc chủ yếu với Eric Boswell, người đứng đầu an ninh ngoại giao của Bộ Ngoại giao tại trụ sở Washington. Vào thời điểm đó, người ta không tin có mối đe dọa cụ thể nào với các nhà ngoại giao hoặc các tài sản của Mỹ ở Libya, chẳng qua đó chỉ là một môi trường hỗn loạn mà chính phủ mới có rất ít uy quyền để kiểm soát hàng trăm nhóm dân quân khắp cả nước. Sau này Cretz nói rằng ông không đề xuất với Hillary, Cheryl Mills, hay bất cứ ai trong văn phòng thư ký của ngoại trưởng những yêu cầu bảo đảm an ninh.
“Nói thật lòng, tôi cảm thấy mình có thể đi qua quá trình chuyển đổi dần dần ở Libya,” Cretz nói về quyết định của ông không đứng trên các mệnh lệnh. “Nếu ai hỏi tôi ‘Bạn muốn an ninh được đảm bảo nhiều hay ít?’ tất nhiên tôi sẽ nói ‘Tôi muốn nhiều hơn.’ Nhưng thực tế, theo đánh giá của tôi, không có mối đe dọa thật sự nào, và chúng tôi đang phải đối mặt với những gì mà người khác đang phải đối mặt [tại các vùng xung đột trên thế giới], ít nhất chúng tôi đã có đủ nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ.”
Trước khi Cretz nhận được điện trả lời, trụ sở tại Benghazi đã bị tấn công bằng một quả bom nhỏ, và đoàn xe hộ tống ngoại giao Mỹ bị một thiết bị nổ tự tạo ném vào. Cuối cùng câu trả lời từ Washington cũng tới vào ngày 19 tháng Tư, tức là ba tuần sau khi bức điện được gửi đi, làm Cretz thất vọng. Câu trả lời ông ta nhận được nói rằng kế hoạch ban đầu sẽ được giữ nguyên.
“Cho dù đó có phải là một đánh giá sai lầm hay không, thì chúng tôi vẫn phải sống với quyết định đó, để về cơ bản vượt qua giai đoạn bình thường hóa tình hình này, nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục nỗ lực thúc đẩy sự thay đổi,” Cretz nói. Thay vì tổ chức cuộc họp tại từng nơi, các nhà ngoại giao giờ đây sẽ ở một chỗ và gặp những người khác tại đó, như một cách để bảo đảm an ninh. “Khi đối mặt một tình huống, chúng tôi chấp nhận và thực hiện những điều chỉnh cần thiết.”
Vào tháng Năm, khi Stevens đến thay cho Cretz, tình hình đang diễn biến theo chiều hướng xấu đi. Nhưng yêu cầu của Stevens trong việc duy trì an ninh ở mức cao cũng vấp phải sự phản đối tương tự từ Washington. Sau chưa đầy một tháng đảm nhiệm công việc mới, ông đã gửi một e-mail yêu cầu giám đốc Văn phòng Triển khai An ninh cơ động của Bộ Ngoại giao cho phép duy trì hai đội MSD đang chuẩn bị rời đi. Ngày hôm trước, một thiết bị nổ tự chế đã đục một lỗ lớn trên bức tường bên ngoài trụ sở ở Benghazi. Nhưng yêu cầu không chính thức đó vẫn bị từ chối.
Trong tháng Bảy, Eric Nordstrom, một sĩ quan an ninh khu vực Tripoli đang soạn thảo bức điện chính thức yêu cầu 16 thành viên SST và hai đội MSD tiếp tục ở lại hỗ trợ. Tại Washington, Phó trợ lý ngoại trưởng Charlene Lamb phản ứng giận dữ khi nghe thông báo về điều này. “Không, tôi không [nhắc lại] không muốn họ yêu cầu đội MSD ở lại!” bà ta viết trong e-mail gửi các nhân viên khác trong Bộ. Stevens và nhóm an ninh bỏ ngoài tai lời phản đối ấy, ba ngày sau đó họ lại gửi một bức điện bày tỏ lo ngại về kế hoạch cắt giảm từ 34 nhân viên an ninh Mỹ hiện có ở Tripoli xuống còn 7 người vào giữa tháng Tám. Cụ thể, sứ quán yêu cầu tăng cường hỗ trợ, ít ra phải có thêm 13 nhân viên an ninh cấp cao, cho đến giữa tháng Chín năm 2012. Hoàn cảnh thực tế không cho phép cắt giảm lực lượng an ninh, ông lập luận, và chính quyền Libya không được trang bị để có thể hỗ trợ, cả trong các hoạt động bình thường lẫn trong trường hợp khẩn cấp.
Pat Kennedy, trợ lý ngoại trưởng phụ trách quản lý, đã từ chối yêu cầu, theo một cuộc điều tra của Nghị viện sau này. Không có bằng chứng cho thấy yêu cầu trên được chuyển lên cấp trợ lý ngoại trưởng như Kennedy, tức là dưới Hillary hai cấp trong cơ cấu quyền lực của Bộ Ngoại giao. Cuộc chiến tích tụ giữa những người ở Tripoli với các quan chức cấp cao ở trụ sở Bộ Ngoại giao tại Washington đã leo thang suốt mùa hè. Các đội an ninh cấp cao vẫn đóng tại Tripoli và ít khi tới Benghazi. Trên thực tế, trong khi yêu cầu tăng cường an ninh được lặp đi lặp lại chủ yếu là cho vùng Tripoli ở phía tây đất nước, thì tình hình an ninh tại Benghazi ở phía đông tồi tệ hơn rất nhiều suốt năm 2012.
Ngoài những cuộc tấn công vào các phương tiện và nhân viên Mỹ, những kẻ khủng bố còn bắn súng phóng lựu vào tòa nhà của Hội Chữ thập đỏ quốc tế; các nhà ngoại giao Sudan và Tunisia cũng bị tấn công; và Anh đã đóng cửa Lãnh sự quán sau khi đoàn xe hộ tống của họ bị trúng đạn súng phóng lựu hai lần và có thể là cả bị bắn bằng AK-47. Mặc dù có sự hiện diện của lực lượng cảnh sát của Chính phủ Libya, Benghazi vẫn thật sự là một khu vực chiến tranh bị chi phối bởi các lực lượng phiến quân tranh giành lẫn nhau, một số trong đó sẵn sàng bảo vệ cho người Mỹ, nhưng với một mức giá nhất định.
Khi chuyển sang trạng thái an ninh bình thường tại Tripoli, Bộ Ngoại giao cũng tăng cường bảo vệ trụ sở tại Benghazi – xây cao các bức tường ngoài, củng cố trụ sở bằng rào chắn, cổng thép và một cánh cửa thép, bổ sung các chốt bảo vệ, lưới an toàn cho cửa sổ bằng cả một hệ thống liên lạc nội bộ mới. Về mặt kỹ thuật, đó là trụ sở tạm thời cung cấp chỗ ở và nơi làm việc cho đại sứ khi tới Benghazi, nhưng Bộ Ngoại giao đang chuẩn bị để nâng trụ sở này lên thành một lãnh sự quán.
Ngày 10 tháng Chín năm 2012, Stevens từ Tripoli đến Benghazi, chuyến công du cuối cùng của ông trước khi kết thúc nhiệm kỳ, tham dự buổi họp tại cơ sở bí mật của CIA cách khu ngoại giao Mỹ khoảng một dặm. Quan chức số hai của Bộ Ngoại giao có mặt vào thời điểm đó là Greg Hicks, sau này xác nhận rằng Stevens đã đến Benghazi để chuẩn bị cho chuyến thăm của Hillary tới Libya ngay trước khi bà kết thúc nhiệm kỳ.
Hicks nói, “Ít nhất, một trong những lý do Stevens đến Benghazi là nhằm thực hiện ý định của ngoại trưởng muốn biến cơ sở này trở thành trụ sở thường trực, và cũng bởi vì chúng tôi biết rằng ngoại trưởng có ý định thăm Tripoli dịp cuối năm. Chúng tôi hy vọng bà ấy sẽ có thể công bố với người dân Libya về việc thiết lập trụ sở thường trực của Mỹ tại Benghazi vào thời điểm đó.”
Stevens nói với Hicks rằng Hillary đã trực tiếp đưa ra thông điệp đó ngay trước khi ông đến Tripoli làm đại sứ mới vào mùa hè năm đó. Khi năm tài chính sắp kết thúc, Bộ Ngoại giao chỉ có thời gian đến ngày 30 tháng Chín để giải ngân từ quỹ tái thiết Iraq, nếu Hillary có thể công bố sự chuyển đổi nhân chuyến thăm Tripoli vào dịp cuối năm. Sau này Hick xác nhận như vậy.
“Lên lịch cho quyết định này là quan trọng,” Hicks trình bày với một ủy ban của Hạ viện. “Chris cần báo cáo trước ngày 13 tháng Chín, thời điểm kết thúc năm tài khoá, về tình hình chính trị và tình trạng an ninh ở Benghazi, để từ đó đưa ra một thông cáo chuyển Benghazi từ một cơ sở tạm thời thành một trụ sở thường trực.”
Nhưng Benghazi rơi vào tình trạng nguy hiểm hơn bao giờ hết, và khi Stevens lập kế hoạch cho chuyến thăm năm ngày từ ngày 10 tháng Chín năm 2012, nhà ngoại giao Mỹ dày dạn nhất tại khu vực này đã ý thức được điều đó. Cảnh giác với khả năng xảy ra bạo lực đúng vào dịp kỷ niệm vụ khủng bố ngày 11 tháng Chín năm 2001, cũng như vì tin rằng mình là một trong các mục tiêu của những kẻ cực đoan, Stevens quyết định tổ chức các cuộc họp và làm việc trong trụ sở vào hôm đó.
Trước 7 giờ sáng, một người nào đó bị phát hiện đang chụp ảnh trụ sở, nơi được các nhân viên an ninh Mỹ, dân quân địa phương và lực lượng cảnh sát của Chính phủ bảo vệ. Sáng hôm đó, Stevens gửi báo cáo về Washington, trong đó trình bày chi tiết rằng, để phản đối sự ủng hộ của Mỹ đối với việc Jibril ứng cử chức vụ thủ tướng, lực lượng phiến quân địa phương đã dọa sẽ ngừng bảo vệ người Mỹ. Trong cuộc họp hai ngày trước đó, các lãnh đạo phiến quân nói rằng, “những mối quan hệ rất lỏng lẻo và các đường ranh giới mờ nhạt” xác định tính chất thành viên của các nhóm phiến quân khác nhau, và nhiều người là thành viên của nhiều nhóm. Thật khó để xác định tại bất kỳ thời điểm nào xem ai đang chiến đấu cho bên nào. Ngoài ra, còn có tranh chấp nhân lực với một trong các lực lượng phiến quân địa phương lớn.
Cuối buổi chiều hôm đó, Hicks, phó đoàn ngoại giao tại Libya, đã gửi một tin nhắn từ Tripoli hỏi Stevens đã biết về vụ tấn công Đại sứ quán Mỹ ở Cairo hay chưa. Lo ngại sự giận dữ ngày càng tăng do một video chống Hồi giáo được sản xuất tại Mỹ gây ra, đến giữa trưa, các nhân viên Đại sứ quán Mỹ tại Cairo đã tuyên bố lên án “những hành động liên tiếp của các cá nhân sai lệch đã gây tổn thương tình cảm tín ngưỡng của người Hồi giáo.”
Tuyên bố không dập tắt được sự phẫn nộ, và vài giờ sau một cuộc biểu tình phía ngoài Lãnh sự quán đã biến thành bạo động. Những người biểu tình xông vào sân, hạ cờ Mỹ, giương lên một biểu ngữ màu đen bằng tiếng Ả-rập. Bộ Ngoại giao bận rộn với tình hình đang xảy ra tại Cairo và lo sợ rằng các cuộc biểu tình, có lẽ là cả bạo động, có thể lan khắp khu vực.
Cho đến thời điểm ấy, đó là một ngày bình thường tại Benghazi, Stevens vẫn làm việc tại trụ sở. Ông gặp một quan chức Thổ Nhĩ Kỳ vào buổi tối và tiễn khách ra tận cửa chính, lúc 19 giờ 40 phút theo giờ địa phương, hay 13 giờ 40 phút tại Washington. Hai tiếng sau đó, lúc 21 giờ 42 phút, một xe cảnh sát địa phương rời vị trí bên ngoài trụ sở. Lập tức một nhóm hàng chục phiến quân có vũ trang xông vào trụ sở, nhanh chóng tiếp cận mục tiêu. Thời điểm đó, có bảy người Mỹ ở bên trong, gồm năm quan chức an ninh ngoại giao, Stevens, và Sean Smith – một cựu quân nhân không lực và là chuyên gia quản lý thông tin. Vẫn chưa biết chính xác có bao nhiêu kẻ tấn công, nhưng ước tính có khoảng ít là 20 cho đến nhiều là 125 tên. “CHẾT TIỆT,” Smith đã viết cho một người bạn mà ông đang trò chuyện thông qua dịch vụ tin nhắn trực tuyến Jabber. “Nổ súng rồi.” Những tiếng nổ chát chúa ở trụ sở Lãnh sự quán có thể nghe thấy từ bất cứ đâu ở Benghazi, dĩ nhiên từ cả cơ sở của CIA cách đó một dặm.
Những kẻ tấn công đốt trụ sở bằng xăng có phát ra khí cyanide. Trong vòng vài phút, một nhân viên an ninh ngoại giao trong trung tâm hoạt động chiến thuật của trụ sở đã liên lạc với cơ sở của CIA, Đại sứ quán tại Tripoli và trung tâm điều khiển hành động của Bộ Ngoại giao tại Washington. Scott Wickland, sĩ quan an ninh ngoại giao có nhiệm vụ bảo vệ Stevens, hướng dẫn Stevens và Smith mặc áo chống đạn. Họ di chuyển đến khu vực an toàn có cửa chắn thuộc khu Biệt thự C, nơi Stevens sống khi ở Benghazi.
Stevens bắt đầu gọi điện ra ngoài kêu gọi giúp đỡ. Ông đã cố gắng hai lần dùng hai số điện thoại khác nhau để gọi Hicks, khi ông này đang xem tivi trong biệt thự ở Tripoli và không nhấc máy.
Ngay sau đó, Hicks đã được báo về tình hình nguy cấp, khi một sĩ quan an ninh xông vào. “Greg, Greg, Lãnh sự quán bị tấn công,” viên sĩ quan hốt hoảng thông báo.
Hicks nhìn điện thoại và thấy hai cuộc gọi nhỡ từ Stevens cũng như từ một số mà sau đó ông được biết là của Wickland. Một nguồn tin Bộ Ngoại giao sau đó cho biết Hicks thật ra đã nhìn thấy các cuộc gọi đến nhưng không nhấc máy. Hicks cuối cùng đã gọi Wickland và gặp Stevens.
“Greg, chúng tôi đang bị tấn công,” Stevens nói.
Cuộc gọi đột ngột bị cắt.
Trong khu vực an toàn, Wickland, Stevens và Smith có thể nghe thấy phiến quân đã xâm nhập Biệt thự C và đang châm lửa. Khói ngùn ngụt, không thể thở nổi, vì vậy Wickland, Stevens, và Smith nằm thụp xuống sàn và bò đến một phòng tắm trong khu vực an toàn. Tuyệt vọng khi không tìm thấy nguồn không khí để thở, Wickland mở một cửa sổ trong phòng tắm. Khói tràn qua lỗ cửa, càng khiến ba người đàn ông nghẹt thở. Khói đen rất dày, họ không thể nhìn thấy gì cách ngay đó một vài bước chân. Wickland quyết định nắm lấy cơ hội duy nhất là rời khỏi khu vực an toàn.
Ông trườn về phía một cửa thoát hiểm khẩn cấp trong khu biệt thự, gõ xuống sàn nhà để Smith và Stevens có thể di chuyển theo tiếng gõ. Ông va phải cánh cửa ra sân, và nhận ra mình đang bị bắn. Stevens và Smith không tìm thấy đường ra. Ông đã liên tục cố gắng quay lại biệt thự, nhưng phải dừng lại vì ho và khói, rồi bất tỉnh. Cùng với một nhân viên vẫn còn kẹt trong trung tâm hoạt động chiến thuật khi tìm cách liên lạc với CIA, Washington và Đại sứ quán ở Tripoli, ba nhân viên an ninh nữa tìm được đường từ một tòa nhà khác để tới Biệt thự C, nơi họ tìm thấy Wickland trong tình trạng nguy kịch. Họ lao vào tòa nhà đang cháy để cố tìm Stevens và Smith.
Lực lượng CIA ở trung tâm đã nghe thấy những tiếng nổ phát ra từ hướng trụ sở, và khi nhận được tin về vụ tấn công, họ lập tức chuẩn bị cho nhiệm vụ giải cứu. Nhưng họ chờ đợi, hy vọng lực lượng dân quân địa phương hỗ trợ tại đó với súng máy hạng nặng đặt trên xe. Nhưng không có sự hỗ trợ nào cả, và khoảng hai mươi phút sau khi cuộc tấn công xảy ra, đội của CIA tiến về trụ sở.
Từ trung tâm điều khiển hoạt động của Bộ Ngoại giao tại Washington – nơi theo dõi các sự kiện khắp nơi trên thế giới và kết nối ngoại trưởng Mỹ với ngoại trưởng các quốc gia khác – một cảnh báo được gửi đến cho các quan chức hàng đầu Bộ Ngoại giao và Phòng Tình huống của Nhà Trắng đúng thời điểm lực lượng CIA rời khỏi cơ sở, tức 16 giờ 5 phút, theo giờ Washington. Thông tin từ trung tâm điều khiển hành động cho biết, “Khoảng 20 người có vũ trang đã nổ súng, có cả những tiếng nổ lớn.” Stephen Mull, thư ký điều hành, vào văn phòng của Hillary để thông báo cho bà về cuộc tấn công. Bộ máy an ninh quốc gia đã ở mức báo động cao vì những mối đe dọa đối với các sứ quán khác, đặc biệt là ở Cairo. Tình hình căng thẳng không chỉ diễn ra ở Bộ Ngoại giao mà còn ở Nhà Trắng.
“Tin đầu tiên mà chúng tôi nhận được là tại Cairo, Ai Cập, biểu tình đã biến thành bạo lực,” một cố vấn an ninh Nhà Trắng cho biết. Nhân viên Nhà Trắng đã tổ chức các cuộc họp khẩn cấp về biểu tình tại Ai Cập trong văn phòng của Jack Lew, Chánh Văn phòng Nhà Trắng và Cố vấn an ninh quốc gia Tom Donilon. “Mọi người đều thật sự lo lắng về Cairo, bởi Đại sứ quán ở đó khá lớn. Hàng trăm người của chúng tôi có thể [bị thương]... Đại sứ quán tại Cairo không có cùng những tiện nghi như trụ sở tại Benghazi. Chúng tôi không có cùng một kiểu thông tin liên lạc theo thời gian thực.” Các quan chức Mỹ có thể tin rằng những người biểu tình Ai Cập đang phản ứng với bộ phim châm biếm Hồi giáo do nhóm Công giáo Ai Cập ở Mỹ sản xuất và do Terry Jones – một cha xứ ở Florida, vốn nổi tiếng về việc kích động bạo lực trong thế giới Hồi giáo bằng cách đốt kinh Koran – châm ngòi.
Khi nghe tin Benghazi bị tấn công, Hillary tập hợp một số nhân viên trong văn phòng của mình và yêu cầu báo cáo đầy đủ về những gì xảy ra ở Libya, và đưa ra mệnh lệnh. Mills, Sullivan, Burns, Boswell và một trợ lý thuộc Phòng Cận Đông được triệu tập.
Ở Benghazi, khi nhóm CIA đến trụ sở ngoại giao, họ tản ra các hướng. Một số tới trung tâm hoạt động chiến thuật để cứu nhân viên sĩ quan an ninh đang bị mắc kẹt, những người khác tham gia tìm kiếm Stevens và Smith. Cuối cùng, các nhân viên an ninh đã tìm thấy Smith trong biệt thự đang cháy nhưng không thể cứu được ông ta. Smith đã chết. Họ vẫn không thể tìm thấy Stevens. Năm quan chức an ninh ngoại giao nhảy lên một chiếc xe bọc thép và đi về cơ sở của CIA. Trên đường ra khỏi trụ sở, họ bị những người ở hai bên đường xả súng. Đội CIA ở lại trụ sở để chống đỡ đợt tấn công thứ hai, khoảng mười lăm phút dưới làn đạn và hỏa lực của súng phóng lựu.
Xoay quanh thời điểm đó, một trong những trợ lý của Pat Kennedy nói với Hillary rằng Smith đã chết và Stevens vẫn mất tích. Mối quan tâm của Hillary, cũng là của Bộ Ngoại giao, là tìm thấy Stevens và đảm bảo sự an toàn của người Mỹ tại cả Benghazi lẫn Đại sứ quán ở Tripoli, nơi các quan chức lo ngại rằng họ có thể cũng sẽ bị tấn công. Hillary gọi Donilon. Chúng ta đang có vấn đề, bà nói, và cần ông theo sát.
Hàng loạt thông tin nhanh chóng và dồn dập được chuyển đến Hillary qua e-mail và điện thoại, và rất khó cho các quan chức thuộc các cơ quan khác nhau có được một bức tranh hoàn chỉnh về những gì đang xảy ra ở Libya ngay thời điểm đó. Hillary được thông báo rằng CIA có một cơ sở riêng và đã tiến hành nhiệm vụ giải cứu. Bà gọi David Petraeus, người đang điều hành CIA.
Một cựu quan chức cấp cao cho biết, “Bà ấy rất muốn biết rõ tình hình để chắc rằng Giám đốc CIA cũng biết và theo dõi một cách sát sao những gì đang diễn ra, cũng như để bảo đảm rằng mọi thứ phải được thực hiện, với mọi nguồn lực có thể để tìm và giải cứu vị đại sứ.”
Bà cũng đặc biệt muốn biết liệu Petraeus có máy bay giám sát không người lái sẵn sàng cung cấp thông tin tình báo về diễn tiến tấn công hay không. “Ông có phương tiện gì tại khu vực đó không?” bà hỏi – theo lời kể của một nguồn tin biết về cuộc gọi ấy. Lầu Năm góc, chứ không phải là CIA, kiểm soát các máy bay không người lái qua Libya vào thời điểm đó, cuối cùng đã đổi hướng tới Benghazi. “Hãy cho chúng tôi biết nếu ông cần bất cứ cái gì,” Hillary nói với Petraeus. “Hãy giữ liên lạc.”
Leon Panetta, người được bổ nhiệm làm bộ trưởng Quốc phòng, và Martin Dempsey, chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân đã thảo luận về cuộc khủng hoảng đang gia tăng với Tổng thống Obama tại cuộc họp định kỳ lúc 17 giờ vào thứ Ba tại Nhà Trắng. Panetta sau đó đã chỉ đạo một đơn vị thủy quân lục chiến chống khủng bố ở Tây Ban Nha sẵn sàng triển khai tới Benghazi hoặc Tripoli. Ông cũng chỉ đạo các lực lượng đặc biệt ở Croatia và Mỹ chuẩn bị di chuyển tới một cơ sở trung gian đặt tại miền nam Italy. Tại Bộ Ngoại giao, Hillary và các trợ lý thảo luận những vấn đề tế nhị, như làm cách nào để thông báo cho công chúng về cái chết của một người Mỹ trong khi một người khác vẫn mất tích. Họ lo rằng nếu công bố thông tin về cái chết của Sean Smith thì gia đình Chris Stevens có thể nghĩ rằng vị đại sứ đã an toàn.
Đến 23 giờ 30 phút tại Benghazi – tức 17 giờ 30 phút tại Washington – nhóm CIA và những người sống sót sau cuộc tấn công trở về cơ sở của CIA, nơi họ ngay sau đó lại bị các tay súng tấn công. Một đội an ninh của Mỹ đã lên máy bay từ Tripoli đến Benghazi để hỗ trợ. Tại Washington, các cơ quan an ninh quốc gia, kể cả Hội đồng An ninh quốc gia, Bộ Ngoại giao, Lầu Năm góc và CIA triệu tập “cuộc họp cấp đại diện” thông qua hệ thống hội thảo trực tuyến bảo mật. Phó Cố vấn an ninh quốc gia Denis McDonough chủ trì buổi họp, và những người tham gia giữ vị trí số hai hay số ba tại các bộ phận tương ứng.
“Chúng tôi có một cuộc họp video trực tuyến với mọi người suốt đêm,” một quan chức an ninh quốc gia của Nhà Trắng nhớ lại. McDonough điều khiển cuộc họp trực tuyến từ Phòng Tình huống, với Giám đốc Trung tâm Chống khủng bố John Brennan cùng một vài trợ lý của ông, với Tony Blinken – nhân viên của Phó Tổng thống Joe Biden, Ben Rhodes và Tommy Vietor của đội an ninh quốc gia trực thuộc tổng thống. Kurt Tidd, sĩ quan tác chiến thuộc Bộ chỉ huy tác chiến liên hợp đặc biệt (JSOC: Joint Special Operations Command) từ Lầu Năm góc, và Mills đại diện cho Hillary tại tầng thứ bảy của Bộ Ngoại giao.
Đột nhiên, Hillary xuất hiện tại trung tâm hành động của cuộc họp. Mọi người đều ngạc nhiên khi thấy bà có mặt trên màn hình của họ vào cuối buổi chiều. Đây là điều rất hiếm thấy khi một bộ trưởng trong nội các tham gia một cuộc họp như vậy. “Bà ấy muốn vấn đề được thảo luận kỹ lưỡng,” một phụ tá cao cấp của Hillary cho biết. “Tôi nhớ bà ấy đi vào phòng khi chúng tôi đang họp [video trực tuyến] ở cấp đại diện, và bà ấy ngồi vào vị trí đầu bàn,” một trợ lý an ninh quốc gia của Nhà Trắng nói. “Đó rõ ràng là tất cả những gì họ đang làm tại Bộ Ngoại giao.”
Hillary thông báo ngắn gọn cho McDonough rồi lắng nghe thông tin cập nhật từ các cơ quan khác. “Bạn có thể nói rằng dù là ai đang nói, dù giọng điệu ra sao, bà ấy đều thật sự lắng nghe hết,” một quan chức bậc hai tại Nhà Trắng cho biết. “Bà ấy thật sự lo lắng cho người của mình, nắm được tất cả các chi tiết và tóm lược những nội dung thật giá trị, với các thông tin cập nhật. Bà ấy đã tham gia hết mức có thể.”
Tại Nhà Trắng, các trợ lý chạy ra chạy vào Phòng Tình huống vì họ không thể sử dụng BlackBerry của mình để nhận e-mail hoặc thực hiện các cuộc gọi trong khu vực bảo mật. Trong Foggy Bottom, các quan chức đang rất căng thẳng.
Gần như cả đêm, Hillary di chuyển như con thoi giữa các cuộc họp bên ngoài văn phòng của mình, tại trung tâm hành động, và ở một trung tâm chỉ huy trong một phòng họp nơi các lãnh đạo cấp dưới của các bộ tập trung. Hillary bước nhanh ra ngoài trung tâm chỉ huy và về văn phòng mình để gọi và nghe điện thoại của các nhà lãnh đạo nước ngoài và các quan chức đồng nghiệp khác.
Bà không ngồi chờ cuộc gọi của Mohamed Magariaf, Tổng thống Libya. Bà gọi cho ông ta và nói rằng bà cần sự giúp đỡ của ông ta một cách nhanh chóng. Bà muốn ông ta giúp bảo vệ người Mỹ ở Benghazi và Tripoli. Magariaf cam kết hỗ trợ, nhưng những tuần sắp tới sẽ cho thấy rõ những vấn đề nghiêm trọng về mặt hậu cần và chính trị trong sự hợp tác giữa siêu cường số một thế giới với một chính phủ mới, non nớt nhất. Thứ trưởng Tom Nides cho biết Hillary đã có các cuộc gọi tương tự với các nhà lãnh đạo ở Ai Cập, Yemen, Tunisia và những nước khác trong khu vực. Nhưng thật khó để nắm được tất cả những gì đã xảy ra đêm đó.
Một nhân viên ngoại giao cấp cao thông báo tin cho Hillary vào đêm hôm đó, nói, “Mọi chuyện xảy ra quá nhanh, nên rất khó diễn tả. Thật quá khó để nắm bắt được những gì đang diễn ra trên thực tế bởi vì ở đó mọi thứ đã hỗn loạn. Người dân giận dữ và náo loạn, đặc biệt là khi chúng tôi không thể tìm thấy Chris.”
Khoảng 2 giờ sáng tại Libya – tức 8 giờ tối tại Washington – Hillary và các nhân viên cấp cao của mình gọi Hicks ở Tripoli để kiểm tra xem có tin gì mới về Stevens chưa, đồng thời nắm được những hành động mà Hicks định thực hiện để bảo vệ Đại sứ quán an toàn trong hoàn cảnh Tripoli bị tấn công. Hicks nói ông ta muốn sơ tán đến một cơ sở khác, Hillary đã đồng ý.
Cùng lúc đó, một cuộc gọi đến Đại sứ quán Mỹ ở Tripoli từ số điện thoại di động mà Stevens từng sử dụng. Người đàn ông đầu máy bên kia nói tiếng Ả-rập, bảo rằng Stevens đang ở bệnh viện nhưng không thể đưa điện thoại cho Stevens nói chuyện được. Đại sứ quán liên lạc với Beth Jones, quyền trợ lý ngoại trưởng phụ trách các vấn đề Cận Đông, người nói với Sherman rằng họ đã tìm ra vị trí của Stevens rồi. “Thông tin đó được thông báo cho Thứ trưởng Tom Nides trên một mẩu giấy, tạo ra một bầu không khí thoải mái trong phòng,” Nides nói.
Nhưng vẫn không có thông tin xác nhận về tình trạng của Stevens. Các quan chức Mỹ yêu cầu người đàn ông đang gọi điện thoại hãy chụp ảnh người đàn ông ở bệnh viện. Một nhân viên ngoại giao Mỹ, người đã từ chối trực tiếp xác nhận rằng bức ảnh đó đã được chụp và chuyển về cho Washington, nói, “Không thể biết thông tin đó là thật hay không, đến khi chúng tôi, sau nhiều yêu cầu, bảo họ phải dùng điện thoại di động chụp bất kỳ ai đang nằm ở bệnh viện đó. Quả là một tình huống khó khăn.”
Hicks nhận được một cuộc điện thoại vào 3 giờ sáng từ Bộ trưởng Ngoại giao Libya Abdurrahim Abdulhafiz el-Keib, thông báo Stevens đã chết. Ông chuyển thông tin này về Washington và Hillary lập tức được một trợ lý thông báo bằng điện tín lúc 9 giờ tối. Cái chết của Stevens chưa được xác nhận cho đến khi nhân viên Mỹ trực tiếp đến nhận dạng, nhưng dường như tại thời điểm đó chỉ hai nhân viên công vụ ở Benghazi là Smith và Stevens bị sát hại.
Trong lúc đó, nhóm CIA và những người sống sót ở trụ sở Benghazi đang phải cố ẩn nấp trong cơ sở. Họ phải chịu những đợt tên lửa chống tăng nã vào suốt cả đêm trong khi chờ tiếp viện từ Tripoli, vốn đã có mặt ở Benghazi nhưng phải mất vài giờ nữa mới xuất hiện tại đây do liên tục gặp trục trặc về hậu cần. Ngay sau khi lực lượng tiếp viện có mặt, phiến quân lại nã súng cối và tên lửa vào cơ sở. Không giống như đợt tấn công đầu, lần tấn công thứ hai có cả pháo hạng nặng. Người ta đếm được năm tiếng nổ của súng cối trong 90 giây, trong đó có ba quả nhắm trúng một nóc nhà trong cơ sở này. Hai nhân viên CIA là Glen Doherty và Tyrone Woods, thiệt mạng trong vụ này.
Ở Washington, mọi người đang tập trung vào việc tìm Chris Stevens và bảo đảm an ninh cho nhân viên Mỹ ở Tripoli và ở các sứ quán Mỹ trong khu vực. Họ rùng mình khi nghe tin về cuộc tấn công thứ hai. Đại đa số người Mỹ biết được tin về hai cuộc tấn công này trong bản tin nóng sáng hôm sau, nhưng đối với những người đang cố gắng giải quyết cuộc khủng hoảng ngay trong thời gian thực thì vụ tấn công vào trụ sở và đại sứ thiệt mạng dường như là điểm kết thúc của cuộc tấn công. “Có khoảng lặng nhiều giờ đồng hồ trôi qua,” một nhân viên an ninh Nhà Trắng nói. “Từ những thông tin nhận được, tôi không nghĩ có một cuộc tấn công nào khác đang diễn ra.” Các quan chức chính phủ không tiên lượng được một cuộc tấn công thứ hai.
Sau những đợt nã đạn cối vào căn cứ, một nhóm quân đội Libya thân Mỹ đã hộ tống những nhân viên Mỹ còn lại ra sân bay ở Benghazi để lên máy bay đến Tripoli. Chuyến bay này khởi hành lúc 7 giờ 30 phút tối theo giờ Tripoli và 1 giờ 30 phút sáng theo giờ Washington, cùng giờ với một chiếc máy bay thứ hai mang theo bốn xác người Mỹ vừa hạ cánh xuống Benghazi mà không có sự hộ tống của lực lượng đặc biệt vì họ đang chuẩn bị rời đi.
Lúc đầu, lực lượng đặc biệt ở Tripoli hy vọng có mặt trong chuyến bay để hỗ trợ thêm. Sau này, Hicks xác nhận: “Mọi người ở Benghazi đã phải chiến đấu suốt đêm. Họ đã mệt. Đã kiệt sức. Chúng tôi muốn đảm bảo sân bay an toàn để họ rút lui.”
Nhưng qua đường dây chỉ huy từ Lầu Năm góc, lực lượng đặc biệt đã phải từ chối lệnh rời đi. “Đó là lần đầu tiên trong đời binh nghiệp của tôi, một nhà ngoại giao có quyền hơn mấy vị chỉ huy quân đội,” một người thuộc lực lượng đặc biệt nói với Hicks.
Chuyến bay cất cánh mà không có một đơn vị nào hộ tống, kể cả đội cứu thương, và đáp xuống Benghazi sau khi cuộc đọ súng đã kết thúc. Mặc dù những nhân viên điều tra của Nghị viện tập trung vào việc tìm hiểu về người ra lệnh cho lực lượng đặc biệt phải chờ và lý do của việc đó, thì những binh lính này cũng chẳng thể nào làm gì khác để giảm thiểu thiệt hại.
Khoảng 7 giờ 30 phút sáng theo giờ địa phương, những người sống sót bị thương trong cuộc tấn công vào khu vực trụ sở và căn cứ ở Benghazi đã được chuyển đến Tripoli bằng máy bay của lực lượng hỗ trợ đến Benghazi vài giờ trước đó. Các nhân viên ngoại giao ở Tripoli làm việc với các quan chức Libya để bảo đảm việc sử dụng máy bay vận tải C-130, các nhân viên an ninh Mỹ vẫn đang ở Benghazi liên lạc với những lực lượng đồng minh địa phương, yêu cầu họ chuyển thi thể mà họ tin đó là Chris Stevens ra sân bay. Ông được nhận diện chính xác vào lúc 8 giờ 25 phút theo giờ địa phương.
Sau đó vào 1 giờ sáng ở Washington, Hillary rời Bộ Ngoại giao về nhà riêng trên phố Whitehaven. Bà thức làm việc tiếp đến 4 giờ sáng. Bà nhận được tin từ Mills lúc 2 giờ 30 phút sáng, rằng Stevens được xác nhận là đã chết.
Hillary là người đứng mũi chịu sào của nhóm làm việc trong trung tâm chỉ huy, đã bảo những người ở bên cạnh bà trong đêm đó cần giữ cân bằng giữa cảm xúc và yêu cầu của công việc.
Nides nói, “Bà ấy mang một khả năng hiếm có về lòng trắc ẩn cũng như khả năng chịu đựng. Bà ấy thực sự là một người điều hành giỏi. Tôi chứng kiến điều này trong suốt thời gian làm việc cùng, khi bà ấy giải quyết được một cuộc khủng hoảng thật sự. Tất nhiên, bà ấy không phải là một cái máy, đốc thúc mọi người, nhưng rất tình cảm, kiên quyết nhìn thực tế để giải quyết công việc.”
Khoảnh khắc một mình trong đêm đó, sau nhiều giờ giải quyết khủng hoảng và cơn đau tim tiềm ẩn, Hillary thật sự cảm thấy nỗi mệt mỏi đã hiện trên khuôn mặt mình. Bà đã cử Stevens đến Libya. Đó là lỗi của bà.
Sáng hôm sau, bà đến Nhà Trắng, đứng cạnh Obama ở Rose Garden trong ánh nắng, khi ông đang phát biểu trước công chúng bằng một giọng đầy thương tiếc. Trước bài phát biểu, tổng thống đã gặp riêng Hillary bên ngoài Phòng Bầu dục. Ông nói với bà, ông muốn làm nhiều hơn việc chỉ đưa ra những lời phát biểu với báo giới. Ông hỏi liệu mình có thể đến thăm Bộ Ngoại giao nơi bà đã làm việc với các nhân viên vào buổi sáng hay không. Ben Rhodes, phó cố vấn an ninh quốc gia về truyền thông chiến lược, gửi e-mail cho một trợ lý của Hillary để xếp lịch trình. Không đi cùng xe với tổng thống, Hillary đi xe riêng về Bộ Ngoại giao để đón tổng thống khi ông đến.
Họ từng là đối thủ của nhau, nay sánh bước đi vào khuôn viên của Bộ Ngoại giao, được vây quanh bằng những bức tường đá granite màu đen và bức tượng điêu khắc lớn của Marshall Fredricks [1] hình người đàn ông dạng chân bên quả địa cầu, mỗi tay cầm một chiếc đĩa. Hillary yêu cầu nhân viên của mình tập trung những người biết Chris Stevens nhiều nhất vào một chỗ. Bà phải gắng cất cao giọng nói mệt mỏi của mình để đọc một bài diễn văn vì micro bị hỏng.
Được các nhân viên đưa cho một chiếc micro hoạt động tốt, Obama đã phát biểu trong 15 phút, không có văn bản, trước hàng trăm nhân viên được mời đến khuôn viên Bộ Ngoại giao và những người đứng trên cửa sổ của tòa nhà nhìn xuống. Không có bài viết được chuẩn bị, nhưng Obama thể hiện tình cảm cá nhân trong giây phút này bằng việc nói về thời thơ ấu của mình ở nước ngoài, cùng ý nghĩ và ấn tượng mà các nhân viên ngoại giao đã tạo ra trong tâm trí ông. Khi kết thúc, ông nhận ra trước mặt mình có rất đông bạn bè và đồng nghiệp của Stevens. Hillary giới thiệu họ, từng người một, với tổng thống khi ông bắt tay họ và thể hiện sự thương tiếc.
Nỗi tiếc thương bao trùm cả Bộ Ngoại giao. Đây là buổi tập trung bất thường của Bộ Ngoại giao, một phần bởi giá trị và kinh nghiệm chung của các nhân viên ngoại giao, những người cống hiến cuộc sống của mình để đi ra thế giới thay mặt cho nước Mỹ. Tập trung mọi người lại để khích lệ tinh thần vững bước đi tiếp được coi là hành động cân bằng tâm lý tinh tế.
Bà không muốn tạo thêm gánh nặng bởi các cuộc phỏng vấn trên truyền hình. Có ba hãng truyền thông muốn bà xuất hiện trong buổi phát sóng của họ tối hôm đó, nhưng bà đã nghe theo lời gợi ý của Reines từ chối tất cả. Trong vài giờ tổng thống đến thăm Bộ Ngoại giao – và trong vòng 24 giờ sau cuộc tấn công vào cơ sở CIA – những nhà sản xuất chương trình đối thoại trên truyền hình đặt câu hỏi với Bộ Ngoại giao và Nhà Trắng là liệu Hillary có thể xuất hiện trên truyền hình vào cuối tuần được không.
Reines trả lời rằng ông ta không nghĩ là sẽ có việc đó. Do vậy, một giả thuyết đã được đưa ra là Hillary không bao giờ xuất hiện trên tivi vào sáng Chủ nhật. Nhưng trong suốt nhiệm kỳ ngoại trưởng, bà xuất hiện đến chín lần trên chương trình Meet the Press. Nói đúng hơn, bà không thích xuất hiện trên các show truyền hình. Bà rất cân nhắc về tần suất theo từng trường hợp, và chẳng có lợi gì khi xuất hiện trên truyền hình để nói về Benghazi cả.
Nhưng Nhà Trắng muốn bà xuất hiện. Một nhân viên Nhà Trắng, phụ trách việc lựa chọn người đại diện cho Chính phủ xuất hiện trên truyền hình, nói, “Chúng tôi nghĩ rằng việc một quan chức ngoại giao cấp cao xuất hiện và nói về công việc ngoại giao mà họ đã thực hiện là hoàn toàn có ý nghĩa. Nhưng vấn đề hôm đó không chỉ có vậy. Chúng tôi cũng muốn có ai đó xuất hiện và nói về Mùa xuân Ả-rập, cố gắng giải tỏa sự cuồng tín về các đoạn video trên mạng, thông báo với toàn thế giới lại một lần nữa là đó không phải do nước Mỹ gây ra.”
Nhà Trắng cũng tiên liệu được những câu hỏi về Iran và Israel, bởi Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu sẽ lên truyền hình vào sáng Chủ nhật hôm đó, nên Nhà Trắng có lý do để lo lắng, vì chỉ vài tuần trước cuộc bầu cử, ông ta có thể khiến Obama bẽ mặt về vấn đề Iran đang nỗ lực phát triển vũ khí hạt nhân. Nói chung, điều này cho thấy, những ai đang làm công tác ngoại giao sẽ phải đối mặt với những chuyên gia “hỏi xoáy” của năm chương trình truyền hình. Nhân viên Nhà Trắng nói tiếp, “Chúng tôi nghĩ rằng hoặc Hillary hoặc Susan Rice xuất hiện sẽ có hiệu ứng tốt.” Các trợ lý của tổng thống hiểu được sự bận rộn của Hillary sau vụ tấn công ở Libya, đã tế nhị yêu cầu Bộ Ngoại giao về việc Hillary xuất hiện trên truyền hình. Reines, thay mặt Hillary, đã từ chối yêu cầu đó.
Đến sáng thứ Sáu, Nhà Trắng đã tiếp cận Rice, yêu cầu bà xuất hiện trên cả năm chương trình truyền hình vào Chủ nhật, Meet the Press của NBC, Fox News Sunday, Face the Nation của CBS, This Week của ABC, và State of the Union của CNN. Sự tinh tế, nhạy cảm và điêu luyện để xuất hiện trên cả năm chương trình truyền hình trong một ngày Chủ nhật được cả Washington biết đến như “Ginsburg” – lấy theo tên của William H. Ginsburg, luật sư của Monica Lewinsky, người cũng đã xuất hiện trên cả năm chương trình truyền hình trong một ngày vào năm 1998.
Đối với Rice, các chương trình Chủ nhật là một cơ hội cực lớn để bà có thể thử sức gánh vác công việc lớn hơn trong nhiệm kỳ thứ hai của Obama. Đối với Hillary, những chương trình này là một gánh nặng cần tránh, trừ khi bà muốn gửi đi một thông điệp như khi bà bắt đầu chiến dịch tranh cử của mình hoặc khi các tờ báo đăng tin rằng bà đang bị gạt khỏi Bộ Ngoại giao sau sáu tháng đầu tiên trong nhiệm kỳ. Bà không cần bàn đạp này, đó có thể là sự bấp bênh về mặt chính trị ngay giữa cuộc khủng hoảng, và đúng là bà không có dư dả thời gian cho công cuộc chuẩn bị đầy gian truân như đòi hỏi của bất kỳ một chính khách nào trong những chương trình chính trị lớn.
Khi cả Bộ Ngoại giao đang rất đau buồn về cái chết của Stevens, Capricia Marshall và nhóm của bà vượt qua nỗi đau để làm việc. Họ liên lạc với văn phòng lễ tân để tổ chức đón nhận thi thể ở căn cứ không quân Andrews. Tại đây, Obama và Hillary cùng những người khác sẽ đón nhận bốn thi thể của nhân viên Mỹ, được một chiếc máy bay quân sự chuyển từ căn cứ không quân Ramstein ở miền tây nước Đức đến. Thứ trưởng Bill Burns, người biết rõ Stevens, đã nhanh chóng bay đến Baghdad để hộ tống những người còn lại trở về nhà trên một chuyến bay dài và cô đơn từ Ramstein về Andrews.
Marshall và nhân viên của bà phải lật lại đống hồ sơ để tìm ra những tiền lệ về nghi lễ. Họ gặp các quan chức Lầu Năm góc và phối hợp với Nhà Trắng. Chuyến bay đưa thi thể sẽ hạ cánh vào thứ Sáu, ngày 14 tháng Chín, tại căn cứ không quân Andrews. Marshall, cựu bộ trưởng các vấn đề xã hội của Nhà Trắng, là chuyên gia giải quyết các sự kiện lớn. Nhưng bà chỉ có hai ngày để chuẩn bị rất nhiều việc.
Reines bảo Marshall rằng bà cần nói chuyện với gia đình của những người thiệt mạng. Mặc dù Bộ Ngoại giao đã yêu cầu các chuyên gia tâm lý đến gặp các gia đình đó, nhưng việc đưa các thân nhân trải qua những nghi lễ trong buổi tiếp nhận thi thể mới là quan trọng. Sáng thứ Sáu, Marshall đến Ritz-Calton ở Georgetown uống cà phê và nước hoa quả với các gia đình. Mọi người đều hài lòng với kế hoạch, trừ một gia đình đã suy sụp trước phóng viên và camera. Marshall gọi Reines để đưa ra giải pháp: báo giới sẽ bị hạn chế hoạt động sau khi tất cả các gia đình đã ổn định chỗ ngồi, truyền hình chỉ quay hình ảnh phía sau họ mà thôi.
Hillary đã có mặt từ sớm tại buổi lễ diễn ra vào chiều tại căn cứ không quân Andrews vì bà muốn gặp gỡ các gia đình của nạn nhân. Marshall tỏ ra cứng rắn khi các gia đình chia sẻ các câu chuyện của mình, nhưng Hillary thì không.
Theo một nguồn tin tại căn cứ không quân, thì, “Cứ như thể họ òa lên trút hết tất cả nỗi đau thương lên bà. Mọi người gục khóc, trẻ con vây xung quanh. Tôi không thấy bà khóc nhưng tôi thấy bà cảm nhận được nỗi đau. Trên mặt bà thể hiện ‘tôi đã ở đây rồi.’ Tôi nghĩ nó bắt nguồn từ niềm tin vào Chúa của bà ấy, và nó kiểu như ‘Tôi ở đây để làm gì? Tôi ở đây để thay mặt Chúa.’ Bà ấy tin vào tinh thần phục vụ đất nước và Chính phủ, và một phần nữa là lòng trắc ẩn của mình.” Marshall đã lên kế hoạch giới thiệu Obama với các gia đình, nhưng khi tổng thống đến thì Hillary đã đảm nhiệm việc đó.
Đó là thời điểm đen tối nhất đối với Obama và Hillary. Tại căn cứ không quân này, nơi Obama thường chơi golf dịp cuối tuần, họ đang đứng cạnh nhau chứng kiến sự trở về đầy đau thương. Những chiếc quan tài phủ quốc kỳ đựng những gì còn lại của bốn công dân Mỹ đã chết được chuyển xuống từ một máy bay quân sự để thực hiện nghi lễ tiếp nhận chính thức của nước Mỹ. Trong giờ phút cầu nguyện mở đầu, Obama và Hillary đứng lẫn trong đám đông, cúi đầu, hai tay bắt chéo phía trước.
Như thể nói về sự cứng rắn của bản thân, Hillary kêu gọi sự ngoan cường. Bà nói, “Chúng ta hãy lau sạch nước mắt, đứng thẳng và đối mặt với tương lai đầy khó khăn.” Giọng bà ngập ngừng, những mệt mỏi và cảm xúc trong tuần vừa qua hiện rõ trên gương mặt. Bà mất đi một người bạn mới, người mà bà đã cử đến Libya với tư cách là đặc phái viên, còn giới chức chính quyền và báo chí lại đang đặt ra những câu hỏi phức tạp.
Đến lượt mình, tổng thống trích một câu trong Phúc âm John: “’Không ai có tình thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu.’[2] Sự hy sinh của họ sẽ không bao giờ bị lãng quên.”
Trong bối cảnh cuộc bầu cử đang đến gần, áp lực cũng đang tăng dần với nhân viên của Bộ Ngoại giao vừa mất đi bốn đồng nghiệp, với Hillary đang điều hành Bộ Ngoại giao, với Obama người đã tuyên thệ đanh thép nhất về việc bảo vệ đất nước, và với cả chính sách hỗ trợ những cuộc cách mạng ở thế giới Ả-rập và Hồi giáo. Cả Obama và Hillary có rất nhiều việc cần giải quyết – họ sẽ bị đánh giá, liệu chính sách này cuối cùng có giúp cho nước Mỹ an toàn hơn hay dễ bị tổn thương hơn trước cơn thù hận và những biến động trong khu vực. Cần phải vượt qua thời điểm này, Hillary nói tại Andrews, “Người dân Ai Cập, Libya, Yemen và Tunisia đã thay chế độ chuyên chế của một kẻ độc tài bằng chế độ chuyên chế của đám đông. Những người dân biết suy nghĩ và những nhà lãnh đạo có trách nhiệm ở những đất nước này cần làm mọi thứ để tái lập nền an ninh và buộc những kẻ đứng sau những hành động này phải chịu trách nhiệm.”
Mọi người vẫn rất ngạc nhiên khi chứng kiến Obama và Hillary, từng là đối thủ chính trị gay gắt của nhau, lại đang đứng cạnh nhau và nói cùng một giọng. Trong suốt bốn năm qua, bất kỳ khi nào đất nước trải qua một thời điểm với những sự kiện quốc tế quan trọng – từ sự trỗi dậy của Taliban ở Afghanistan đến vụ tập kích Bin Laden, rồi Mùa xuân Ả-rập và những sự kiện sau đó – họ vẫn đứng cạnh nhau như vậy. Hillary là người thực thi đầy trách nhiệm các chính sách của Obama. Vài ngày trước, ông đã thể hiện sự trung thành chính trị, vốn không quen thuộc với ông, bằng việc mời Hillary đến Rose Garden trong buổi diễn thuyết trước công chúng một ngày sau khi cuộc tấn công diễn ra. Trong ngày hôm đó, ông cũng đã đến Bộ Ngoại giao để phát biểu trước toàn thể nhân viên Bộ Ngoại giao và đã vòng tay ôm Hillary khi họ tham dự lễ tiếp nhận thi thể của những người yêu nước ngã xuống. Khi hai người kết thúc bài phát biểu, Hillary đưa tay trái của mình nắm tay phải của Obama. Ông đã có mặt bên cạnh bà trong suốt thời điểm đau lòng nhất trong nhiệm kỳ bốn năm làm việc tại Bộ Ngoại giao. Bà nói thầm vào tai ông, “Cảm ơn.”
Khi Obama và Clinton có mặt tại Andrews, đội an ninh quốc gia của tổng thống vừa mới bắt đầu tranh luận về các luận điểm trái chiều. Tại một buổi họp báo, Dutch Ruppersberger, đại diện bang Maryland, đại biểu hàng đầu Đảng Dân chủ trong Ủy ban Tình báo Hạ viện, đã yêu cầu David Petraeus, Giám đốc CIA cung cấp những điểm có thể đưa ra thảo luận về cuộc tấn công ở Benghazi, sự kiện mà các nhà lập pháp lặp đi lặp lại trên truyền hình, đài phát thanh và trả lời bài phỏng vấn báo chí. Điều này hoàn toàn bình thường đối với các thành viên Nghị viện, đặc biệt là với những người cùng đảng với tổng thống, nhằm đưa ra những gợi ý về những gì nên hoặc không nên nói trước công chúng khi phát sinh các vấn đề an ninh quốc gia. Sự vi phạm luật cấm tiết lộ các thông tin mật được phân loại vẫn dễ xảy ra, đôi khi là tình cờ.
Nhóm nhân viên CIA đã soạn ra một số nội dung chính để cung cấp cho các thành viên Ủy ban. Bản thảo đầu tiên xác nhận vụ tấn công ở Benghazi được “khơi nguồn” từ vụ tấn công ở Cairo nổ ra trước đó: đã có một đám đông tập trung trước tòa nhà trước khi bạo lực bùng phát, quân đội có quan hệ với Al Qaeda đã tham gia vụ tấn công, một nhóm cực đoan có tên là Ansar al-Sharia đã phủ nhận sự tham gia, việc dễ dàng có được vũ khí ở Libya được xem là nguyên nhân gây ra cái chết của các nhân viên Mỹ, những hành động khủng bố trước đây đã được thực hiện ở Benghazi, và cộng đồng tình báo đang làm việc với các quan chức Libya và các bộ phận khác của Mỹ để tìm ra những kẻ chủ mưu.
Nhưng một số quan chức CIA không hài lòng với dự thảo này, bởi nó không đề cập những việc CIA đã cảnh báo và cung cấp thông tin cho Bộ Ngoại giao về những nguy cơ bất ổn có thể xảy ra đối với Đại sứ quán Mỹ ở Cairo. Trong một thư điện tử nội bộ được gửi đi lúc 4 giờ 42 phút chiều thứ Sáu, một báo cáo mới về những chủ đề lớn đã xóa đi mục đề cập cụ thể về nhóm khủng bố Al Qaeda. Bản báo cáo trước đó đã đề cập “các vụ tấn công” ở Benghazi là do các cuộc biểu tình ở Ai Cập “châm ngòi” và biến thành “một cuộc đột kích trực tiếp” vào trụ sở của Mỹ tại Benghazi. Điều này không có ý nghĩa gì cả – khi trong bản báo cáo nói rằng các cuộc tấn công phát triển thành một cuộc đột kích. Cụm từ “các cuộc tấn công” bị sửa thành “các cuộc biểu tình” trong thư điện tử nội bộ của CIA. Có hai dòng mới được thêm vào. Gạch đầu dòng thứ nhất, “ngày 10 tháng Chín, chúng tôi đã cảnh báo trong những bản báo cáo về việc đang có lời kêu gọi biểu tình trước Đại sứ quán trên phương tiện truyền thông xã hội và những tín đồ Jihad đang đe dọa xâm phạm sứ quán.” Gạch đầu dòng thứ hai nói rằng CIA “đã có rất nhiều cảnh báo” về sự đe dọa của chủ nghĩa khủng bố liên quan tới nhóm Al Qaeda ở Libya.
Chắc chắn một nhân viên tình báo hàng đầu thế giới sẽ hiểu rằng Benghazi là một nơi nguy hiểm, đầy những kẻ quá khích được trang bị vũ khí. Những dòng thêm vào như vậy đồng nghĩa với việc nói rằng CIA theo dõi sự việc qua mạng xã hội Twitter và báo chí công khai, nhưng cũng là một dấu hiệu cho thấy CIA và Bộ Ngoại giao đang đổ trách nhiệm cho nhau. Có phải CIA đã thất bại trong việc dự đoán và ngăn chặn các cuộc tấn công đó, hoặc lẽ ra Bộ Ngoại giao phải cảnh giác hơn nữa theo đúng những thông tin tình báo mà CIA cung cấp?
Trong một diễn biến khác, Dag Vega, người đảm nhiệm công việc đặt lịch cho các buổi phát sóng truyền hình cho Nhà Trắng, khẳng định lúc 18 giờ 16 phút chiều rằng Rice sẽ xuất hiện trên cả năm chương trình truyền hình vào Chủ nhật. Trong một e-mail gửi các nhà sản xuất mà ông thảo luận về một số nguyên tắc cơ bản, Vega đã phác thảo thứ tự của các cuộc phỏng vấn trong trường quay sẽ được phát sáng Chủ nhật theo lịch như sau: CNN lúc 7 giờ 15 phút, Fox 7 giờ 45 phút, ABC 8 giờ 15 phút, NBC lúc 9 giờ và CBS là 9 giờ 40 phút.
Vega viết, “Mỗi buổi phỏng vấn không quá 10 phút”. Cả Bộ Ngoại giao lẫn nhóm làm việc của Rice ở Liên Hợp Quốc đều không được tham gia thảo luận về các luận điểm chính của Ủy ban tình báo Hạ viện qua e-mail.
Toria Nuland, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao, là người đầu tiên có được bản sao dự thảo vào buổi sáng sớm sau khi CIA và Nhà Trắng cùng điều chỉnh những thay đổi cần thiết trong vài giờ. Nuland tự hỏi tại sao lại cung cấp những luận điểm đó cho các thành viên Nghị viện, điều có thể khiến FBI chú ý, khi cơ quan này theo đúng quy trình đang điều tra tội phạm trên lãnh thổ Mỹ về vụ Lãnh sự quán ở Benghazi. Bà cũng chỉ ra những nguy hiểm nếu CIA đã đưa thêm vào những dòng ý kiến đó.
Trong e-mail gửi cho cả Sullivan và một quan chức khác của Bộ Ngoại giao là David Adams lúc 19 giờ 39 phút, bà viết, “Điểm cuối cùng có thể bị các thành viên [Nghị viện] sử dụng để công kích Bộ Ngoại giao là đã không chú ý đến những cảnh báo [của CIA], vậy tại sao chúng ta lại muốn trả lời các cuộc phỏng vấn đó? Đáng lo ngại.”
Adams hồi âm, “Tôi đang ở cùng Toria. Gạch đầu dòng cuối cùng sẽ được đọc cho các thành viên như thể chúng ta đã được cảnh báo nhiều lần.”
CIA đã sửa lại những điểm chính nhưng đã không xóa đi những dòng đề cập việc họ đã cảnh báo nguy cơ. “Những điểm này không giải quyết được tất cả các vấn đề của tôi hay của vị trí lãnh đạo mà tôi đang xây dựng,” Nuland viết trong một e-mail mà sau đó bà chuyển tiếp đến Sullivan cùng một lời chú thích để bảo đảm rằng phải biết có những nguy cơ đe dọa Bộ Ngoại giao. “Họ đang tham khảo [Ủy ban An ninh Quốc gia].”
Sau đó, những người Cộng hòa đã sử dụng cụm từ “xây dựng khả năng lãnh đạo” để nói rằng Hillary đã tham gia soạn thảo những điểm chính. Hillary phủ nhận. Nhưng theo các e-mail được công bố, Sullivan hành động vì lợi ích của sếp mình và Bộ Ngoại giao, bằng việc nêu trường hợp này với Vietor và Rhodes – thành viên của Ủy ban An ninh Quốc gia – rằng những gạch đầu dòng mà CIA thêm vào cần phải được bỏ đi.
Sullivan gửi e-mail cho Nuland vào lúc 9 giờ 32 phút tối: “Đã nói với Tommy. Chúng ta có thể sửa.”
Vào lúc 9 giờ 34 phút tối, Rhodes yêu cầu tạm dừng thảo luận. Vấn đề này sẽ được nêu tại cuộc họp đại diện vào sáng hôm sau. Trong số nhiều vấn đề, một điều hết sức quan trọng đó là đảm bảo rằng bất cứ quyết định nào đưa ra cũng trên cơ sở có mặt của mọi người, tránh việc trao đổi qua lại bằng e-mail vốn có thể bị rò rỉ hoặc sau này phải công bố dưới dạng tài liệu lưu trữ hoặc theo yêu cầu của báo chí chiểu theo Luật Tự do Thông tin.
Dưới áp lực chính trị đòi làm rõ căn nguyên của những sự kiện, Nhà Trắng cuối cùng đã phải công bố khoảng 100 trang e-mail các sự kiện liên quan đến vụ việc ở Benghazi. Nhưng dữ liệu đó ngày càng dài thêm do bao gồm các chuỗi e-mail trả lời và chuyển tiếp. Quan trọng hơn, đối với những cố gắng phân tích pháp lý về quá trình ra quyết định, những e-mail này chỉ thể hiện một phần các cuộc đối thoại diễn ra trong và giữa các cơ quan bằng điện thoại và các kiểu liên lạc khác.
Một quan chức cấp cao đã quen với những cuộc tranh luận như vậy nói, “Chẳng cần phải nói gì cả, có sự trao đổi giữa các hệ thống đấy thôi.”
Cuối cùng, những luận điểm chính gửi cho các nhà lập pháp – và cả Susan Rice – ngày hôm sau được gom lại thành ba gạch đầu dòng. Ngôn ngữ có phần gây ảnh hưởng tiêu cực đến Bộ Ngoại giao đã bị loại bỏ. Việc làm này được xem là nỗ lực thực hiện yêu cầu của một nhà lập pháp phụ trách về vấn đề an ninh quốc gia. Sau đó, những quan điểm đó được tổng kết và chuyển cho bộ phận quan hệ công chúng, các quan chức cấp cao hơn và các bộ phận khác có liên quan.
Theo nguồn tin của Nhà Trắng, vào một thời điểm nào đó, Phó Giám đốc CIA Michael Morrell cũng đã thực hiện những thay đổi tương tự nhưng không chia sẻ với các bộ phận khác. Petraeus, sếp của ông, không hài lòng với việc đó. Petraeus viết cho các nhân viên trong CIA, đề cập đến những nỗ lực của CIA trong việc cảnh báo cho Bộ Ngoại giao về những cuộc biểu tình có kế hoạch ở Ai Cập, “Không đề cập gì đến những bức điện gửi tới Cairo sao? Thành thật mà nói, tôi sẽ không muốn nói về vấn đề này ngay lúc này...”
Rice đã tham gia các chương trình truyền hình hôm Chủ nhật từ sáng đến tối, và nói theo các luận điểm đã được Capitol Hill soạn thảo. Điều khác biệt là bà đã tạo ra một sự liền mạch từ đoạn video chống Hồi giáo, tới cuộc biểu tình ở Cairo, cho đến cuộc tấn công ở Benghazi, dù bà đã sai khi nói rằng cuộc biểu tình biến thành đột kích.
Rice phát biểu trên Meet the Press, “Khi tập hợp tất cả những thông tin tốt nhất mà hiện giờ chúng ta có được, những đánh giá hiện tại của chúng ta là những gì đã xảy ra ở Benghazi thực chất là một phản ứng tự phát với những gì đã xảy ra nhiều giờ trước đó ở Cairo, mà tất nhiên là do đoạn video châm ngòi. Chúng tôi cho rằng những gì sau đó xảy ra ở Benghazi là do những phần tử cực đoan cơ hội đã đột kích vào Lãnh sự quán khi bạo lực bùng phát.”
Nhưng chẳng có cuộc biểu tình nào diễn ra ở Benghazi cả. Rice đã đưa ra những phiên bản của các luận điểm đã được thay đổi chút ít trong cả năm chương trình truyền hình. Có một chút nghi ngại, rằng những ai đại diện chính quyền ngồi vào chiếc ghế nóng đó liệu có nói những điều giống nhau hay không. Hillary đã thoát khỏi bãi mìn chính trị – vì thế sau này, những người Cộng hòa tập trung vào sự hiện diện của Rice trong các chương trình truyền hình hôm Chủ nhật như là chứng cứ về sự bao biện của chính quyền Obama. Cùng lúc đó, những người Cộng hòa đang muốn hạ điểm Obama trong tiến trình tranh cử căng thẳng với Romney. Tốt nhất là hạ bệ Obama thông qua Rice, hơn là thông qua Hillary vốn vẫn còn uy tín cao. Rice sẽ phải trả một cái giá rất đắt về sự thất bại của các luận điểm đó, vì không phù hợp với mong muốn của các thượng nghị sĩ, và đánh mất sự đề cử của Hillary ở Bộ Ngoại giao.
Một quan chức Nhà Trắng nói: “Susan [Rice] tiêu rồi.”
Bốn ngày sau, ngày 20 tháng Chín, Hillary tổ chức các cuộc họp bí mật và riêng lẻ về vụ tấn công ở Benghazi với Hạ viện và Thượng viện. Cùng với Thứ trưởng Quốc phòng Ash Carter, Phó Tổng Tham mưu trưởng Liên quân Sandy Winnefeld, Giám đốc Tình báo quốc gia James Clapper và các quan chức cấp cao khác, Hillary có bài thuyết trình trước các thành viên của Hạ viện tại phòng lớn trong trung tâm tiếp khách ở Capitol và tham gia màn hỏi đáp. Cuộc họp diễn ra bình lặng, không có sự kiện bất thường và kéo dài – vì Hillary đã nhìn xoáy vào Hạ Nghị sĩ Michele Bachmann sau mỗi câu hỏi.
Điều này có nghĩa là các thượng nghị sĩ phải chờ nhóm của Hillary cùng các vị thứ trưởng và phó giám đốc của các bộ phận khác nhau đến Capitol. Các thượng nghị sĩ, vốn không quen chờ đợi ai, thường không phải là thành viên Chính phủ hay là đồng nghiệp cũ của các quan chức, đang cảm thấy khó chịu; và nhóm phụ trách các vấn đề pháp lý ở Thượng viện của Hillary đã thông báo cho bà biết trước rằng Harry Reid, người đứng đầu nhóm nghị sĩ này, đang đi đến chỗ muốn giải tán nhóm của bà.
Khi bước vào phòng, Hillary và các trợ lý của mình đều cảm thấy sự căng thẳng. Nhìn quanh căn phòng, Hillary nói bà sẽ trình bày những điểm chính và sẽ trả lời mọi câu hỏi. Clapper nói với các thượng nghị sĩ rằng ông sẽ bắt đầu trước vì biết rằng Hillary sẽ mất ít nhất 15 phút trình bày như ở Hạ viện. Reines chú ý nhận ra Thượng Nghị sĩ John McCain (R-Ariz) đang ngày càng khó chịu. Reines nói với Mills, “Nhìn kìa. Ông ta sắp nổ tung.”
Khi Clapper kết thúc phần của mình, Carter bắt đầu phát biểu với cái giọng đau khổ cố ý của mình chỉ vừa đủ nghe, khiến những thượng nghị sĩ ngồi phía sau phản ứng rằng các quan chức chính quyền đang làm mất thời gian của họ. McCain, từng là phi công hải quân và là thành viên cứng rắn của Ủy ban Quốc phòng lâu năm, ngắt lời Carter và nói rằng ông ta không cần nghe đánh giá về những cơ sở của hải quân. Khi Carter nói tiếp, McCain bực tức ra khỏi phòng. Winnefeld dường như hiểu ra vấn đề và nhanh chóng bắt đầu phát biểu của mình.
Theo một nguồn tin của Bộ Ngoại giao, “Họ đi thẳng vào các câu hỏi, đó là những câu hỏi khó. Chính thời điểm ấy, họ đã khẳng định rằng Susan Rice đã nói dối.”
Thượng Nghị sĩ Lindsey Graham (R-SC) ủng hộ Đảng Cộng hòa đã chuyển các câu hỏi cho các đồng nghiệp để họ hỏi. Cuối cùng, ông cũng đứng dậy để tự đưa ra quan điểm của mình. Ông nói, “Mỗi khi chúng tôi hỏi mà bà không muốn trả lời, bà nói với chúng tôi rằng bà không thể nói về cuộc điều tra hoặc bà không biết câu trả lời. Nhưng thực tế, mỗi khi bà muốn chúng tôi biết điều gì đó, bà ngồi đó và bắt chúng tôi phải lắng nghe nó trong 20 phút.”
Thượng Nghị sĩ Susan Collins (R-Maine), người mà Hillary từng tổ chức tiệc chiêu đãi, hỏi rằng làm thế nào mà năm nhân viên an ninh ngoại giao thoát khỏi trụ sở trong khi những người mà họ phải bảo vệ lại bị giết.
Trong buổi họp, những nhà lập pháp sau đó nhớ lại, Hillary đã trả lời rằng những kẻ khủng bố đã gây ra cuộc tấn công, một điểm nhấn trái ngược đôi chút nhưng rất quan trọng so với bản báo cáo của Rice.
Ngay sau đó, các quan chức chính phủ có các cuộc họp bí mật khác nhau với các ủy ban khác nhau ở Capitol Hill, những mối ràng buộc đảng phái bị tháo bỏ và Susan Rice trở thành mục tiêu chính của các thành viên Nghị viện. Nguồn tin của Bộ Ngoại giao cho biết, “Trong các buổi điều trần sau đó, nếu nhắm mắt thì ta không thể phân biệt đâu là bạn, đâu là thù. Chủ yếu vì chẳng có ai là bạn cả. Điều nổi bật về các cuộc họp đó là chúng tôi chủ động tổ chức. Chẳng ai yêu cầu cả. Chúng tôi nói với nhau rằng, ‘Hãy đến đó và nói cho cả Nghị viện biết,’ và việc đó giống như chọc tổ ong vậy.”
Ngay sau đó, Rice đã “bị đốt đau.” Obama đã có kế hoạch cử bà ta làm ngoại trưởng, nhưng vụ này đã cướp đi cơ hội để Thượng viện phê chuẩn. Hơn nữa, vụ tấn công ở Benghazi cũng đã lấy đi cơ hội để Hillary đính lên vương miện thành công cái tên Libya. Khi cuộc bầu cử năm 2012 kết thúc, những người Cộng hòa còn muốn bà phải trả giá nhiều hơn thế.
❀ ❀ ❀
[1] Marshall Maynard Fredericks (1908-1998): nhà điêu khắc người Mỹ. (BT)
[2] Đây là câu trong Phúc âm Thánh John, chương 15 câu 13. (BT)