Ý định phụng sự của Hillary đã thắng thế. Tân tổng thống yêu cầu bà phục vụ đất nước, và bà đã không thể khước từ. Gác lại những điều không cần nói ra, ngoại trưởng là một bậc thềm hoàn hảo dẫn đến chức tổng thống, bốn năm tạm rời khỏi các cuộc tranh chấp chính trị trong nước đồng thời làm dày thêm kinh nghiệm về chính sách đối ngoại đầy thách thức.
Hillary có nhiều việc cần làm để khám phá các sắc thái của chính sách đối ngoại, để giành được lòng tin cùng sự tín nhiệm của cơ quan mới, của các đồng nghiệp trong Chính phủ và của các trợ lý mới mẻ trong một Nhà Trắng đầy quyền lực của Obama. Theo đuổi mô hình mình từng sử dụng khi còn là một thượng nghị sĩ lúc mới vào nghề, bà bắt đầu hái lượm vốn liếng chính trị bằng cách khiêm nhường và tự kiềm chế, bằng đạo đức công vụ và tài chỉ huy của bà đối với những vấn đề chủ chốt, vì bà thuộc về chức vụ ấy.
Kỹ xảo thiết lập mối quan hệ với các trợ thủ của Obama vẫn là việc gay cấn hơn cả, nhưng nó sẽ giúp tránh được một khởi đầu không may mắn. Đầu tháng Mười hai năm 2008, hai ngày sau khi tổng thống đắc cử giới thiệu đội hình an ninh quốc gia của ông tại một cuộc họp báo ở Chicago, tờ Washington Post đã đăng bức hình Jon Favreau, tay chuyên viết diễn văn mới 27 tuổi của Obama, đang cười toe toét và giả bộ bụm tay nâng phía dưới bầu ngực của bức hình ngoại trưởng sắp nhậm chức cắt từ bìa cac-tông. Đứng ở phía bên kia tấm hình Hillary là một chàng trai trẻ khác, hôn vào tóc bà và đưa cốc bia lên miệng bà. Nhóm Hillaryland từng kết tội Obama chơi trò “chính trị giới tính” trong quá trình vận động tranh cử, và bức hình này, lần đầu tiên được đưa lên Facebook, buộc hai phe vẫn đang đối chọi nhau phải liên kết lại với nhau, cả công khai lẫn bí mật.
Khi bức ảnh xuất hiện, các cựu binh chiến dịch của Obama và những phóng viên được phân công theo sát chính quyền mới đều đang ở quán bar The Hawk and Dove trên Capitol Hill dự một buổi liên hoan chúc mừng Robert Gibbs, người vừa được bổ nhiệm làm thư ký báo chí Nhà Trắng của Obama.
Các phóng viên tại quán bar may mắn không hay biết gì về chuyện xã giao tinh vi diễn ra gần đây giữa đội của Obama và Clinton. Tommy Vietor, một trợ lý báo chí của Obama, tới gặp Reines để cố làm trung gian hòa giải trước khi bức hình kia làm đổ vỡ mối quan hệ Obama-Hillary vốn rất mong manh. Reines rời khỏi bàn ăn của mình để nhảy vào cuộc trao đổi với Vietor, Favreau và Jon Lovett, một cựu chuyên gia viết diễn văn của Hillary, người có thể sẽ tiếp tục làm việc cho Favreau tại Nhà Trắng. Đây là lần đầu tiên Favreau và Lovett nói chuyện với nhau.
Họ cùng cố gắng tìm cách tốt nhất để cải thiện tình hình – một dấu hiệu của cả hai thứ: tỏ thiện chí đối với tay viết diễn văn trẻ tuổi mà cả hai bên đều ưa thích này, và sự nhận thức chung rằng câu chuyện kia sẽ chẳng có lợi gì cho ai. Favreau và Lovett giúp viết ra một bài báo xuyên tạc được phát đi dưới tên của Reines: “Thượng Nghị sĩ Clinton hài lòng nhận ra lợi ích hiển nhiên của Jon trong Bộ Ngoại giao, và hiện đang xem xét đơn xin việc của anh ta.”
Một Favreau đang bấn loạn tinh thần đã sốt sắng muốn tạ lỗi ngay. Trong khi anh ta đang cân nhắc cách lịch sự nhất để nói “Tôi lấy làm tiếc vì đã chạm vào ngực bà trong bức hình trên tấm bìa,” anh ta thấy một cuộc gọi nhỡ. Kiểm tra lời nhắn, anh ta nghe thấy giọng của Hillary:
“Tôi vẫn chưa được xem bức ảnh ấy,” bà nói có vẻ hơi kịch, “nhưng nghe nói mái tóc của tôi có vẻ dài lắm.”
Favreau nhẹ cả người. Nếu Hillary không muốn xé to chuyện, thì cũng chẳng có ai khác cả gan làm vậy. Các đội Obama và Clinton đã cùng nhau biến một tình huống tiềm tàng sự căng thẳng thành chuyện tầm phào. Đó là thử thách đầu tiên về khả năng hợp tác của hai phe đối địch, và những trợ lý trẻ cứng đầu đã gác lại các dị biệt của họ, nhanh hơn mong đợi.
“Những chuyện nhỏ nhặt đều chỉ như thế,” một trợ lý của Obama nói, “vì bạn luôn được giải tỏa bởi những người sẽ nói ‘mấy tay ấy không phải toàn là dở hơi cả đâu’, mà ngược lại là khác.”
Đoạn bổ sung của bài báo mà Favreau thảo ra cho Reines thậm chí còn chế giễu sự căng thẳng có thật xung quanh việc Hillary có quyền đưa những người trung thành của bà vào Bộ Ngoại giao. Lời hứa đơn giản ấy của Obama với Hillary, dù rất quan trọng để lôi kéo bà tham gia Chính phủ, đã gây ra nhiều va chạm về nhân sự của cả hai đội nhiều hơn so với bất kỳ lý do nào khác trong suốt năm đầu tiên của bà ở Bộ Ngoại giao. Trong một nước cờ dứt khoát, vị tổng thống được bầu đã loại bỏ đa số người của mình ra khỏi các chức vụ khi có tranh giành tại Bộ Ngoại giao ở khu láng giềng Foggy Botton của Washington, và ông cũng cam đoan rằng Hillary được quyền ban thưởng cho cả một số nhân vật không có cơ hội thăng tiến từ chiến dịch của bà, dù đó là người chưa bao giờ thật sự nhiệt tình với Obama và không được đội của ông tin tưởng.
Nhưng ông lại để cho lời cam kết ấy đủ mơ hồ – nó không được khắc sâu vào đá hay ký kết bằng máu – để làm cái cớ cho tranh chấp giữa các trợ thủ Nhà Trắng của ông với đội của Hillary rằng lời hứa ấy ngụ ý chính xác điều gì. Chẳng hạn, Obama giữ lại cho mình quyền bổ nhiệm các cấp phó, đứng thứ hai sau ngoại trưởng ở Bộ, và các đại sứ tại những nước lớn. Các trợ lý của ông cũng tin tưởng họ vẫn sẽ kiểm soát được quá trình này bằng cách thu hẹp danh sách những người có triển vọng ngồi vào các chức vụ đặc biệt.
Hầu hết các trận đấu diễn ra giữa người được ủy quyền của Hillary là Cheryl Mills và cố vấn của Obama là Denis McDonough. Nếu cần, họ đệ trình các tranh luận tới Obama và xin một giải pháp. Nhà Trắng hy vọng loại trừ những người trong Hillaryland nào đó bằng cách xóa họ khỏi danh sách được chọn, theo lời một quan chức cao cấp của Bộ Ngoại giao, người vẫn theo dõi chặt chẽ quá trình này. “Cuộc đụng độ đầu tiên là Nhà Trắng cho rằng họ sẽ gửi danh sách ứng viên sang cho Hillary và bà sẽ chọn người chỉ từ bản danh sách ấy,” vị này nói. “Cheryl cự lại: ‘Không, chúng tôi có toàn quyền tự chủ,’ dẫn đến xung đột đầu tiên giữa những người khổng lồ.”
Chính McDonough cũng có mặt trong phòng khi Obama hứa với Hillary rằng bà có thể chọn bộ máy nhân sự riêng của mình, nhưng điều đó không ngụ ý Nhà Trắng dễ dàng từ bỏ việc sắp xếp người của Obama vào Bộ Ngoại giao hay việc bác bỏ những người đáng ghét trong Hillaryland. Có những ví dụ cho cả hai việc ấy, nhưng đều là các trường hợp ngoại lệ. McDonough nhanh chóng nhận thấy rằng Mills không hề ngần ngại gì mà không nhắc lại lời hứa của tổng thống khi đối mặt những quan chức nhân sự của Nhà Trắng. Căng thẳng là đương nhiên, Mills nghĩ, và cô tán thành việc ràng buộc McDonough vào đó, mỗi khi giải thích cho các quan chức Nhà Trắng vì sao Bộ Ngoại giao không phải chịu những hạn chế của họ. Hai người bắt đầu lên lịch cho bữa điểm tâm Chủ nhật hằng tuần, thường là tại quán Tastee Diner cho người thu nhập thấp ở Silver Spring, Maryland, ngoại ô Washington. Nếu họ bị lỡ buổi nào, thì họ phải bồi thường món cà phê (cho McDonough) và món sô-cô-la nóng (cho Mills). Việc thường xuyên phải ngồi lại với nhau cho thấy quy mô và cường độ các cuộc tranh chấp nhân sự buổi đầu trong chính quyền này.
Việc sắp xếp nhân sự ở Bộ Ngoại giao đã tặng cho Hillary cơ hội đầu tiên sửa chữa những quyết định nhân sự sai lầm vốn góp phần phá hỏng cuộc đua vòng đầu của bà. Suốt mùa hè ấy, bạn bè của bà đã kiên trì bảo cho bà biết và nhấn mạnh rằng bà đã quá thành thật và quá khoan dung đối với những trợ lý vốn không xứng đáng với chức vụ mà họ được giao phó suốt chiến dịch kia, những mối quan tâm bề ngoài của họ đi ngược lại mối quan tâm của bà với tư cách một ứng viên, hoặc sự bất lực của họ trong việc phối hợp với những người khác đã gieo mầm thất bại. Tại Bộ Ngoại giao, bà khép lại kịch bản âm vang từ chiến dịch của mình, nhưng vẫn đặt niềm tin vào một nhóm nội bộ nhỏ đầy nhiệt huyết vốn đặt lòng trung thành với bà lên trên hết. Những tay đánh thuê trong chiến dịch, nhiều trong số đó là kẻ dày dặn từ những năm Bill từng là cái đích thu hút các mối quan tâm của riêng họ, giờ Hillary không để tâm đến họ nữa, họ không còn thích hợp với kế hoạch của bà tại Bộ Ngoại giao. Thay vào đó bà tập họp quanh mình một nhóm nhỏ các cố vấn thể hiện hoàn hảo nhất rằng họ có thể hiến tế chính mình cho bàn thờ thắng lợi của bà.
Hillary giao cho Mills quyền sắp xếp nhân sự trong Bộ Ngoại giao, để cô hòa trộn hai vai trò quan trọng nhất là sếp nhân sự và cố vấn thành một nền tảng quyền lực duy nhất. Được mọi người kính trọng vì năng lực và lòng trung thành với Hillary kèm theo những cú huých cùi chỏ sắc nhọn của cô, Mills có thể nắm vững việc quản trị và điều hành của Bộ, cũng như một số vấn đề chính trị nhạy cảm.
Từng là một cô nhóc ngổ ngáo trong quân đội và tốt nghiệp ngành luật ở Stanford, năm 33 tuổi Mills là trợ lý trong văn phòng tư vấn Nhà Trắng khi cô bênh vực Bill Clinton suốt vụ việc Thượng viện buộc tội ông. Trải qua đủ các loại bê bối của Clinton vào những năm 1990, lòng trung thành, sự chín chắn và tác phong luật sư của Mills đã thu hút sự chú ý của Hillary, và Mills đã gắn chặt mối liên hệ giữa họ với tư cách là một cố vấn về mọi mặt trong chiến dịch tranh cử tổng thống. Joe Lockhart, thư ký báo chí của Nhà Trắng dưới thời Bill Clinton, đã mô tả Mills là “tiếng nói mang sức thuyết phục“ trong chiến dịch của Hillary. Tính hay tranh luận của cô trong vai trò luật sư đại diện và trợ lý khá giống quá trình Hillary được đào tạo: như một luật sư và một cố vấn làm việc trong quá trình Hạ viện luận tội Richard Nixon, và có lẽ cô còn bốp chát hơn cả Hillary hay nói thẳng. “Ngoại trưởng Clinton muốn bạn là một người cùng đội, nhưng bà ấy muốn trực tiếp nghe nó từ bạn,” Lockhart nói. “Và bà ấy biết chính xác điều ấy từ Cheryl.”
Được một trong các trợ lý chiến dịch của Hillary mô tả như một “thủ quân,” và một trong những người hâm mộ cô ở phe Obama gọi là một “con chó dữ,” Mills có cá tính rất mạnh. “Hãy nói với ông ta rằng tôi sẽ gọi lại,” một lần Mills nói khi Bill Clinton cố gắng liên lạc với cô. “Tất cả chúng tôi đều cố giúp Cheryl,” một trợ lý cấp cao của Bộ Ngoại giao dưới quyền Hillary nói. Quả thật, cô là một người lãnh đạo hoàn hảo trong số bộ ba trợ lý – nổi tiếng ở Bộ Ngoại giao như “bộ tam mã” – những kết luận cuối cùng của họ về các chủ đề lớn thường được xem là “phúc âm” của Hillary.
Rất lâu trước khi có sự chuyển đổi, “Nhân tố Huma”– một cách gọi bắt chước “Nhân tố Hillary” từ những ngày ở Nhà Trắng – đã trở thành một thuật ngữ tóm gọn tầm ảnh hưởng mà Huma Abedin, nữ trợ lý riêng đáng tin cậy nhất của Clinton, đạt được tại Foggy Bottom. Chỉ sinh trước Chelsea mấy năm, Huma đã làm việc tại Nhà Trắng trong giai đoạn cuối của chính quyền Clinton và trở thành nhân vật tinh hoa của Washington với tư cách một trợ lý cấp cao cho Hillary tại Thượng viện. Theo cách nói ở Washington, một người nam hay nữ gần gũi nhất với một nhân vật quan chức, người sẽ cất nhắc anh ta hay cô ta từ chỗ này sang chỗ nọ một cách đúng lúc, luôn có đủ những tiện nghi mà anh ta hay cô ta cần đến – nào điện thoại, son môi, nước rửa tay – và luôn bén gót người mà anh ta hay cô ta thân cận. Huma có hết thảy những phẩm chất đó và còn hơn thế. Cô ta đòi can dự vào tất cả những việc mà ngoại trưởng làm, theo một nguồn tin của Bộ Ngoại giao cho hay. “Không ai nói không với Huma, ngay cả Clinton,” nguồn tin ấy cho biết.
Abedin lúc đó đang đắm chìm trong mối quan hệ với Anthony Weiner, Nghị sĩ New York khu vực Brooklyn, một người kết hợp mái tóc đen, vẻ đẹp Nam Á với đôi mắt nâu cùng những tài năng chính trị và một vẻ hấp dẫn tinh tế hiếm có. “Cô ấy giống những gì anh có thể tưởng tượng về nàng Scheherazade,” một bạn tâm giao của Hillary nói. “Cực kỳ lộng lẫy – trông xa lạ mà đẹp lộng lẫy. Và trớ trêu thay, cô ấy là một trong những người dễ thương nhất và ngọt ngào nhất mà bạn có thể gặp. Cô ấy làm ra vẻ khoác bộ mặt con bướm bằng sắt vậy,” người bạn thân này nói. “Cô ấy thuộc kiểu nhân vật mà người ta luôn nghĩ đến.”
Không phải ai cũng mê tít Huma. Đặc biệt, một số thành viên bộ máy nghiệp vụ Bộ Ngoại giao nhìn Huma như người khó gần, phù hợp cho tiệc tùng nghi lễ, hơn là một người thân mật với các đồng nghiệp mới. Họ cũng cảm thấy Huma không sẵn lòng hợp tác với mình.
“Cô ấy sẽ không thật sự liên hệ với bạn khi chuẩn bị một dự án cho ngoại trưởng hay lên kế hoạch một chuyến công du, nhưng sau đó cô ấy chợt đến vào phút cuối để nói ‘mọi người làm quá dở, nhưng tôi sẽ chỉnh sửa’, sau đó cô ta làm vài điều gì đó, rồi nói rằng mình đã hoàn thành việc đó cho ngoại trưởng, và tất nhiên sẽ được tín nhiệm vì điều đó,” một quan chức hạng trung kể. “Đây là kiểu của cô ấy. Tôi biết điều đó, vì nó đã từng xảy ra với tôi, và tôi biết nó cũng xảy ra với nhiều người khác.”
Sự có mặt của cô gây ra căng thẳng, bởi cô can thiệp vào cả các chủ đề trọng yếu mà cô không đủ trình độ hoặc kinh nghiệm để hiểu, và cô luôn gần gũi với Clinton một cách đáng xấu hổ. Hillary thì tin tưởng cô như một thành viên gia đình và nâng đỡ cô thành một thế lực trong Bộ. Hồi đó, cô hiếm khi rời xa Hillary quá một sải tay, và được chọn làm sếp phó của nhóm lập kế hoạch, thấp hơn Mills một bậc. Nếu có ai đó có thể đáp ứng tốt nhất yêu cầu của Hillary về lòng trung thành thì đó phải là Huma.
Nhân vật thứ ba trong bộ tam mã là Jake Sullivan, 32 tuổi, vốn đã định quay về quê nhà tại Minnesota. Nhưng cuối tháng Mười một, Mills đã gọi điện và đề nghị anh tham gia đội công tác Thượng viện của Hillary, một công việc đòi hỏi anh dấn sâu vào kế hoạch chuyển giao của bà. Sullivan nói với bạn bè rằng anh muốn thiết lập lại các chỗ dựa của mình tại Minnesota với hy vọng sẽ có ngày tham gia một cơ quan đại chúng, nhưng rồi anh đã chọn đề nghị của Mills để theo đuổi sự nghiệp chính trị của mình.
Đôi mắt xanh và nước da mai mái, mái tóc nâu mỏng lòe xòe trước trán, nhìn nghiêng Sullivan có cái dáng cao gầy như Obama, trông anh nổi bật giữa đám các cố vấn đủ loại của Hillary vì rất giống một quan chức Bộ Ngoại giao trường phái Ivy League truyền thống. Anh ta như không hòa mình vào sự tôn sùng cá nhân đặc trưng của những người thuộc Hillaryland, trong đó có nhiều trợ lý cấp cao, chẳng hạn như Madonna, được biết đến với chỉ một cái tên đơn giản: Huma, Philippe, Capricia; hoặc đôi khi thậm chí chỉ bằng các chữ cái đầu trong tên của họ. Chẳng hạn, Reines được gọi là PIR, Mills là CDM, và Marshall là CPM. Hillary tất nhiên cũng có một cái tên toàn chữ cái, như Ellen DeGeneres, người dẫn talk-show trên truyền hình, phát hiện trong một cuộc phỏng vấn vào năm 2005.
“Tôi nên gọi bà thế nào? Tôi có thể gọi bà là thượng nghị sĩ được không?“ DeGneres hỏi.
“Cứ gọi tôi là HRC,” Hillary đáp.
Sullivan thì không bao giờ được gọi bằng chữ cái – mà chỉ là Jake – nhưng Hillary rất tin tưởng ở óc xét đoán và tính thận trọng của anh. Anh đã giành được ảnh hưởng trong đợt tranh cử vòng đầu, và sau đó tại Bộ Ngoại giao, bởi lẽ trực giác chính trị và sách lược của anh như tấm gương phản chiếu của Hillary. Dù cho các cố vấn của Hillary còn tranh cãi chưa ngã ngũ xem đó là sự giống hệt nhau tự nhiên hay một sự bắt chước tuyệt diệu, nhưng không ai nghi ngờ việc Hillary đánh giá anh rất cao về năng lực nắm bắt suy nghĩ và tiếp tục suy luận theo kiểu của bà dù có rất ít chỉ dẫn cần thiết.
Quả thật, Sullivan đã hoàn thành chức trách soạn thảo tài liệu cho Hillary chạy đua đường trường với Obama trong các năm 2007 và 2008 một cách cực kỳ ấn tượng, đến nỗi phe Obama đã vận động anh nhập cuộc hỗ trợ Obama đấu trí với John McCain vào mùa thu đó. Trong những cuộc họp ấy, nơi mà các nhân vật tai to mặt lớn phải ngồi nghe huấn luyện, Sullivan chỉ lẳng lặng soạn lời đáp cho các câu hỏi có thể nảy sinh khi tranh luận, và làm cây bút vô danh say mê lao vào chiến dịch của Obama. Tại Bộ Ngoại giao, anh được xếp ngang hàng với Abedin, làm phó ban chính sách, về sau chuyển sang Vụ Kế hoạch Chính sách, cơ quan đầu não nội bộ, và thường tóm tắt cho các phóng viên về những vấn đề chính sách quá phức tạp mà ngay cả bộ phận truyền thông của Hillary cũng khó nắm bắt.
“Jake làm mọi việc vì bà ấy,” một trợ lý cấp cao của Obama giải thích. “Bạn có thể tới gặp Jake về vấn đề riêng tư, vấn đề chính sách hay vấn đề truyền thông. Jake luôn là một đối tác hữu ích, và tại Washington một nhân vật không thể thiếu như thế sẽ có thể đi lên.” Không chỉ được giao cho bao quát phạm vi rất rộng các vấn đề, Sullivan còn có thể phát ngôn thay cho Hillary. “Khi nói chuyện với Jake, bạn sẽ nhận ra rằng anh ấy được Hillary hoàn toàn tin cậy,” một trợ lý Nhà Trắng cho biết. “Dù là chủ đề nóng bỏng đến đâu trong ngày, bạn đều có thể đến gặp Jake.”
Những vị trí này, vốn không cần đến sự bổ nhiệm trực tiếp từ tổng thống hay được Thượng viện phê chuẩn, lại đóng một vai trò rất quan trọng trong một đội ngũ gần 200 vị trí chính trị được bổ nhiệm tại Bộ Ngoại giao, đa phần trong số đó đều thuộc quyền Hillary, theo lời hứa của Obama. Những “cựu binh” trong Hillaryland thường mô tả hoạt động của bà – dù trong Chính phủ, trong một chiến dịch chính trị, hay trong hoạt động từ thiện – như các vòng tròn đồng tâm trung thành. Chỉ một mình Hillary được nhìn thấy đầy đủ mọi khía cạnh của các mạng lưới chính thức và không chính thức của bà, gồm các bạn bè, gia đình, nhân viên và các cố vấn bên ngoài, nhiều người trong số đó thường gửi e-mail trực tiếp cho bà. Thông tin được phân loại triệt để và chảy đến nơi cần thiết, khiến cho đa số các cố vấn của bà chỉ có duy nhất một ô cửa sổ hạn hẹp để nhìn vào bên trong chiến lược và các hoạt động của bà.
Quyền lực không chính thức, có được từ cảm tình của Hillary, còn quan trọng hơn rất nhiều so với quyền lực chính thức của một chức danh cụ thể. Vì Hillary đã ở Washington gần hai thập kỷ, hầu như những người mới đến khó giành được sự tin cậy mà các trợ lý kỳ cựu của Hillary đã xây đắp trong nhiều năm. Sullivan là ngoại lệ, vì anh ta mới chỉ xuất hiện trên chính trường từ đợt vận động tranh cử 2008. Nhưng những người gần gũi nhất với Hillary tại Bộ Ngoại giao nhìn chung đều đã quen thuộc với những khuôn mặt vốn được tin tưởng để có thể tiếp cận các thông tin nhạy cảm, cũng như được giao phó các nhiệm vụ chính trị. Điều đó đúng đối với đa số các đời ngoại trưởng, nhưng những người tiền nhiệm của Hillary thường có một đội ngũ thân tín nhỏ gọn hơn nhiều, và cũng không bổ nhiệm hàng loạt. Ngoại trưởng mới có thể có tới cả tá người mới. Vì đã có lời hứa của cá nhân Obama, nên Hillary tận dụng quyền ấy để bổ nhiệm các trợ lý chính trị.
Reines, người phát ngôn Văn phòng Thượng viện, từng bị Doyle gạt ra bên lề trong chiến dịch tranh cử và chỉ tháp tùng Chelsea Clinton, được chỉ định làm cố vấn cấp cao đảm nhiệm điều hành quan hệ báo chí của Hillary. Thêm vào đó, Hillary cũng nhận Melanne Verveer, trưởng bộ phận nhân sự tại Nhà Trắng, làm đại sứ phụ trách các vấn đề phụ nữ toàn cầu, với một văn phòng được đánh dấu bằng chữ “S”[1] để biểu thị rằng văn phòng này trực tiếp nằm dưới sự chỉ đạo cũng như ngân sách từ ngoại trưởng. Tương tự, Hillary cũng lựa chọn trong danh sách và bổ nhiệm kiến trúc sư Kris Balderston phụ trách một văn phòng mới về các đối tác toàn cầu – bản sao của Bộ Ngoại giao theo Quỹ Sáng kiến Toàn cầu Clinton, cơ quan thu hút rất nhiều nguồn đóng góp cũng như chuyên gia từ các cơ quan trong và ngoài Chính phủ nhằm giải quyết các vấn đề quốc tế.
Hillary cũng bị chỉ trích, cả từ bên trong lẫn bên ngoài, về việc sử dụng các cơ quan kiểu “S” để bổ nhiệm các đại sứ đặc biệt, các đặc phái viên và đại diện, cũng như các cố vấn cấp cao, những người dùng quyền lực một cách quyết liệt để phá vỡ thói quan liêu trong những vấn đề đa dạng mà Hillary quan tâm. Chính mô hình này, được một số người tiền nhiệm Bộ Ngoại giao sử dụng, đã trở thành tiêu chuẩn tác nghiệp cho cả Nhà Trắng, nơi đã xây dựng những đội ngũ về kinh tế và an ninh quốc gia đến hàng trăm người trung thành với tổng thống và đảm nhiệm những công việc không yêu cầu sự cho phép của Thượng viện.
Cách xây dựng đội ngũ nhân viên của Hillary phản ánh những bài học từ đợt vận động tranh cử, đặc biệt với những người có thể gây khó khăn hoặc rắc rối. Vì nhiều lý do, các cố vấn năng nổ, nhiều tham vọng đã khiến phòng tác chiến trong chiến dịch tranh cử bị mất lòng – Mark Penn, Howard Wolfson và Phil Singer nằm trong số đó – và Hillary đã không đưa họ theo sang Bộ Ngoại giao. Thậm chí, trong đợt tranh cử giai đoạn sau vào mùa hè và mùa thu năm 2008, Hillary đã loại bỏ một số trợ lý như Penn trước khi bà quyết định tới Foggy Bottom. Trong khi một số cố vấn gần gũi và gắn bó, gồm cả Tamera Luzzatto, trưởng bộ phận nhân sự của Thượng viện và Maggie Williams, trưởng nhóm vận động bầu cử, lại lựa chọn không đi cùng Hillary vào Bộ Ngoại giao, nhưng bà vẫn đem theo được một số người vốn đã phục vụ mình một cách đắc lực cả khi bà ở Thượng viện và trong cuộc vận động bầu cử.
Trung tín nhưng khôn khéo, Hillary hứa hẹn ngầm với một số bạn bè cũ để vừa thu hút được trí tuệ và tin tức của họ, vừa tách họ khỏi cơ cấu ra quyết định của bà. “Bà ấy luôn có quanh mình một đội ngũ hết sức mạnh mẽ, thông minh và trung thành,” một người kỳ cựu trong Hillaryland nhưng không giữ chức ở Bộ Ngoại giao cho biết. “Thi thoảng chúng tôi phải chỉ ra ‘Người này có nên đặt vào vị trí này hay không, hay người kia có chuyển sang vị trí khác hay không?’ Bạn phải đưa ra lựa chọn dứt khoát, và tôi nghĩ bà ấy đã được chuẩn bị để đưa ra những lựa chọn dứt khoát tại Bộ Ngoại giao – chắc chắn bà ấy cũng sẵn sàng đưa ra những lựa chọn dứt khoát sắp tới nếu bà ấy đã quyết định làm gì.”
Nhưng khó khăn trong các quyết định lựa chọn nhân sự chưa thấm vào đâu so với những thách thức gấp vạn lần mà Hillary gặp phải trong quá trình chuyển sang công việc chính thức tại Bộ Ngoại giao. Bằng mệnh lệnh ngắn gọn, bà cần gây dựng một phong thái lãnh đạo kết hợp những người trung kiên của Đảng Dân chủ với những nhà ngoại giao kỳ cựu không theo đảng phái, xóa nhòa đi các khác biệt tế nhị của chính sách đối ngoại, vạch kế hoạch để hiện thực hóa tầm nhìn của Obama đối với thế giới, và bắt đầu xây dựng các quan hệ với những nhân vật chủ chốt trong nhóm an ninh quốc gia của tổng thống – những người có thể trở thành đồng minh quan trọng hậu thuẫn cho Bộ Ngoại giao.
Hillary bước vào giai đoạn chuyển giao trong khi đối mặt với bốn thách thức có liên quan chặt chẽ với nhau.
Thứ nhất, tổng thống đã chọn bà, như ông đã nói, vì bà là người xuất sắc nhất để đại diện cho Hoa Kỳ trước các quốc gia khác, góp phần quan trọng cho nỗ lực khôi phục vị thế siêu cường của nó trên trường quốc tế. Tổng thống George W. Bush theo đuổi cuộc chiến Iraq, các chính sách trong việc đối xử với những kẻ bị giam giữ, cùng những ngôn từ quá khích của ông ta đã khiến lòng cảm thông của cộng đồng quốc tế với nước Mỹ sau sự kiện khủng bố ngày 11 tháng Chín năm 2001 biến thành nỗi oán giận. Các chỉ số đánh giá Bush tụt thảm hại tại nhiều nơi trong thế giới Ả-rập và Hồi giáo: tại Pakistan, một đối tác chủ chốt trong cuộc săn lùng Al Qaeda, chỉ số tín nhiệm về vai trò chỉ đạo chính sách đối ngoại của ông ta chỉ còn 7% trong năm cuối nhiệm kỳ; chỉ số này cũng ở mức tồi tệ trong hầu như toàn bộ khu vực Trung Đông, với 11% tại Ai Cập, 7% ở Jordan và 2% tại Thổ Nhĩ Kỳ. Với các đồng minh lâu đời của Mỹ tại châu Âu, chỉ số ấy cũng chẳng hơn gì: Bush chỉ giành 16% tại Anh và 13% tại Pháp.
Thứ hai, bà phải gây dựng lại ảnh hưởng của Bộ Ngoại giao trong Chính phủ Mỹ, một kế hoạch đòi hỏi những bước vận động không chỉ từ tổng thống, mà còn từ giới quân sự và CIA, những thế lực hầu như đứng ngoài các tác động của Bộ Ngoại giao dưới thời Bush, về cả ngoại giao lẫn các chính sách phát triển (nhất là về việc phân bổ các nguồn viện trợ Mỹ). Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld và Ngoại trưởng Colin Powell hiếm khi có chung tiếng nói, và mối quan hệ của Rumsfeld với Condoleezza Rice cũng chẳng khá hơn. Với cảnh bất hòa giữa lãnh đạo hai cơ quan, các nhân viên thuộc cấp cũng không được khuyến khích xoa dịu những căng thẳng tự nhiên giữa các nhà ngoại giao và giới quân sự.
Thứ ba, bà phải giành được sự tín nhiệm và chấn chỉnh ý thức cho gần 70 nghìn người tại Bộ Ngoại giao và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), nhiều người trong số đó cảm thấy bị o ép sau nhiều năm đóng vai trò thứ yếu trong lĩnh vực an ninh quốc gia. Các đời ngoại trưởng trước hẳn đã dễ thực hiện chương trình nghị sự của mình hơn nếu bộ máy quan liêu hỗ trợ họ, và sẽ khó hơn rất nhiều nếu đội ngũ thường trực gồm các quan chức dân sự và ngoại giao xa lánh họ. Hillary cần các cộng sự trung thành để thực thi các kế hoạch của mình.
Thứ tư, cũng là điều quan trọng nhất, nếu ra tranh cử tổng thống vào năm 2016, bà cần phải củng cố vị thế của mình tại Mỹ, một nhiệm vụ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng thực hiện ba nhiệm vụ nêu trên của bà. Một số trợ lý của bà tranh luận kịch liệt về vấn đề liệu có cần đánh bóng vị thế của Hillary vào thời điểm đó hay không – điểm tín nhiệm của bà đã tăng lên kể từ cuối đợt tranh cử trong Đảng Dân chủ – nhưng những cuộc khảo sát ý kiến dư luận thường không cho kết quả chắc chắn, và những kết quả mà bà đạt được từ việc ủng hộ Obama cũng như tham gia phe của ông ta có thể dễ dàng mất đi nếu như người Mỹ cho rằng bà không xứng tầm đảm nhiệm vai trò là người đứng đầu ngành ngoại giao của nước Mỹ.
Một trong những cuộc vận động đầu tiên của bà trong giai đoạn chuyển giao là giành cảm tình của Đại tướng David Petraeus, kiến trúc sư của chiến lược trấn áp quân nổi dậy tại Iraq thành công và mới nhận nhiệm vụ đứng đầu Bộ Tổng tham mưu, một đơn vị thuộc Lầu Năm góc, phụ trách cả Iraq và vùng Afghanistan-Pakistan. Tại vị trí đó, Petraeus sẽ có tiếng nói quan trọng đối với toàn thể chính sách của Mỹ tại Afghanistan và Pakistan – nơi Đại úy Richard Holbrooke, tâm phúc của Hillary, có thể được cử làm đại diện của Bộ Ngoại giao. Dù họ có mối quan hệ tốt trong gần như suốt thời gian Hillary ở Thượng viện, và Petraeus là người bảo trợ cho Tướng Jack Keane – người bạn quân nhân thân nhất của Hillary – nhưng bà cũng đã khiến tình bằng hữu giữa họ rạn nứt trong một cuộc điều trần về Iraq tại Ủy ban Quốc phòng Thượng viện năm 2007, thời điểm cuộc vận động tranh cử tổng thống bắt đầu nóng dần. Bà tin rằng Petraeus và Đại sứ Ryan Crocker đã cung cấp cho Ủy ban này bản báo cáo được tô hồng quá mức về thắng lợi của các chiến dịch tại Iraq. “Tôi nghĩ những bản báo cáo mà các ông cung cấp cho chúng tôi thật sự đòi hỏi người ta phải đặt ra nghi vấn,” bà nói. Hillary và Petraeus vẫn có những liên lạc rời rạc trong một năm kế tiếp, nhưng mối quan hệ thì hầu như đã nguội lạnh.
Hillary đã cân nhắc ưu tiên cho việc hàn gắn mối quan hệ này. Petraeus thường ở Florida, nhưng khi ông đến Washington vào cuối năm 2008, khoảng cuối tháng Mười một hoặc đầu tháng Mười hai, bà đã mời ông về nhà riêng tại Whitehaven Street. Petraeus hiểu điều gì đang diễn ra. Hillary muốn hòa giải vì cần sự giúp đỡ của ông. Họ ngồi nhấm nháp rượu vang bên cạnh lò sưởi, và Hillary đã mời ông quay lại vào tối hôm sau, bà cũng đã mời cả Holbrooke, một cựu nhân viên ngoại giao từng giúp việc trong quá trình đàm phán Hòa ước Dayton [2], chấm dứt cuộc chiến tại vùng Balkans thời Bill còn là tổng thống. Hai người đàn ông này chưa từng biết nhau, nhưng qua buổi tối đó, Petraeus phát hiện ra rằng họ có thể nhanh chóng làm việc với nhau ăn ý. Petraeus là một quân nhân có học vấn cao, còn Holbrooke là một nhà ngoại giao kiểu cổ điển, họ khá tương hợp ngay từ đầu. Cả hai đều là những người đàn ông có nhiều ý tưởng. Dù họ không cùng nhau xem xét mọi chuyện, thì họ vẫn có thể bổ sung cho nhau bằng năng lực trí tuệ mạnh mẽ.
Hillary mở thêm một chai vang, cả ba ngồi quanh lò sưởi. Đó là những ly rượu xã giao, những giây phút để hiểu nhau hơn giữa Petraeus và Holbrooke, người mà Hillary đã chọn để đề nghị tổng thống bổ nhiệm làm đại diện đặc biệt tại Afghanistan và Pakistan. Trong vai trò đó, ông ta sẽ phải thiết lập quan hệ đối tác với Petraeus nhằm xây dựng các kế hoạch quân-dân sự cho khu vực, gặp gỡ các quan chức của hai nước đó cũng như các chỉ huy Mỹ để thực hiện ý tưởng này.
Hillary thân thiện chia sẻ với Petraeus cả về mặt chính sách và tình bạn. Khoảng giữa tháng Hai năm 2010, bà bị kẹt tại Jedda, Ả-rập Xê-út, vì máy bay gặp trục trặc. Petraeus, khi ấy đang ở Riyadh gần đó, đã đổi hướng bay đến đón Hillary về Mỹ. Trên chuyến bay, Hillary tranh thủ tìm hiểu thông tin từ Petraeus về khu vực mà Bộ Tổng tham mưu giám sát, một khu vực trải dài 20 quốc gia từ Ai Cập ở phía tây đến tận Pakistan ở phía đông, và từ phía bắc là Kazakhstan đến phía nam là những vùng bờ biển Somalia. Qua chuyện trò họ đều chia sẻ với nhau rằng đã mệt mỏi vì những chuyến đi. Vì thế Petraeus, trong tư cách một quân nhân và một quý ông lịch sự, đã nhường Hillary chiếc giường của ông ta tại khoang sau của máy bay. Khi Hillary đã yên ổn ngả mình trên chiếc giường đó, ông ta cũng đặt mình xuống sàn máy bay ngay bên cửa khoang. Bà đã giành lại được thiện cảm của ông.
Ban đầu, Holbrooke hy vọng sẽ trở thành thứ trưởng ngoại giao, nhưng phe Obama không thể tha thứ cho ông ta vì đã có những thông điệp mang tính đe dọa đối với các chuyên gia chính sách đối ngoại trong đợt vận động tranh cử khi ông ta thề là sẽ không bao giờ có chỗ cho họ trong chính quyền Hillary nếu họ ủng hộ Obama. Thay vào đó, Obama đã chọn Jim Steinberg, một cựu cố vấn an ninh quốc gia thường trực dưới thời Clinton, người đã tham mưu cho Obama trong cuộc tổng tuyển cử. Steinberg, lúc đó là hiệu trưởng Trường Hành chính Công Texas, khi đang cùng cháu gái dự bữa tiệc sinh nhật vào một ngày tháng Mười một, thì Obama gọi điện và đề nghị ông ta nhận công việc. Thất vọng vì không được bổ nhiệm làm cố vấn an ninh quốc gia, Steinberg đã đề nghị tổng thống nhượng bộ: Hãy cho tôi một vị trí thường trực tại các cuộc họp của Hội đồng An ninh Quốc gia. Điều này bảo đảm cho ông ta không bị loại khỏi các tiến trình hoạch định chính sách ở cấp cao. Nếu Hillary okay, thì tôi cũng okay thôi, Obama nói. Hillary thích ý tưởng đó, vì sự hiện diện của Steinberg có nghĩa là Bộ Ngoại giao có được hai ghế tại diễn đàn an ninh quốc gia, và Steinberg chấp nhận vị trí thứ hai bởi những mối quan hệ chặt chẽ lâu năm với những người trung thành của nhà Clinton.
Một ngày đầu tháng Mười hai, Hillary ngồi cùng Steinberg trong một căn hộ tại Central Park South, hướng về phía một khu vườn có vòi phun nước và sân chơi trải dài từ phía bắc trung tâm của Manhattan đến rìa nam của khu Harlem. Bà sử dụng căn hộ đó cho hàng loạt các cuộc gặp cá nhân với các cố vấn cũng như các nhân viên tiềm năng suốt mùa thu và mùa đông. Địa điểm đó cho phép bà gặp họ một cách kín đáo, tránh sự soi mói của cánh phóng viên đang cố lùng sục xem ai đang tìm kiếm công việc ở Bộ Ngoại giao. Căn hộ đó cũng có một bầu không khí ấm cúng tạo ra cảm giác thoải mái thân tình. Khi các vị khách bước ra khỏi thang máy, nhân viên mật vụ – đặc quyền dành cho cựu đệ nhất phu nhân – sẽ hướng dẫn khách đi vào cửa bên phải. Bên trong, với vai trò chủ nhà, Hillary vừa pha trà vừa lên kế hoạch thực hiện tầm nhìn đối ngoại của Obama. Căn hộ được trang hoàng với những bức ảnh gia đình Clinton, và Hillary luôn giữ một phong thái tự nhiên, nhất là khi ở trong phòng ăn nhìn ra khu công viên mờ ảo trong tuyết… Qua nhiều năm, Steinberg vẫn nghĩ căn hộ ấy thuộc về gia đình Clinton. Nhưng không phải. Nó thuộc về Doug Band.
Suốt ba tiếng đồng hồ, chiều đã chuyển sang tối, họ đã có khoảng thời gian mà Steinberg nhớ đến như “cuộc trò chuyện rất dài, rất vui, chúng tôi chia sẻ với nhau niềm phấn khích khi nhận công việc mới này, những cơ hội và những người mà chúng tôi muốn làm việc cùng, cũng như đề nghị họ làm việc cho Bộ Ngoại giao, và cách chúng tôi muốn sử dụng thời gian, hay cách để chúng tôi hiểu được vai trò của nhau.” Hillary vẫn chưa biết chính xác ai sẽ ngồi vị trí nào, nhưng bà có ý tưởng rất rõ về việc muốn ai giữ các vị trí cấp cao, chương trình nghị sự của bà sẽ như thế nào cũng như những sức mạnh nào mà bà có thể mang đến cho những vị trí đó.
Tất cả đã cho thấy hai mục tiêu chính bà muốn thực hiện tại Bộ Ngoại giao: phục hồi vị thế của Mỹ trên trường quốc tế, và đưa lý thuyết “quyền lực thông minh” vào chính sách đối ngoại của Mỹ. Thuật ngữ này được Joseph Nye, quan chức Lầu Năm góc dưới thời Clinton đưa ra, nó là cách nói vắn tắt về phương thức gây ảnh hưởng lên các quốc gia khác, kết hợp “quyền lực rắn” truyền thống – hay sức mạnh quân sự và các lệnh cấm vận kinh tế, với “quyền lực mềm” – khả năng thuyết phục các quốc gia khác thay đổi cách hành xử thông qua việc đưa ra chính sách “củ cà rốt” trợ giúp về kinh tế hay chính trị. “Quyền lực thông minh không phải là cứng hay mềm,” Nye đã viết vào năm 2004. “Nó là cả hai.” Biến đổi căn bản về mặt văn hóa sang quyền lực thông minh và việc sử dụng đồng thời các công cụ quyền lực rắn và mềm để gây ảnh hưởng lên một quốc gia tất nhiên sẽ cần thời gian. Cách tiếp cận toàn diện và tinh tế trong mối quan hệ với các nước khác thường không ngay lập tức có kết quả. Đối với những người ngả theo quyền lực mang tính cứng rắn, cách tiếp cận này về ngắn hạn có vẻ yếu đuối. Vẫn có cảnh ai đó tại Nghị viện làm ầm ĩ lên yêu cầu Nhà Trắng có những hành động mạnh mẽ hơn với một địch thủ, bất chấp việc áp dụng quyền lực theo cách đó có khi phản tác dụng.
Cấp bách hơn, Hillary dằn vặt với câu hỏi làm thế nào để bù đắp tổn thất mà Bush đã gây ra cho thanh danh nước Mỹ. “Trên thế giới đã có rất nhiều nghi vấn về cách thức nước Mỹ sử dụng sức mạnh của mình cũng như duy trì sức mạnh đó,” Steinberg nói. “Tôi nghĩ rằng, khát khao mạnh mẽ về khả năng tạo dựng hình ảnh một nước Mỹ khác cả trong lẫn ngoài nước là mục tiêu tối thượng của bà ấy. Tôi thấy bà ấy nhận thức được điều đó, bởi với tính cách và kinh nghiệm của mình, bà ấy là người đặc biệt thích hợp để phát đi thông điệp về một nước Mỹ kiểu khác, một nước Mỹ bảo vệ lợi ích quốc gia mình nhưng cũng tính đến những mối quan tâm và quan điểm của các quốc gia khác.”
Bằng cách đó, các mục tiêu nhằm sử dụng cách tiếp cận quyền lực thông minh và việc tái lập vị thế nước Mỹ trùng khớp nhau một cách hoàn hảo. Mỹ sẽ tăng cường ảnh hưởng của mình lên thế giới qua việc tranh thủ các cơ hội trong quá trình thu hút các quốc gia khác tham gia các quan hệ đối tác thương mại, đầu tư, nhân đạo và các liên minh quân sự. Đặc biệt, ngay từ những ngày đầu, Hillary đã tin rằng điều có ý nghĩa sống còn là mối quan hệ với các nước ở tất cả các cấp độ, từ cao nhất đến thấp nhất. Các lãnh đạo chính trị có trách nhiệm với người dân nước mình, do đó việc quan hệ với công chúng ở cấp cơ sở có thể thúc đẩy khả năng của Mỹ trong việc gây ảnh hưởng đến các quốc gia khác.
“Hillary đề cập ở mọi cuộc họp rằng ưu tiên trước hết và trên hết là làm thế nào khôi phục vị thế của Mỹ trên chính trường thế giới? Làm gì để đạt được điều đó? Và làm thế nào để tôi có thể tiếp cận không chỉ với các chính phủ mà còn với người dân các nước, để có thể chuyển tải thông điệp và tầm nhìn của chúng ta về tương lai, về những cam kết của Tổng thống Obama và cá nhân tôi đối với những giá trị mà chính nhờ đó người ta đã đề cao nước Mỹ?” nguồn tin từng tham dự các cuộc họp giai đoạn chuyển giao cho biết. “Dù đó là những mục tiêu trên hết hay ẩn sau mọi thứ, đó luôn là những điều lớn lao nhất mà bà ấy theo đuổi.”
Để Hillary có các hoạt động hiệu quả trên bình diện toàn cầu cũng như trong chính phủ Mỹ, bà cần Bộ Ngoại giao được sắp đặt cẩn thận. Thậm chí khi thảo luận hợp tác với Steinberg, Hillary cũng bắt đầu khoanh vùng ông ta lại. Steinberg là một nhà tư tưởng thiên phú trong lĩnh vực quan hệ công chúng và đối ngoại, nhưng lại kém trong việc quản lý những công việc thường nhật. Thay vì phải đảm nhiệm tất cả những sự vụ của một thứ trưởng ngoại giao, Hillary nói với ông rằng công việc của ông nên chia thành hai phần. Nghị viện đã phê chuẩn vị trí thứ trưởng thứ hai vào cuối nhiệm kỳ chính quyền Clinton, nhưng Bush đã không sử dụng vị trí đó. Giờ đây Hillary dự tính bổ nhiệm thêm Jack Lew, một chủ ngân hàng ở Wall Street, người từng đảm nhiệm chức vụ Giám đốc văn phòng ngân sách Nhà Trắng trong nội các của Bill Clinton. Là người Do Thái giáo Chính thống có lòng tận tâm và nhiệt huyết với việc công, Lew có thể sánh ngang Steinberg, nếu Hillary có thể thuyết phục ông ta từ bỏ công việc rất hấp dẫn tại Citigroup. Steinberg sẽ là thứ trưởng về chính sách đối ngoại và Lew sẽ là thứ trưởng phụ trách quản lý và ngân sách.
Tuy nhiên Lew không phải là lựa chọn hàng đầu của Hillary cho vị trí mới đó. Bà đã định dành nó cho Wendy Sherman, cánh tay phải của Albright tại Bộ Ngoại giao. Nhưng Sherman đã từ chối. Còn Lew từng hy vọng được bổ nhiệm chức chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia (NEC: National Economic Council) trong chính quyền Obama. Nhưng khi Tim Geithner được bổ nhiệm làm bộ trưởng Tài chính, thì Larry Summers, cựu bộ trưởng Tài chính của Clinton đã nắm vị trí đứng đầu NEC. Geithner đã mời Lew đến để bàn bạc về vị trí thứ trưởng Tài chính, và lúc Lew quay về văn phòng, lại nhận được tin nhắn từ Hillary về việc mời ông ta về Bộ Ngoại giao. Rahm Emanuel phản đối việc Lew về Bộ Tài chính, không phải vì những cân nhắc cá nhân, mà bởi ông này lo lắng rằng việc một giám đốc điều hành Citigroup lại đi nắm giữ công việc giải cứu Wall Street thì xem ra không hay cho lắm. Một tuần sau khi nói chuyện riêng rẽ với Geithner và Hillary về các vị trí thứ trưởng còn trống, Lew đã chấp thuận đề nghị của Hillary.
So sánh với vai trò của Sullivan trong việc xây dựng chính sách đối ngoại với tư cách thứ trưởng về nhân sự và Lew đảm nhiệm quản lý ngân sách, thì vị trí thứ trưởng của Steinberg đã bị chia thành nhiều mảnh nhỏ hơn. Hillary nói với Steinberg rằng, Holbrooke nên được bổ nhiệm làm đặc phái viên về Afghanistan và Pakistan, một vị trí mà về mặt kỹ thuật có thể báo cáo trực tiếp cho cả Obama và Hillary. Điểm nóng chính của thế giới sẽ do Holbrooke đảm nhiệm, vì thế ít nhất Bộ Ngoại giao cũng có ảnh hưởng nhất định trong việc định hình chính sách cho khu vực được gọi tắt là AfPak này.
Bà cũng muốn George Mitchell, cựu lãnh đạo Thượng viện, đảm nhiệm chức vụ đặc phái viên Trung Đông để xử lý xung đột giữa Israel và Palestine; và muốn Dennis Ross, một gương mặt kỳ cựu tại Washington, là cố vấn cấp cao cho mình về Iran. Nếu Steinberg cảm thấy bị đe dọa bởi một đội hình hạng A mạnh mẽ của Hillary đang được hình thành trước mắt mình, ông ta cũng sẽ không thấy phiền hà vì điều đó. Nhiều năm sau, ông ta vẫn khẳng định rằng mình rất hoan nghênh việc Lew chịu trách nhiệm về ngân sách, gọi đấy là quyết định tốt nhất về nhân sự của Hillary tại Bộ Ngoại giao. Các cố vấn thân cận nhất của bà vẫn quả quyết rằng Hillary nên chào đón Steinberg và không nên phân nhỏ công việc mới của ông ta để chia phần cho những người được ưu ái. Nhưng bằng chứng thể hiện rõ ở kết quả – lãnh địa dành cho vị thứ trưởng mới đã hẹp hơn rất nhiều – những trợ lý theo sát cả quá trình cho biết.
“Công bằng mà nói cách làm này lại có hiệu quả. Nhưng tôi không nghĩ đó là chủ ý nhằm giảm bớt quyền lực của Jim. Jim và Jack rất hợp nhau, cả Jim và Jake cũng vậy,” một quan chức cấp cao Bộ Ngoại giao cho biết. “Nhưng rõ ràng Jake là người của Hillary còn Jim thì không. Hillary muốn có người của bà ấy, và khi họ tới, lĩnh vực hoạt động của Jim nhỏ đi.”
Về cơ bản, dù họ có làm việc với ông ta, lượn quanh ông ta, hay tranh cãi công khai với ông ta hay không, các quan chức cấp cao của Bộ Ngoại giao vẫn nhận ra rằng Steinberg có thể đã bị gạt ra rìa, một trợ lý khác của Hillary cho biết.
“Dù về nguyên tắc Jack phụ trách ngân sách và quản lý, ông ta cũng đảm nhiệm vị trí cấp phó phụ trách vấn đề Af-Pak và Iraq. Nhiệm vụ của ông ta chủ yếu là công tác phát triển, phần công việc mà lẽ ra [Steinberg] cũng liên can,” một quan chức Bộ Ngoại giao cho biết. “Vai trò của Jake là để bảo đảm rằng Jim không phải là quan chức cuối cùng phụ trách về chính sách sẽ bàn bạc với HRC, cũng như để bảo đảm rằng các phát biểu về chính sách sẽ không bị Jim chi phối.”
Hillary cũng có những thay đổi quan trọng đối với vị trí thứ trưởng chủ yếu trong phạm vi những người thân cận của bà, chứ không phải cố ý gạt bỏ Steinberg, nhưng thực tế lại đã trở thành như thế. Dưới thời Bush, thứ trưởng có quyền hành đối với đội ngũ nhân viên hạng S ở hàng chục văn phòng và chỉ dưới quyền ngoại trưởng. Nhưng khi Hillary tiếp quản, bà đã đặt các thứ trưởng mới ra ngoài chuỗi quyền lực, đồng nghĩa với việc những người trung thành kỳ cựu của bà được bổ nhiệm để quản lý các văn phòng đó, gồm Capricia Marshall và Melanne Verveer, và họ không phải báo cáo với ai ngoài bà.
Việc sử dụng các đặc phái viên, các đại diện đặc biệt và các cố vấn cấp cao không có gì mới, nhưng so với những người tiền nhiệm, Hillary dường như hiểu rõ hơn về việc dùng họ thế nào để khơi thông sự trì trệ tại cơ quan mà bà sắp tiếp quản. Với việc cho họ tiếp cận trực tiếp ngoại trưởng cũng như các quyết định dứt khoát của Hillary, những trợ lý này có thêm quyền lực để có thể nhanh chóng đưa chính sách vào thực thi thông qua một bộ máy mà lâu nay những thay đổi thường bị chắn bởi các rào cản quan liêu. Những chức vụ này, giống như bộ máy nhân sự của Hillary, không yêu cầu phải được Thượng viện thông qua, nhưng vẫn có rủi ro cho uy tín của Hillary nếu một người đại diện đặc biệt nào đó của bà phá vỡ thỏa thuận hòa bình. Tuy nhiên, những nhà ngoại giao có tên tuổi vẫn dành cho Hillary một khoảng an toàn nhất định: nếu Holbrooke và Mitchell thất bại trong việc giải quyết một cuộc xung đột, thì họ chứ không phải bà sẽ là người phải đứng mũi chịu sào trong việc dùng những người mới chưa có tên tuổi.
Trong những cuộc nhóm họp với các nhân sự hàng đầu, bao gồm Steinberg, Mills, Sullivan và Rich Verma – một đồng minh mới đến từ Hạ viện, Hillary gây áp lực buộc họ phải tìm cách khôi phục hình ảnh nước Mỹ. Bà biết rất rõ, ngay từ những ngày đầu tiên, rằng hình ảnh và niềm tin của bà là những tài sản chính trong việc xây dựng bộ máy nhân sự tại Bộ Ngoại giao, cũng như trong sự tương tác của bà với các đồng nghiệp thuộc nội các của Obama, và quan trọng nhất đó là trong việc tái lập vị thế nước Mỹ trên trường quốc tế.
“Chắc không có ngoại trưởng nào khác có thể thuyết phục được Richard Holbrooke và có lẽ cả George Mitchell làm việc cho họ,” một quan chức cấp cao của Bộ Ngoại giao cho biết. Điều này cũng đúng với Lew, người đã chấp nhận đảm nhiệm vị trí thấp hơn so với chức vụ trước đây với tư cách một quan chức trong Chính phủ, nhưng vẫn hết sức trung thành với nhà Clinton dẫu biết rằng mình có thể đảm nhiệm một chức vụ cao hơn tại Bộ Ngoại giao.
Việc xây dựng đội ngũ nhân viên cấp cao khiến Hillary mất nhiều công sức vì một số nguyên nhân.
Thứ nhất, nhiệm vụ đại diện cho bộ mặt của nước Mỹ tại nước ngoài đòi hỏi bà phải đi lại liên tục và phải ủy quyền cho các cố vấn thân cận quản lý hầu hết các công việc thường nhật. Các bộ trưởng tiền nhiệm đã trở thành nạn nhân của những cạm bẫy mà Hillary đang cố tránh. Thất bại của Albright trước các quan chức thâm niên tại Bộ Ngoại giao cho thấy bà ấy đã phải chiến đấu chống lại bộ máy quan liêu, thay vì huy động họ vào việc ủng hộ các mục tiêu của mình. Còn Condoleezza Rice thì đã sa lầy vào không biết bao nhiêu cuộc khủng hoảng trong khi có nhiều vấn đề khác phải quan tâm. “Trong gần tám năm qua, chúng tôi đã phải tập trung vào các mối đe dọa, đó luôn là một phần trong chính sách đối ngoại, nhưng chính sách đối ngoại của chúng ta không thể chỉ có thế,” một quan chức cấp cao tham gia quá trình chuyển giao cho biết.
Thứ hai, những nhân vật quan trọng như Lew đã thúc đẩy mối quan hệ giữa Bộ Ngoại giao với Nhà Trắng và các cơ quan khác, điều này giúp vai trò của Hillary được nâng cao không chỉ trong quá trình ra quyết định mà còn cho thấy cách dùng người mới của bà nhằm khôi phục ảnh hưởng của Bộ Ngoại giao.
Thứ ba, trong mô hình hoạt động của Hillary, thông tin được phân loại rất kỹ và các tuyến thẩm quyền thường được truyền qua các kênh không chính thức hơn là qua các kênh quan liêu chính thức, do đó cần đến năng lực vận dụng quyền lực thực tế mới vận hành được. Bà ấy cần những người thân cận, những người có thể thực thi ý chí của bà.
Suốt những phiên họp tại căn hộ ở Manhattan, Hillary đã ghi chú rất nhiều hồ sơ pháp lý, chúng sẽ thành một công cụ bổ trợ quan trọng cho bà trong bốn năm tại Bộ Ngoại giao. Tuy nhiên, khi bà cân nhắc bổ nhiệm các vị trí, những chi tiết trong thỏa thuận của Obama cho phép bà đưa người vào Bộ Ngoại giao đã luôn là điều khiến các trợ lý của tổng thống đắc cử phải lấn cấn, và đôi khi điều đó cũng thuận tiện cho bà. Khi nói chuyện với Bob Hormats, Giám đốc điều hành của Goldman Sachs và là người bạn lâu năm của gia đình Clinton, Hillary bảo ông rằng bà không thể đề cử ông giữ chức Thứ trưởng như đã dự định. “Tôi phải giành giật từng chức vụ với Nhà Trắng,” bà nói, “vì đây vốn là những vị trí phải do tổng thống bổ nhiệm.”
Hillary đã bắt đầu xem xét các nhân sự tài năng mà bà được kế thừa. Theo truyền thống đối với các vị tân ngoại trưởng, bà và đội ngũ của mình làm việc tại một dãy phòng tạm ngay tầng trệt, nơi các quan chức đương nhiệm của Bộ Ngoại giao có thể yết kiến bà, nhằm tránh những bất tiện cho ngoại trưởng mới khỏi phải đi một vòng khắp các phòng ban. Bà đã dẫn theo Sullivan tới đây một cách có chủ đích vào ngày 9 tháng Mười hai, tại đó bà đã gặp Bill Burns và Pat Kennedy cùng các quan chức khác.
Burns, thứ trưởng phụ trách chính trị và là quan chức cấp cao nhất phụ trách công tác đối ngoại, là người đầu tiên đón Hillary trong buổi giới thiệu. Burns là chuyên gia về Trung Đông và Nga, những nơi ông từng là đại sứ của chính quyền Bush. Ông có bộ râu quai nón bạc trắng được tỉa tót cẩn thận theo phong cách ngoại giao. Ông đã dành hai giờ để giới thiệu với Hillary về các vấn đề của thế giới và Hillary rất ấn tượng với phần trình bày của ông. Bà cũng hỏi ông về cựu Ngoại trưởng James Baker và trao đổi về những chi tiết mà bà nắm bắt được qua những gì ông đề cập. Chủ yếu Burns hy vọng giúp bà kết nối các vấn đề khác nhau trên thế giới và nhấn mạnh tầm quan trọng của một số vấn đề ưu tiên vốn luôn tồn tại khi phải đối mặt với các cuộc khủng hoảng xảy ra hằng ngày.
Ngoài vấn đề chính sách đối ngoại, Hillary cũng hỏi Burns về thể chế và nhân sự – một cách dò xét cho thấy sự khôn ngoan chính trị của bà. “Đó là những người phục vụ trong cả lĩnh vực đối ngoại lẫn dịch vụ công, nhiệt tình và có nhiều kinh nghiệm,” ông trả lời. “Chỉ cần để ý một chút bằng cách gặp hết mọi người khi họp chung tại hội trường lớn, và dạo một vòng thăm hỏi các quan chức cấp thấp, hay điều gì đó tương tự.” Ông ngạc nhiên một cách dễ chịu vì bà không chỉ nghe theo những lời khuyên của ông, mà còn kiên trì nỗ lực để giành được trái tim và khối óc của mọi người trong Bộ.
Hillary rất ấn tượng với Burns. “Tôi sẽ phải giữ lại ông ta,” bà nói với Sullivan.
Cũng tương tự với Pat Kennedy, thứ trưởng phụ trách quản trị, người đã trở thành một trong những nhân vật quyền lực nhất trong bộ máy ngoại giao nhờ tài quản lý vi mô và điều hành bộ máy quan liêu. Nếu một nhân viên của Bộ Ngoại giao muốn có một chiếc điện thoại BlackBerry hoặc các công văn điều động để thực hiện một nhiệm vụ cho Hội đồng An ninh Quốc gia, họ đều phải được Kennedy ký duyệt. Thường thì cách quản lý của ông ta khiến cấp dưới tức điên, nhưng ai cũng cần điều gì đó từ Kennedy, và ông ta cũng ban phát rất nhiều ân huệ suốt những năm qua. Hillary vẫn có ấn tượng với Kennedy từ hồi chồng bà còn đương nhiệm. Qua việc giữ lại Burns và Kennedy, tương ứng với những thiết chế được quý mến nhất và những thiết chế của thiết chế, Hillary gửi đi thông điệp đến các nhân viên kỳ cựu tại Bộ Ngoại giao rằng quan điểm của họ luôn được lắng nghe, ngay cả khi bà bổ nhiệm người thuộc nhóm thân tín trung thành vốn là trợ lý nhân sự và trợ lý chính trị của bà để thực thi quyền lực hậu trường.
Trong khi Hillary cố gắng xây dựng đội ngũ và chuẩn bị cho phiên điều trần trước Thượng viện để được thông qua, Bill cũng điều chỉnh mọi hoạt động của mình để không làm ngăn trở công việc của bà. Doug Band đã giúp đàm phán và đạt được một bản ghi nhớ gồm năm trang giữa Bill Clinton và nhóm công tác phụ trách việc chuyển giao của Obama, trong đó giới hạn các hoạt động quốc tế của vị cựu tổng thống. Bản thỏa thuận đề ngày 12 tháng Mười hai; bốn ngày sau đó nó đã được ký kết giữa Bruce Lindsey, luật sư lâu năm của Bill Clinton và Valerie Jarrett, tâm phúc của Obama. Văn bản đề cập việc Bill sẽ công bố tên các nhà tài trợ cho Quỹ Clinton, tách Quỹ Sáng kiến Toàn cầu Clinton (CGI: Clinton Global Initiative) khỏi quỹ đó, tách Clinton ra khỏi vai trò người ủy thác chính thức của CGI, chấm dứt việc huy động tài chính cho CGI và không cho phép CGI nhận tiền từ các chính phủ nước ngoài trong thời gian vợ ông đang công tác tại Bộ Ngoại giao. Ngoài ra, Nhà trắng và Bộ Ngoại giao sẽ được xét duyệt lịch trình các phát biểu của ông. Một số trợ lý của Clinton rất khó chịu với những giới hạn mới áp dụng cho cặp đôi cựu đệ nhất nhà Clinton, cảm thấy rằng họ đã bị ép buộc phải chịu những giới hạn trên và dưới, điều mà chỉ nên quy định với người khác.
Trước phiên điều trần vài ngày, Hillary gặp Joe Biden – phó tổng thống được bầu, cựu chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Nghị viện, để tìm kiếm lời khuyên từ ông ta; bà cũng tranh thủ trao đổi với tất cả các cựu ngoại trưởng còn sống, từ Henry Kissinger đến Condi Rice. Khi có những tin đồn đầu tiên về việc Obama sẽ chọn Hillary, một số người thân cận với Rice đã bác bỏ điều đó, nhưng bản thân Rice bằng trực giác đã cảm nhận rằng điều này là sự thật. Bà đã gọi điện chúc mừng Hillary ngay sau khi có thông báo chính thức về lựa chọn của Hillary. Sau tám năm giữ vai trò cố vấn an ninh quốc gia và ngoại trưởng, Rice rất nóng lòng trao lại công việc cho người kế nhiệm để có thể quay lại môi trường học thuật tại Standford. Rice đã gặp Hillary tại New York và mời Hillary ăn tối tại Watergate, một trong những địa danh chính trị nổi tiếng nhất Washington.
Hillary hiểu rằng tiến trình phê chuẩn của Nghị viện sẽ ít bị mắc mớ về hình ảnh của bà trong công chúng hơn là năng lực của bà trong việc kết nối với các đồng nghiệp cũ ở mức độ cá nhân. Bà cố gắng tiếp cận từng thành viên trong Ủy ban Đối ngoại Nghị viện, một động thái rất có giá trị nhằm giành được sự ủng hộ, cũng như xoa dịu những ý kiến đối lập tiềm tàng. Với một dấu hiệu tôn trọng – và cũng do còn những mối quan tâm lớn hơn đối với các vị trí cần bổ nhiệm khác – Nhà Trắng gần như đã để cho Hillary một mình thúc đẩy các nỗ lực để được phê chuẩn, chỉ để hai cố vấn an ninh quốc gia của Obama là Ben Rhodes và Denis McDonough dự phiên chuẩn bị cuối cùng của bà.
“Điều đầu tiên bà phải làm là xúc tiến các cuộc gặp nhã nhặn, nhằm thu hút và kêu gọi sự ủng hộ của các thượng nghị sĩ, kiểu như, ‘Tôi có thể đến văn phòng của ngài để nghe ngài giảng giải về chính sách đối ngoại và những đặc quyền của Thượng viện, chỉ trong khoảng 45 phút được không?’ Và sẽ có nhiều người nói, ‘Tôi quá hiểu mọi chuyện. Tôi biết rõ từng thượng nghị sĩ này,’” một quan chức Nhà Trắng liên quan đến các vụ phê chuẩn đã kể lại một cách kín đáo. “Rõ ràng về mặt này, bà ấy rất quyến rũ. Bà ấy ứng xử một cách hoàn toàn chuyên nghiệp… Tôi nghĩ rằng ngay từ đầu bà ấy đã làm mọi chuyện rất tốt, kiểu như ta vẫn nói, ‘Mọi chuyện sẽ ổn thôi.’ Chúng tôi sẽ dõi theo bà ấy, nhưng chúng tôi sẽ không đi từ văn phòng này sang văn phòng khác với bà ấy, bởi lẽ chúng tôi cũng sẽ phải tham gia với các bộ trưởng khác được chỉ định vào nội các.”
Cuối cùng thì Clinton, người mà các trợ lý nói rằng đang bước sang giai đoạn được đánh dấu bằng sự “tái trỗi dậy của một Hillary phi chính trị,” chỉ cần thuyết phục các đồng nghiệp của mình rằng bà là một người đủ phẩm chất và trình độ trong phiên điều trần của Ủy ban Đối ngoại. Cho rằng sẽ có những đòn tấn công không mong chờ từ phía Bộ trưởng Tư pháp Eric Holder, Hillary đã dành thời gian vài tuần cùng các trợ lý của mình hối hả chuẩn bị cho sự kiện quan trọng tại Bộ Ngoại giao. Bà có hai mục tiêu chính, một người trong gia đình Clinton cho biết. “Một là, phát đi thông điệp về việc bà sẽ là một ngoại trưởng như thế nào và sẽ đương đầu các vấn đề ra sao. Thứ hai là xử lý phần hỏi-đáp. Những câu hỏi hóc búa nhất sẽ là về tài chính và quỹ từ thiện.”
Không ai có thể đoán trước tương lai, và những lời hứa tại Washington đôi khi có thể tan thành mây khói, nhưng trong suốt thời gian công tác tại Bộ Ngoại giao, Hillary luôn nỗ lực theo đuổi lập trường và chương trình nghị sự mà bà đã nêu ra trong phiên điều trần một cách xuất sắc. Cho dù đó là dấu hiệu của một chiến lược thích hợp hay đó là sự cứng đầu, thì tính liên tục là không thể bác bỏ.
Trong buổi đọc diễn văn khai mạc, với Chelsea ngồi ngay ngắn sau lưng bà, còn Bill đang ở nhà cùng với mẹ của Hillary xem qua truyền hình, bà đã vạch ra khung chính sách đối ngoại cho Obama. Thay vì tạo ra một Học thuyết Obama, bà cho rằng tổng thống sẽ không có học thuyết nào cả trong việc xử lý quan hệ với các cường quốc khác. “Tổng thống được bầu và tôi tin tưởng rằng chính sách đối ngoại cần phải dựa trên sự kết hợp giữa các nguyên tắc và thực tế, không nên bị bó hẹp trong ý thức hệ,” bà nói. “Tôi tin rằng lãnh đạo nước Mỹ đã từng mong muốn như thế và vẫn tiếp tục theo đuổi điều đó. Chúng ta cần phải sử dụng thứ được gọi là “quyền lực thông minh,” đó là mọi công cụ mà chúng ta có sẵn – từ ngoại giao, kinh tế, quân sự, chính trị, pháp lý đến văn hóa – để chọn ra một công cụ hoặc một bộ các công cụ thích hợp với từng tình huống. Với quyền lực thông minh, ngành ngoại giao sẽ đóng vai trò tiên phong cho chính sách đối ngoại của chúng ta.”
Bà cũng chỉ ra lý thuyết về việc kết hợp sức mạnh quân sự, ngoại giao với phát triển, đặc biệt tại những khu vực nguy hiểm nhất trên thế giới. Cụ thể, bà khẳng định rằng, Mỹ có trách nhiệm cải thiện cuộc sống của người dân Pakistan và Afghanistan nhằm tạo cơ sở cho việc loại bỏ dần các mầm mống của Al Qaeda và Taliban. Bà đưa người nghe đi một vòng qua các vấn đề toàn cầu, tóm lược cách tiếp cận mà tổng thống có thể dùng trong mối quan hệ với Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, các quốc gia châu Phi, các đồng minh lâu đời ở châu Âu.
Điểm nhấn ẩn trong bài phát biểu là bà muốn tăng cường sự hiểu biết tại Bộ Ngoại giao, cũng như nhấn mạnh tới những hành động gây ảnh hưởng từ các tác nhân phi nhà nước – các tổ chức khủng bố, các phong trào chính trị và các nhóm xã hội – những nhân tố có thể mở ra cơ hội về các đối tác mới nhưng cũng có cả những tai họa tiềm tàng. Vào lúc “toàn cầu hóa” đã trở thành một mệnh lệnh, bà nói, “chúng ta đang sống trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau chặt chẽ, trong đó các luật lệ và biên giới cũ không còn duy trì như trước được nữa – một thế giới có cả những hứa hẹn và hiểm họa của thế kỷ XXI không thể bó hẹp trong biên giới quốc gia hoặc những khoảng cách xa xôi.”
Trong phần hỏi-đáp, phần có thể biến không khí thành thù địch, nhóm của Hillary phải tính trước xem thượng nghị sĩ nào có thể sẽ đối địch với bà, và quyết định xem bà cần phải ứng phó ra sao với hàng loạt câu hỏi về cả chính sách đối ngoại lẫn các hoạt động quốc tế của Bill. Điểm cuối cùng này là ẩn số X cho nhóm của Hillary, dù vẫn còn nhiều khúc mắc khác cần phải giải quyết. Có thể các nghị sĩ sẽ muốn điều chỉnh quan điểm diều hâu của bà cho phù hợp hơn với các quy định chính sách của Obama. “Bà ấy không thể khiến tổng thống mất mặt. Bà ấy không được thể hiện theo kiểu đang cố gắng xây dựng chính sách đối ngoại của chính mình,” một trợ lý nói với tờ Politico. Tờ New York Times, vốn chưa bao giờ tỏ ra ủng hộ Hillary trên cương vị mới, cũng tung ra những mồi lửa nghi ngờ trên số báo Chủ nhật ngay trước phiên điều trần. Trong khi ủng hộ việc thông qua chương trình của Hillary, tờ Times lại đề nghị ủy ban phụ trách phiên điều trần phải kiểm tra “sự liên can rắc rối giữa vị trí mới của bà Hillary với các hoạt động từ thiện và công việc của chồng bà.”
Hillary mất sáu tiếng để giải đáp những câu hỏi nóng bỏng về các chủ đề đối ngoại rắc rối, từ Israel đến Iran. “Mỗi sáng tôi thức dậy không chỉ để suy nghĩ về những mối đe dọa và hiểm nguy mà chúng ta phải đối mặt,” Hillary trình bày với ủy ban. “Bất chấp những kẻ thù và các vấn đề phức tạp, ngoài kia vẫn có rất nhiều cơ hội cho nước Mỹ.” Lời tuyên bố đó giống một câu nói của Rice, người vốn nổi tiếng về việc chiết tự từ tiếng Trung Quốc để thấy từ khủng hoảng được cấu tạo từ các chữ mang nghĩa “sự đe dọa” và “cơ hội.” David Vitter, một đảng viên Đảng Cộng hòa bang Louisiana, được biết đến là một khách hàng của Quý bà DC, lại cáo buộc Bill đã đưa ra một “bãi mìn xung đột lợi ích trị giá hàng triệu đô-la”, và nói rằng ông ta sẽ không bỏ phiếu cho bà. Cuối cùng, chỉ còn mình Vitter không tán thành. Và ủy ban đã bỏ phiếu với tỉ lệ 16-1, khuyến cáo Thượng viện phê chuẩn việc bổ nhiệm Hillary.
Dù đã chuẩn bị rất kỹ, nhưng vẫn còn chút băn khoăn trong Bill về việc liệu bà có suôn sẻ vượt qua tiến trình bổ nhiệm hay không. Trong vòng chưa đầy một tuần trước khi được phê chuẩn chức vụ, một bữa tiệc cá nhân cảm động đã được tổ chức cho bà vào một buổi tối tại Phòng LBJ trên Capitol Hill, nơi các thượng nghị sĩ vẫn có buổi ăn trưa hằng tuần để thảo luận về chính sách, chỉ cách phòng họp của Thượng viện mấy bước chân. Hillary rơm rớm nước mắt, ôm hôn các đồng nghiệp, mỉm cười để chụp ảnh, và cảm ơn mọi người vì tình bạn và sự ủng hộ, đồng thời nhắc nhở rằng dẫu bà đã rời Thượng viện, bà cũng “chỉ ở quanh đâu đấy” tại Foggy Bottom.
Trong phần phát biểu ngắn gọn, cũng có Chelsea bên cạnh, Hillary nói với các đồng nghiệp rằng, thời gian phục vụ tại Thượng viện “là một trải nghiệm tuyệt vời trong cuộc đời tôi,” và việc phải chia tay họ cũng như “chia tay gia đình.”
Harry Reid – lãnh đạo phe đa số tại Thượng viện, người ủng hộ ngầm cho Obama, từng tìm cách bác yêu cầu của các thượng nghị sĩ khi họ muốn vận động để Hillary được giao một vai trò quá sức tại Thượng viện – nghẹn ngào phát biểu bằng một giọng truyền cảm nổi tiếng, run run đứt quãng. “Chia tay bà thật sự là một nỗi buồn ngọt ngào, tôi đã có những kỷ niệm đẹp đẽ về bà,” Reid nói, dẫu với những người trong cuộc thì rõ ràng những lời đó thật giả dối. “Tôi cảm thấy muốn khóc.”
Mắt của Hillary nhòe đi, chủ yếu vì bà phải rời Thượng viện sau tám năm công tác, hơn là vì những lời của Reid. “Đây không phải là lời chia tay,” bà nói “Đây chỉ là một bước đi, Harry… Chúng ta sẽ vẫn luôn nhớ đến nhau.”
Hillary không chỉ được biết đến nhiều trong các cuộc họp lãnh đạo, mà còn được chào đón tại các hoạt động bên ngoài. Các thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa như Susan Collins, Lindsey Graham, Bob Corker, Olympia Snowe, Johnny Isakson và John McCain cũng bày tỏ lòng tôn trọng bà, đánh giá cao tám năm công tác của bà tại Thượng việnTrong buổi tiếp tân còn có sự tham dự của một số thành viên trong nhóm của Obama – bao gồm Rahm Emanuel, người đã từng làm việc trong chính quyền Clinton và là chánh văn phòng nội các mới của Obama; John Podesta và chồng mình là Larry Summers, cựu bộ trưởng Tài chính nay là cố vấn kinh tế cho Obama.
Các đồng nghiệp của Hillary lần lượt chia sẻ những câu chuyện của họ và chúc mừng bà. Chuck Schumer, Thượng Nghị sĩ New York nói rằng ông ta “hoàn toàn tin tưởng” nhà ngoại giao hàng đầu sắp tới, ông cũng dự đoán bà sẽ trở thành “ngoại trưởng xuất sắt nhất của quốc gia từ trước đến nay.” Đó không phải là thời điểm dễ dàng để Schumer bày tỏ sự lịch thiệp. Ông ta cũng bị các ống kính săn đuổi giống như Hillary, khi mà hiện tại ông ta là người đứng đầu đoàn đại biểu New York.
Hillary mỉm cười với các đồng nghiệp, nhanh chóng trở lại công việc và tuyên bố rằng mục tiêu của bà là tạo ra “một mối quan hệ thực chất giữa Bộ Ngoại giao và Nghị viện.”
“Chúng ta hãy cùng nỗ lực cho một tương lai tốt đẹp hơn,” bà nói. Đó cũng là điểm đặc trưng của Hillary: luôn hướng về phía trước, tích cực, với một chút tinh ranh.
Vào thứ Sáu, trước ngày nhận việc tại Bộ Ngoại giao, Hillary và Huma đã có một chuyến thăm để nhận bàn giao công việc tại Foggy Bottom. Rice và các trợ lý đã làm việc với nhóm chuyển giao của Bộ Ngoại giao thuộc chính quyền Obama trong suốt mấy tuần, và họ muốn bảo đảm rằng việc chuyển giao diễn ra suôn sẻ, không lặp lại tình trạng thù địch trong giai đoạn chuyển giao giữa Clinton và Bush tám năm trước. Có chuyện khôi hài là các nhân viên của Bush từng phải cố gắng để bảo đảm không xảy ra việc một trợ lý chính trị nào đó tháo tung bàn phím hay đổ rác ra văn phòng. Khi Hillary và Huma lên tầng bảy để gặp Rice vào thứ Sáu đó, các trợ lý của Rice ngay lập tức đưa ra hai nhận xét về ngoại hình. Hillary thì thấp hơn họ nghĩ, còn Huma thì thật quyến rũ. “Huma kìa,” một trợ lý của Rice thì thào với một người khác trong sự kính nể.
Hillary gặp riêng Rice trong văn phòng, sau đó Rice dẫn bà đi gặp các nhân viên – một số người sẽ rời đi trong giai đoạn chuyển giao, số khác sẽ ở lại. Toàn bộ chuyến thăm kéo dài 90 phút và được mô tả là diễn ra trong bầu không khí rất ấm cúng và thân mật giữa Hillary và Rice. Những lần làm việc chung trong giai đoạn này, nhóm của Rice có một ấn tượng sâu sắc trong giao tiếp với Hillary: Hillary vẫn gọi những người trung thành của mình là “chúng tôi” và những người của Obama là “họ” – một nguồn thạo tin cho hay.
Ngày 21 tháng Một năm 2009, toàn thể Thượng viện bỏ phiếu phê chuẩn Hillary, với tỉ lệ 94/2. Khoảng một giờ sau, bà đã tuyên thệ nhậm chức, trở thành người có vị trí thứ tư sau tổng thống. Khi chính thức được phê chuẩn, Hillary đã tiến hành cắt đặt nhân sự như đã được hứa. Hàng chục trợ lý trung thành của gia đình Clinton từ các nơi như Nhà Trắng, Thượng viện, chiến dịch vận động tranh cử tổng thống, cho đến Ủy ban Hành động chính trị HillPac, lần lượt nắm giữ các vị trí trong thế giới mới của bà. Đề xuất của Obama là chỉ dấu về sự quan tâm cao độ của ông trong việc nắm được Hillary.
Nhưng, hầu hết thành viên trong nhóm của Obama vẫn ít có giá trị với Hillary cũng như với người của bà. Một phần do dư âm của cuộc chiến giữa Plouffe và Mills xung quanh việc giải quyết các khoản nợ của Hillary. Phần nữa là sự băn khoăn của nhóm mới gia nhập Nhà Trắng trước việc gia đình Clinton đặt mục tiêu cao nhất là phục vụ Obama và sau đó mới đến Hillary, trong khi tất cả họ đều đặt lòng trung thành với Hillary lên cao nhất. Điều tốt đẹp nhất mà Obama có thể hy vọng là Hillary giúp những người của bà hiểu rõ rằng trung thành với ông cũng có nghĩa là trung thành với Hillary. Một phần khác nữa, như một trong số các trợ lý của tổng thống nói, đó là “họ không hề đưa bất kỳ người nào của Obama vào Bộ Ngoại giao.” Sau sự cố Favreau với bức ảnh được cắt ra của Hillary, hai phe đã gắn bó với nhau trên tinh thần lợi ích đôi bên, nhưng phải mất nhiều năm để một số trợ lý của Obama có thể gần gũi với bà. Nói cách khác, cụm từ chúng-tôi-và-họ của Hillary không chỉ là cách đặt vấn đề một chiều.
“Nó giống như cuộc Nội chiến. Chúng tôi thuộc về miền Bắc và chúng tôi đã đánh bại các anh,” một trợ lý của Obama nói hồi tháng Một năm 2013 để bày tỏ thái độ về cách tiếp cận của phía Hillary. “Đó vẫn là cảm giác của rất, rất nhiều người, nhiều năm sau đó trong chính quyền. Tôi có thể nói là thậm chí đến tận hôm nay.”
❀ ❀ ❀
[1] Viết tắt từ State, chỉ Bộ Ngoại giao. (ND)
[2] Hiệp định khung về hòa bình ở Bosna và Hercegovina, cũng được gọi là Thỏa thuận Dayton, Hiệp định Dayton, Nghị định thư Paris hay Hiệp định Dayton-Paris, là một hòa ước đã đạt được tại căn cứ không quân Wright-Patterson gần Dayton, Ohio vào tháng 11 năm 1995, và chính thức được ký tại Paris ngày 14 tháng 12 năm 1995. Hòa ước này đã chấm dứt cuộc chiến kéo dài 3,5 năm ở Bosnia. (BT)