CÔ GÁI CỦA OBAMA

Hillary Clinton: Bí Mật Quốc Gia Và Sự Hồi Sinh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 32 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
9

❊ ❊ ❊

Khi những quan chức hàng đầu của Obama họp tại Văn phòng Nội các ở West Wing vào ngày 10 tháng Chín năm 2009, họ rất lo lắng về nỗ lực của tổng thống nhằm thúc đẩy chương trình bảo hiểm y tế. Mùa hè Tea Party [1] đã đơm hoa kết trái. Khắp cả nước, các nhà lập pháp hứng chịu những lời chỉ trích tại các cuộc họp ở tòa thị chính ngay trong khoảng thời gian lẽ ra là kỳ nghỉ tháng Tám, và phần chương trình nghị sự còn lại đang dồn dập đổ xuống thành vùng xoáy nguy hiểm. Liệu tất cả sự hy sinh đó có đáng không? Dù sao cũng không đáng đối với Chính phủ này. Lẽ ra họ chỉ việc yên vị trên những chiếc ghế bọc da có gắn tên mình quanh chiếc bàn họp hình bầu dục bằng gỗ gụ do Richard Nixon tặng, hết bộ trưởng này đến bộ trưởng khác than phiền về những đề xuất ưu tiên của họ bị gạt khỏi nghị sự chỉ vì cuộc tranh luận về dự án y tế, vốn cũng gây tổn hại cho vị thế của Đảng Dân chủ.

Ngồi ngay bên phải tổng thống, Hillary quan sát với vẻ lo lắng. Bà đã thất bại trong trận chiến nhằm cải cách hệ thống bảo hiểm y tế quốc gia vào năm 1994. Trên cương vị ngoại trưởng, bà tránh xa những đánh giá của bất kỳ ai khác ngoài Obama và các trợ lý thân cận nhất của ông về chương trình nghị sự trong nước của tổng thống. Thậm chí, nhiều quan chức y tế trong Nhà Trắng đã không nhận ra rằng bà đưa ra lời khuyên “cửa sau“ cho Rahm Emanuel, trưởng bộ phận nhân sự, và Jim Messina, phó bộ phận nhân sự, về việc làm thế nào để tiếp cận các thành viên Nghị viện. Bà biết họ, và biết cả tình trạng chính trị phức tạp ở quận và bang của họ, cũng như tất cả những người khác ở West Wing.

“Một hoặc hai nghị sĩ có thể dừng lại và hỏi tôi đang nghĩ gì,” Hillary nói. “Tôi nghĩ ‘Các vị cần làm việc với tổng thống và cố gắng để hoàn tất việc ấy.’”

Trong những cuộc họp nhóm nhỏ, đôi khi là phiên họp hằng tuần, mặt đối mặt với Obama, Hillary đóng vai một đầu lĩnh cổ vũ cho tổng thống. “Tôi luôn bên cạnh ông. Tôi luôn đằng sau ông,” bà nói với tổng thống. Nhưng nói chung bà rất trầm lặng. Bất cứ chi tiết nào về những cuộc gặp gỡ của bà nếu được tiết lộ đều có thể gây hậu quả; và sẽ có hàng loạt câu hỏi rằng bà có vượt quá ranh giới truyền thống, đó là các ngoại trưởng thường đứng ngoài chính trị trong nước. Chính Bill Clinton đã công khai đề cao chính sách chính trị trong nước. “Những điều tổng thống đang làm là đúng đắn,” ông phát biểu khi trả lời phỏng vấn tạp chí Esquire. “Cả về phương diện đạo đức và chính trị.”

Giờ đây khi những lời chỉ trích liên tiếp nhắm vào Obama, thông tin chống lại kế hoạch của ông liên tục được phát trên các kênh tin tức quốc gia mỗi tối, và một số người thuộc Đảng Dân chủ lo ngại rằng vấn đề này sẽ ảnh hưởng đến nhiệm kỳ tổng thống của Obama, điều ông cần làm là đấu tranh cho đường lối của mình ngay trong Chính phủ. Hillary biết rõ vấn đề này: không chỉ những đảng viên Cộng hòa đã giết chết đề xuất của bà – mà một số đảng viên Dân chủ cũng để lại dấu vân tay của mình ở hiện trường tội ác. Lần đầu kể từ khi chiến dịch bảo hiểm y tế của bà được thúc đẩy, Đảng Dân chủ chiếm đa số tại Nhà Trắng, Thượng viện và cả Hạ viện; Hillary biết cột mốc này đáng giá biết bao để buộc những người Dân chủ, kể cả trong nội các của tổng thống, phải tập trung vào mục tiêu đó. “Bà ấy đã sử dụng một vài giai thoại hoặc câu chuyện từ khi còn là đệ nhất phu nhân để tạo lực đẩy cho thông điệp của mình,” một trợ lý hiện thời của Obama nói.

Sau khi lấy lại thế chủ động trong phòng họp, Hillary nói với những đồng nghiệp của mình những gì mà chồng bà đã nói với tờ Esquire, rằng đó là điều đúng đắn cần làm. “Đây là thời điểm để thực hiện,” bà nói. “Tất cả chúng ta đều phải làm. Mọi người trong căn phòng này đều hiểu tầm quan trọng của nó ra sao.” Những lời chê bai, than vãn ngừng lại. Đây là thời điểm mấu chốt để nỗ lực cải cách chính sách bảo hiểm y tế.

Cuối buổi họp, Obama nói một cách ngắn gọn với các phóng viên. “Đây là thời điểm thích hợp, và chúng tôi đang quyết liệt thúc đẩy để việc đó được hoàn tất,” ông nói. “Tất cả thành viên Chính phủ đều tham gia.” Đầu cuộc họp, mọi chuyện đã không được như vậy, nhưng sự hỗ trợ của Hillary chính là điều mà Obama cần có để giải tỏa bớt những nghi ngờ.

“Tôi nghĩ, Xem này, tổng thống đang có được nhiều sự ủng hộ từ Nghị viện hơn chồng mình hồi những năm 1993-1994, nên tổng thống có thể tạo được thế đa số,” Hillary nói. “Nếu những người thuộc Đảng Cộng hòa ngăn chặn việc thông qua chính sách này, bất chấp những nỗ lực của tổng thống – và họ đã thể hiện điều đó – thì ông ấy vẫn có thể đề xuất lưỡng viện thông qua, thông thường điều này không dễ dàng trong nhiệm kỳ đầu của một tổng thống.”

“Tôi tuyệt đối tin tưởng,” bà nói, “rằng tổng thống cần tiến lên.”

Những nỗ lực cá nhân nhằm thúc đẩy dự luật bảo hiểm y tế của Hillary – và cả những gì bà đã cùng Emanuel và Messina thực hiện nơi hậu trường – đang khích lệ Obama và đưa ra lời khuyên về chiến lược cho ông, và bây giờ lại phát biểu nhân danh tổng thống trong cuộc họp nội các then chốt đã giúp thắt chặt quan hệ giữa bà và Obama. Với những trợ lý còn hoài nghi, bà đã chứng tỏ mình là một đồng minh trung thành trong năm đầu tiên còn hỗn độn của chính quyền Obama.

Nhưng Hillary vẫn cảm thấy trong một vài trường hợp Nhà Trắng đã không đáp ứng các yêu cầu ưu tiên của bà. Một dịp hiếm có, vào mùa hè năm 2009, Hillary trách khéo tổng thống vì không ủng hộ việc bổ nhiệm người đứng đầu USAID – giờ trực thuộc Bộ Ngoại giao. “Quá trình dọn dẹp và hiệu chỉnh là một cơn ác mộng,” bà phát biểu trong cuộc gặp tại Tòa Thị chính của thành phố với các nhân viên USAID. “Bực không lời nào tả được. Tôi đã hối thúc quyết liệt vào tuần trước khi biết sẽ tiếp nhận quyết định của Nhà Trắng để có thể ở đây và nói với các bạn rằng sự hỗ trợ vẫn được duy trì và ai đó có thể sớm được bổ nhiệm, nhưng tôi đã thất bại – thế đấy – bức thông điệp phản hồi là: ‘Chúng tôi vẫn chưa sẵn sàng.’” Tuy vậy, nhìn chung căng thẳng trong vấn đề nhân sự đã tiêu tan khi các chức vụ đều đã được bổ nhiệm, giảm bớt các mồi lửa dễ cháy giữa các trợ thủ của Hillary và của Obama.

Bill hậu thuẫn nỗ lực của Hillary bằng cách ghé vai thúc đẩy chương trình bảo hiểm y tế, bằng cả những bình luận công khai lẫn những tác động phía sau cánh cửa đóng kín. Tháng Mười một, khi Hillary đang thực hiện chuyến công du 13 ngày đến châu Âu và châu Á, Bill đã xuất hiện tại một bữa ăn trưa riêng của các thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ để vận động họ gạt bất đồng sang một bên và giúp Obama giành chiến thắng với dự án trọng tâm trong chương trình nghị sự của ông ấy. Nhưng khi Bill trò chuyện với phóng viên sau đó, điện thoại di động của ông reo lên. “Bà ngoại trưởng của tôi đang gọi đấy,” Bill nói, nhắc đến người mà ông đang thay mặt khi đến Capitol Hill. Vài giờ sau, Obama cuối cùng cũng thông báo người được chỉ định điều hành USAID, điều Hillary mong chờ nhiều tháng qua.

Sau khi Nghị viện thông qua đạo luật bảo hiểm y tế được mấy tháng, Hillary gặp lại Obama tại Phòng Tình huống. Hillary nói rằng mình rất tự hào về ông ấy. Từng là đệ nhất phu nhân, thượng nghị sĩ, rồi ứng viên tổng thống, tiếp đó đóng vai trò một cố vấn hậu trường về các vấn đề chính trị trong nước, cũng như trợ lý cho tổng thống, Hillary đã đóng góp rất nhiều, không chỉ bằng nỗ lực bản thân mà cả những mối quan hệ của mình, trong việc bảo đảm tất cả người dân Mỹ được tiếp cận bảo hiểm y tế. Đây là một chủ đề quốc nội, qua đó Hillary trở nên nổi bật, rồi chính Obama là người đã nhảy vào đẩy nó cán đích. Họ khoác tay nhau, và một phóng viên ảnh đã chớp được cảnh này. Bức ảnh đưa ra một lời kêu gọi mang tính biểu tượng trong Nhà Trắng, đến mức các quan chức đã đóng khung và treo nó lên bức tường gần Phòng Bầu dục. Cho dù những bức ảnh kiểu đó thường được đổi mỗi tuần hoặc sau một vài tuần, nhưng bức ảnh này vẫn ở đó suốt mấy tháng liền.

Với Hillary, đây là một kết cục vừa ngọt ngào, vừa cay đắng. Sau tất cả những gì Hillary dồn tâm trí, trái tim, và tâm hồn mình cho cuộc cải cách hệ thống bảo hiểm y tế, bà vẫn chưa phải là người trong đội hình chính sách quốc nội của Obama, những người đưa điều này thành luật. Giờ đây, vinh quang của Obama khi thực hiện được một việc giống với đề xuất của bà trong chiến dịch vận động tranh cử năm 2008 vừa khiến Hillary hài lòng vừa để lại chút nuối tiếc. “Vị thế chính trị của ông ấy trong Nghị viện rõ ràng mạnh hơn so với Bill sau khi đắc cử,” bà nói. “Chúng tôi – và Bill - trước đây từng bày lên bàn quá nhiều đề xuất mà không hề cắt giảm cái nào, và không thể thông qua mà không có một lá phiếu Cộng hòa nào trong Nghị viện, một sức ép lớn. Khi đó ông ấy cũng trút lên họ sự giận dữ, khiến nhiều nghị sĩ đã bị mất ghế do NRA. Vì thế mà ông ấy không được nhiều nghị sĩ ủng hộ. Ông ấy cũng thật sự đã làm khó cho họ. Ngôi sao định mệnh đã chiếu vào Tổng thống Obama và ông đã đạt được tiến bộ trong công việc. Tôi rất phấn chấn về điều ấy.”

Cải cách luật bảo hiểm y tế đã kéo Obama và Hillary lại gần nhau hơn, nhưng khoảnh khắc ấn tượng nhất trong quan hệ của họ, theo nguồn tin từ cả hai phía, là vào tháng Mười hai năm 2009, khi họ có chuyến công du tham dự Hội nghị thượng đỉnh quốc tế về biến đổi khí hậu do Liên Hợp Quốc chủ trì tại Copenhagen. Mục tiêu chính của Hội nghị là cắt giảm khí thải nhà kính trên toàn cầu, đặc biệt nhắm đến việc yêu cầu các quốc gia phát triển phải cam kết cụ thể về mức độ hạn chế khí thải của họ, và những nước đang phát triển thì giới hạn lượng khí thải mà không gây ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.

Trong các chuyến công du nước ngoài, hiếm khi họ xuất hiện cùng nhau. Hillary cố gắng đứng lùi lại sau Obama để thể hiện thái độ tôn trọng. Bất chấp danh tiếng quốc tế của mình, Hillary vẫn cố gắng giữ vai trò là một đồng sự lý tưởng – trả lời ngắn gọn các câu hỏi của tổng thống, bảo đảm thực thi đúng cách các chỉ dẫn của ông. Tính khiêm nhường được xem là nét tiêu biểu của Hillary, và bà thể hiện điều đó qua vai trò một nhà ngoại giao của Obama. “Trong năm đầu tiên, bà ấy tự giác trong việc thể hiện sự tôn trọng, cũng như muốn xóa tan mọi nghi ngờ rằng bà không phải là một thành viên trong nhóm của tổng thống,” một nhân viên cấp cao làm việc lâu năm tại Bộ Ngoại giao cho biết.

Hillary đặt cược nhiều vốn liếng cá nhân khi đến dự Hội nghị thượng đỉnh tại Copenhagen, bởi lẽ bà đã hối thúc được Obama tham dự. Nhưng mọi thứ nhanh chóng biến thành thảm họa. Hội nghị được tổ chức quá sơ sài, và hầu như không có nhiều hy vọng đạt được cam kết thật sự của các quốc gia chủ chốt. Mặt khác, các quan chức Mỹ nhận ra rằng Trung Quốc đã tiến hành cuộc gặp đa phương bí mật bên lề với Brazil, Nam Phi, và Ấn Độ – cuộc gặp mà Obama không được mời. Ông muốn “nhảy dù” vào cuộc họp này.

“Bốn chọi một,” một quan chức cảnh báo tổng thống.

“Không vấn đề gì,” ông đáp, và nói với Hillary, “Chúng ta sẽ vào đó ngay bây giờ.”

“Tất nhiên rồi,” bà trả lời. “Chúng ta đi thôi.”

Có Hillary sát cánh hỗ trợ, Obama tiến vào cuộc họp, yêu cầu được nói chuyện với lãnh đạo của bốn quốc gia. Họ đều né tránh đoàn Mỹ ở những mức độ khác nhau – từ Obama đến Clinton – và đây là cơ hội để nói chuyện với tất cả họ cùng lúc. Phái đoàn hai người không được mời của Mỹ đã khuấy động không khí ngay khi họ ập vào.

“Một quan chức ngoại giao Trung Quốc thực sự mất bình tĩnh và làu bàu bằng tiếng Trung Quốc,” một trợ lý của Hillary sau đó kể lại.

“Tôi không biết ông ta đã nói gì, nhưng tôi không nghĩ đó là câu ‘rất vui được gặp ông,’” Obama đùa với Hillary.

Rốt cuộc, họ cũng tìm được giải pháp nhượng bộ là một thỏa thuận không ràng buộc và không được toàn thể Hội nghị thông qua. Người Mỹ đã tuyên bố đạt được chiến thắng, nhưng họ biết chiến thắng đó không lớn. Những gì mà Obama và Hillary có được chỉ là màn bày tỏ cảm thông thường thấy về những khó khăn cốt lõi của chính sách ngoại giao và cảm nhận rằng họ có thể đồng hành một cách thoải mái. “Chúng tôi đã có những giây phút vui vẻ ở Copenhagen khi xông thẳng vào cuộc họp bí mật đó,” Hillary kể.

“Cả ngày hôm ấy hai người thay nhau ứng biến hết cuộc họp này đến cuộc họp khác,” một quan chức cấp cao của Nhà Trắng cho biết. “Đó là lần đầu tiên chúng tôi thấy họ – khi không có nhân viên bên cạnh – cùng bàn bạc để quyết định ‘Chúng ta sẽ làm gì? Vai trò của chúng ta là gì? Ông định nói gì với vị lãnh đạo X? Ở đó tôi sẽ nói gì?’ Và họ cố gắng cùng ứng biến suốt một ngày trong môi trường hỗn độn, đó là lúc tôi bắt đầu thấy họ làm việc với nhau tự nhiên hơn, không còn là mối quan hệ kiểu cách nữa.” Hay như một trợ lý khác của Nhà Trắng bổ sung, “Sau chuyện đó, họ đã thật sự là những người bạn thân.”

Một trong những trợ lý thân cận nhất của Hillary đồng ý rằng Copenhagen là một bước ngoặt. “Cả hai đã vượt qua trải nghiệm đó theo cùng một kiểu, như ‘Bạn thấy đó, thật sự khó khăn vì thế giới ngoài kia có bao nhiêu tiếng nói của những quan điểm riêng, và những nhà lãnh đạo nước Mỹ đang phải hợp nhất tất cả lại. Rất khó. Quả thật là quá khó,’” viên trợ lý nói. “Cả hai đều có cùng độ nhạy cảm như nhau về những gì đang diễn ra, và làm sao để ứng phó nhằm đạt được những thành công trong chính sách ngoại giao sau những gì đã trải qua. Và tôi nghĩ đây là điều đã tạo nên sự thay đổi lớn xét về bản chất của cuộc đối thoại giữa họ.”

Họ từng có nhiều tháng cùng nhau giải quyết những vấn đề khó khăn, như gửi thêm quân đến Afghanistan, hoặc đạt được một chính sách mà cả hai đều ủng hộ, nhờ đó họ thấy gần nhau hơn.

Ngay trước Hội nghị Copenhagen, Nhóm Nghiên cứu Clarus đã công bố một cuộc thăm dò dư luận của các cử tri tự xưng “người quan sát mới.” Kết quả cho thấy, 51% ủng hộ những gì Obama đang làm, trong khi tỉ lệ ủng hộ Hillary là 75%. Không chỉ số phiếu độc lập (65%) và của những người Cộng hòa (57%) dành cho Hillary cao hơn Obama, mà tỉ lệ ủng hộ bà trong số những người Dân chủ cũng cao hơn (96% cho Hillary, so với 93% cho Obama). Đây không phải cuộc thăm dò dư luận đầu tiên cho thấy sự ủng hộ Hillary cao hơn dành cho Obama, nhưng lại có một sự trái ngược rất nghiệt ngã: đó là khi tầng lớp tinh hoa ở Washington cho rằng Hillary đã bị đẩy ra ngoài cuộc chơi. Sau những ngày vinh quang của giai đoạn chuyển giao và lễ nhậm chức, Obama bị kéo trở lại mặt đất, với hàng loạt cuộc tranh luận xoay quanh các kế hoạch của ông về kích thích kinh tế, bảo hiểm y tế, và chống biến đổi khí hậu. Trong khi đó, công việc liên quan đến các vấn đề trong nước của Hillary hoàn toàn là ở hậu trường. Theo điều tra của Viện Gallup, tỉ lệ người Mỹ ủng hộ Obama chỉ còn 49%, so với 68% lúc ông nhậm chức 11 tháng trước đó. Không cần phải là một cố vấn chính trị cấp cao mới nhận ra rằng cho đến hết năm đầu tiên trong nhiệm kỳ của họ, dấu ấn của Hillary Clinton đã nổi trội một cách đáng kể so với của Obama.

Cuối năm 2009, Hillary bắt đầu tỏ dấu hiệu rằng mình không mong muốn phục vụ chính quyền Obama suốt tám năm nếu ông ấy tái đắc cử. “Làm ơn thôi đi,” Hillary nói khi Glenn Kessler của tờ Washington Post hỏi về điều đó. “Lúc đó tôi đã già.” Tháng Một năm 2010, bà nói với Tavis Smiley rằng “tám năm ròng rã” sẽ “quá là thách thức,” bà cười và nói thêm, “tôi sẽ rất vui lòng để chuyển thách thức đó cho người khác.” Hillary cũng nói với Smiley là bà “hoàn toàn không hứng thú” với chuyện tranh cử tổng thống lần nữa.

Nhưng, kết quả thăm dò ủng hộ Hillary – cùng thực tế Hillary không định gắn bó trọn đời với sự nghiệp của Obama – càng làm gia tăng dự đoán vào cuối năm 2009 và đầu 2010 rằng Hillary có thể quay lại chạy đua tranh cử tổng thống. Những người bảo thủ đặc biệt thích đề cao triển vọng đó, bởi lẽ ý kiến này càng bổ sung cho nhận định rằng Obama đang bộc lộ những yếu kém. Dù đây là đề tài vô tận cho những người đam mê chính trị và các chương trình tin tức 24 giờ, nhưng chưa bao giờ xuất hiện một bằng chứng cho thấy Hillary có ý chống lại Obama.

Năm thứ hai nhiệm kỳ tổng thống của Obama, lòng trung thành của Hillary đã trở thành chủ đề quan trọng. Ở năm đầu tiên, Hillary thua Obama trong một cuộc bầu cử, ngôi sao của ông ấy sáng hơn của bà. Nhưng đầu năm thứ hai, vị trí của họ trong mắt công chúng đã hoán đổi. Nếu ai đó đã quen với bản chất hay thay đổi trong ý kiến của công luận, quen với những khó khăn mà một vị tổng thống phải đối mặt nhằm đảm bảo các cộng sự tiếp tục theo đuổi thực hiện các chương trình nghị sự của mình một khi ông ta đánh mất sự ủng hộ của công chúng, thì người đó chính là Hillary. Bà từng chứng kiến việc Bill vật lộn chống chọi những thay đổi bất thường như vậy. Suốt năm 2010, Hillary và nhân viên của mình đã góp phần triển khai chương trình nghị sự về một loạt các vấn đề phức tạp, từ Haiti đến Hiệp ước START mới về cắt giảm vũ khí hạt nhân với Nga, và cả các biện pháp trừng phạt nhằm vào Iran.

Trong khi Obama và Hillary gần nhau hơn từ sau sự kiện Copenhagen, hai nhóm nhân viên của họ, cùng với Bill Clinton, đã liên kết mạnh mẽ hơn vào tháng Một năm 2010, khi một trận động đất mạnh 7,0 độ Richter xảy ra ngay tại trung tâm thủ đô Port-au-Prince của Haiti, làm chết 316 nghìn người, hơn 300 nghìn người bị thương và hơn 1,3 triệu người mất nhà cửa. Cheryl Mills, đầu mối của Bộ Ngoại giao về Haiti, đảm nhận các nỗ lực phục hồi và cứu trợ, còn nhóm phụ trách công nghệ triển khai một chương trình quyên góp cho Hội Chữ thập đỏ qua tin nhắn và đã quyên góp được 40 triệu đô-la, với mỗi tin nhắn đóng góp 10 đô-la. Đó là thời điểm quan trọng đối với “Tập thể Bộ Ngoại giao Thế kỷ XXI” còn non trẻ, bởi lẽ việc này chứng minh cho Hillary và Mills thấy sức mạnh tạo ra thay đổi của công nghệ đối với những người nghèo, những người ít học trên thế giới mà họ luôn hướng đến. “Đây là một kiểu kết nối đầy cảm xúc với công việc,” một quan chức Bộ Ngoại giao nói.

Mills bận rộn với điện thoại trên tay suốt ngày, bàn bạc với các quan chức Haiti về từng chi tiết. Cho đến giờ, cô vẫn nhớ chuyến bay nào chở đứa trẻ mồ côi nào tới cha mẹ nuôi tại Mỹ; nhớ cả việc lập danh sách những trẻ em cần giúp đỡ mà hồ sơ của chúng bị đã bị mất trong đống đổ nát cùng với những trại trẻ mồ côi và những cơ sở của Chính phủ Haiti. Cô và McDonough đã cố gắng để bảo đảm tất cả mọi người thuộc đội ngũ an ninh quốc gia của tổng thống đều nỗ lực hợp tác trong công việc tìm kiếm và cứu hộ, các chuyến bay quân sự và viện trợ thiên tai.

Ngoài việc chỉ đạo các phương án đối phó tổng thể cấp liên bang, Obama còn mời các cựu Tổng thống Clinton và Geogre H. W. Bush đến Nhà Trắng để thông báo về cách thức tổ chức cứu trợ theo mô hình gây quỹ do Clinton và Geogre W. Bush thành lập khi xảy ra siêu bão Katrina. Trong khi Clinton và Bush đợi Obama trong phòng nội các, họ nói đùa với nhau như anh em. Hơn nữa, Clinton và Bush cùng độ tuổi, và họ trở nên gần gũi hơn nhờ mối quan hệ đối tác của Clinton với cha của Bush.

Ngay cả các bà vợ của họ, những người không có mặt trong cuộc họp đó, cũng gần gũi hơn thông qua mối quan tâm chung về hai vấn đề: nâng cao vị thế phụ nữ và trẻ em gái trên toàn thế giới, gây sức ép buộc quân đội Burma đẩy nhanh các cải cách dân chủ. Hai cựu đệ nhất phu nhân đã nhiều lần nói chuyện thân mật về Burma, và như một cử chỉ lịch sự, Hillary đã đề nghị với Kurt Campbell, trợ lý ngoại trưởng phụ trách khu vực đó, thỉnh thoảng dành cho Laura Bush những buổi nói chuyện tóm tắt, chia sẻ về những tiến triển tại quốc gia Đông Nam Á này. Gia đình Bush và Clinton đã tìm được không gian chung giúp họ thoải mái, một điều có được nhờ sự thể hiện tính cách thân thiện của cả George Bush và Bill Clinton tại Phòng Nội các, nhưng Bill và Obama thì vẫn chưa chạm được đến điểm ngọt bùi như thế.

Bầu không khí thay đổi khi Obama bước vào căn phòng. Trong phòng là tân tổng thống, cùng với hai người tiền nhiệm của mình, một trong số họ được Obama xem như kiến trúc sư của một nền kinh tế đang bị chỉ trích hằng ngày, còn người kia đã vận động chống lại ông trong nhiều tháng. Rõ ràng, theo một nhà quan sát, dù mối quan hệ Clinton-Obama tốt đẹp hơn trước mắt công chúng, nhưng vẫn còn những điều ngượng nghịu sau cánh cửa đóng kín. “Trông có vẻ thân thiện, nhưng vẫn cứng nhắc,” nguồn tin nhận xét.

Cựu tổng thống với một bề dày thành tựu và tân tổng thống với những thành công rực rỡ trong năm – cả hai vẫn thường cố gắng mở rộng mối quan hệ giữa hai bên, duy trì một sự cân bằng dẫu mong manh, sao cho mỗi bên đều được nhiều nhất và mất ít nhất trong quan hệ đối tác về chính trị và chính sách. Đôi khi lợi ích và niềm tin đưa hai vị tổng thống xích lại với nhau; trong những lúc khác, chúng lại chia cách họ. Khác với bất kỳ tổng thống nào trước đây, Bill vẫn đầu tư vào nền chính trị bầu cử, một động lực gắn với hai điều, một là khả năng đưa Hillary trở lại cuộc đua, và hai là thoả mãn đam mê của chính ông. Bill đã phải qua một cuộc phẫu thuật tại Bệnh viện New York Presbyterian, để cấy hai ống stent trợ tim lưu thông máu, sau khi thấy đau ngực vài hôm trước lễ Thánh Valentine (14 tháng Hai). Nhưng Bill đã quay lại làm việc trong vòng một tuần. Ông muốn thể hiện mình luôn sẵn sàng chiến đấu, và đến tháng Tư, khi cuộc bầu cử Nghị viện giữa nhiệm kỳ đang đến gần và các nhà phân tích dự đoán rằng Đảng Cộng hòa sẽ kiểm soát đa số tại Hạ viện và Thượng viện, thì Bill lập tức bắt tay xây dựng lịch trình chính trị. Ông cắt quảng cáo ở đài phát thanh để giúp Thượng Nghị sĩ Blanche Lincoln của bang Arkansas chống chọi thách thức từ Phó Thống đốc Bill Halter; hay xuất hiện tại miền tây Pennsylvania để vận động cho Mark Critz trong cuộc bầu cử bổ sung vào chiếc ghế mà Jack Murtha để lại; thậm chí dành chút thời gian của mình để hỗ trợ giảm các khoản nợ cho Hillary. Đến lúc này, bà còn nợ dưới một triệu đô-la, nhưng áp lực vẫn còn.

Có những lúc, Bill đối đầu với Obama để chứng minh rằng vẫn có khoảng cách rõ rệt giữa họ trong Đảng Dân chủ. Tại Colorado, Bill ủng hộ Nghị sĩ Andrew Romanoff, người trung thành với Hillary, chống lại ứng viên của Obama là Thượng Nghị sĩ Michael Bennet, người được bổ nhiệm thay cho Bộ trưởng Nội vụ Ken Salazar năm trước đó. Các trợ lý của Obama đã thử, nhưng không thể loại Romanoff khỏi cuộc đua với đề xuất một công việc quản lý cấp thấp, giống những gì họ đã làm – thông qua Bill – để bảo lãnh cho Joe Sestak ở Pennsylvania. Obama đã để lại một lời nhắn ghi âm cho Bennet, và Romanoff đã khẩn khoản đề nghị Clinton cân nhắc điều đó. Gui Cecil, một trợ lý cao cấp trong chiến dịch tranh cử của Hillary, người đã trở thành chánh văn phòng của Bennet, không phát hiện ra rằng vị cựu tổng thống đã cân nhắc cả tiếng đồng hồ trước khi các cử tri ở Colorado bắt đầu nhận được các cú điện thoại với lời nhắn ghi âm của Bill. Obama đã chiến thắng trong một cuộc chiến tranh ủy nhiệm, một thực tế mà Cecil, vốn vẫn duy trì một mối quan hệ mạnh mẽ với gia đình Clinton, sẽ khiến Bill không dễ quên. “Lời ghi âm của ngài không còn chuẩn nữa,” Cecil trêu chọc khi Bill chuẩn bị tham gia một sự kiện lên quan đến cuộc tổng tuyển cử cho Bennet.

Kết thúc mùa bầu cử năm 2010, đội ngũ chính trị của Obama háo hức muốn Bill tham gia vận động tranh cử cho ứng viên Đảng Dân chủ. Patrick Gaspard, người đứng đầu văn phòng phụ trách các vấn đề chính trị của Obama, yêu cầu gặp Doug Band vào giữa mùa hè để vạch chiến lược sử dụng Bill để hỗ trợ Đảng Dân chủ, nhất là tại các tiểu bang và quận phải cạnh tranh nhiều, nhằm đem lại kết quả vượt lên mong đợi. Điều kỳ diệu của Bill Clinton trong chiến dịch vận động tranh cử, theo những người trung thành cả với Obama và Clinton, là ông ấy có thể “đi bất cứ đâu”. Dù cho Obama đã làm đẹp lòng cử tri Dân chủ, nhưng ông lại chẳng làm được gì nhiều cho các đảng viên Dân chủ trẻ ở Nghị viện, vốn cần có những cử tri độc lập ủng hộ. Bill thì lại có khả năng gây ảnh hưởng với những cử tri còn do dự giữa ngã ba đường, và giúp củng cố nền móng của Đảng Dân chủ.

Mặc dù cái tôi có thể bị tổn thương nhưng vẫn phải thừa nhận sự thật, rằng mỗi người sẽ trở nên mạnh mẽ hơn khi hợp tác với người khác. Đối với cả hai, sức trì kéo của lòng tự tôn đều rất mạnh mẽ. Bill đã phải chịu những tổn thất to lớn đối với chính ông trong cuộc bầu cử năm 2008, và hợp lực với Obama là cách tốt nhất và nhanh nhất để phục hồi hình ảnh của bản thân ông. Đối với Obama, phần còn lại của chương trình nghị sự trong nhiệm kỳ đầu tiên đều phụ thuộc vào việc duy trì đa số ghế ở Thượng viện và Hạ viện. Trong phạm vi mà Bill có thể giúp đỡ để thực hiện mục đích này, sẽ có ích nếu đưa ông ấy quay lại. Tuy họ vẫn không phải là bạn bè, không theo cách mà Obama và Hillary đã có thể xích lại gần nhau, nhưng lợi ích chung chính là chất keo kết dính. Và việc xây dựng tình bạn giữa Hillary và Obama tuy không giúp ích được nhiều, nhưng cũng góp phần tăng cường quan hệ của Bill với Obama. Động lực tương tự đã truyền đến đội ngũ tại Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao, khi các trợ lý thúc đẩy mối quan hệ gắn bó hơn khiến các lãnh đạo của họ đều hài lòng.

Đa phần những người trung thành nhất lại chẳng bao giờ có được sự hòa hợp hoàn toàn, nhưng đến năm thứ hai nhiệm kỳ tổng thống của Obama đã xuất hiện những vụ đấu đá nội bộ liên quan đến nghi ngờ về việc rò rỉ thông tin cho báo chí và vấn đề giảm nhân sự một cách đáng kể. Bản thân Obama đã cố kiểm soát chuyện này. Sau khi ông sa thải chỉ huy hàng đầu tại Afghanistan, Tướng Stanley McChrystal, vì những nhận xét trong một bài viết trên tạp chí Rolling Stone với nhan đề “Vị tướng bỏ trốn” (The Runaway General), Obama đã triệu tập nhóm an ninh quốc gia tại Phòng Bầu dục để nghe giải trình. Cũng ngày hôm đó, tờ New York Times đã đăng câu chuyện do cố vấn an ninh quốc gia Jim Jones viết, trong đó hàm ý rằng Holbrooke sẽ sớm phải nghỉ việc – một thông điệp kiểu như một nỗ lực loại trừ ông ta khỏi những cuộc họp quan trọng, ngầm loại bỏ vai trò của Holbrooke tại Afghanistan và Pakistan.

“Tổng thống nói rằng ông ấy không muốn thấy tính ti tiện, đó không phải vấn đề tính cách hay danh tiếng. Đó là về những người đàn ông và phụ nữ mặc đồng phục và đang phục vụ đất nước,’’ một nguồn tin nói với Lloyd Grove của tờ Daily Beast. Holbrooke vẫn là một điểm gây nhiều tranh cãi giữa Nhà Trắng với Bộ Ngoại giao, nhưng khi các nhân viên bắt đầu xem xét những chủ đề thường lệ – từ các cuộc khủng hoảng quốc tế đến những câu chuyện mới về mối quan hệ tốt đẹp của Obama với Hillary – thì các trợ lý của cả Obama và Hillary mới ngày càng tôn trọng khả năng của nhau. “Bạn đang ở cùng phía với chúng tôi,” một trong những trợ lý của Obama giải thích. “Bạn xây dựng liên kết với mọi người theo hướng đó, vậy đấy.”

Sự hòa hợp đáng ngạc nhiên được cả hai phe thể hiện rõ nhất trong trường hợp của Capricia Marshall. Không mất nhiều thời gian để bà ta trở thành một nhân vật quan trọng trong chính quyền. “Tôi chưa bao giờ mắc sai lầm hơn thế với bất kỳ ai, trong suốt đời mình,’’ Dan Pfeiffer, người đã cố gắng để ngăn Marshall được bổ nhiệm, sau này đã nói như vậy. Trong một bữa ăn tối ở Nhà Trắng vào mùa xuân năm 2010, Marshall đã đưa gia đình Obama đến cổng phía Bắc để đón Tổng thống Mexico. Khi vợ chồng Tổng thống Mexico đang bước trên thảm đỏ, Marshall, trong bộ váy hồng vừa vặn, duyên dáng đi tách ra khi bước lên cầu thang bằng đá cẩm thạch trắng.

Khi lên đến bậc thang trên cùng, gót giày Manolo nhọn bị mắc kẹt. “Chúa ơi,” bà ta nghĩ, “mình sẽ ngã mất!” Tuy nhiên, bài luyện tập P90X có vẻ đã phát huy tác dụng, giúp bà ta giữ thăng bằng. Thay vì ngã, bà ta loạng quạng vặn lưng và nhanh chóng đứng vững, như một vận động viên Olympic mất đà.

“Đừng chụp ảnh,” đệ nhất phu nhân đề nghị các nhiếp ảnh gia ở gần đó. “Đừng chụp ảnh,” tổng thống nhắc lại, xua tay ngay khi các máy ảnh bắt đầu bật tanh tách nơi dưới sảnh.

Michelle Obama đã cố gắng lần cuối giúp Marshall: “Đừng đăng bức ảnh đó”.

Đã quá muộn. Các bức ảnh và cả một đoạn video đầy đủ đã được lưu lại và chia sẻ trên YouTube.

Marshall giơ hai ngón tay chỉ lên, một biểu tượng như muốn đáp trả cái ngày mà các trợ lý của Obama cũng giơ ngón tay chỉ xuống ra dấu hiệu từ chối việc bổ nhiệm bà ta.

Tại bữa tiệc cấp nhà nước tiếp theo, tổng thống đã đùa với Marshall, khi bà ta đang đợi để dẫn gia đình Obama gặp một lãnh đạo nước ngoài. Đứng ngay sau bà ta và giả giọng một người thông báo trong cuộc chơi golf, tổng thống liến thoắng:

“Chúng ta sắp đến nơi,” ông tếu táo. “Liệu cô ấy sẽ nhổm lên hay ngã lăn xuống nhỉ?”

Marshall cố gắng giữ khoảng cách với Obama vừa đủ để ông cảm thấy thoải mái khi trêu chọc cô. Tuy nhiên, trò đùa này không được Michelle Obama hưởng ứng.

“Ôi, thôi đi, Barack! Dừng lại,” Michelle nói. “Đừng trêu cô ấy nữa.”

Trong khi Michelle bảo vệ Capricia Marshall trước lời trêu chọc của tổng thống, thì Hillary Clinton đang phải nỗ lực chiến đấu cho Barack Obama tại Capitol Hill. Vào tháng Sáu, bà đã mời Howard Berman và Chris Dodd đến phòng họp tầng bảy của Bộ Ngoại giao để thảo luận về một dự luật nhằm trừng phạt Iran bằng cách cấm vận các công ty nước ngoài đang làm ăn trong lĩnh vực dầu khí và ngân hàng tại đó. Mục đích cơ bản là buộc các quốc gia khác phải rút đầu tư khỏi Iran, làm tê liệt nền kinh tế nước này, buộc người Iran ngồi vào bàn đàm phán, dừng các chương trình vũ khí hạt nhân để đổi lấy việc dỡ bỏ các biện pháp trừng phạt.

Berman, một nghị sĩ Dân chủ kỳ cựu luôn đeo kính với mái tóc xoăn điểm bạc, vốn là chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện và là bạn tốt của bất kỳ ai tại Capitol Hill, chủ trương tiến hành chiến dịch vận động hành lang ủng hộ Israel. Dough, chủ tịch Ủy ban Ngân hàng Thượng viện, đã viết một cuốn sách về những bức thư mà cha của ông là Thomas Dodd gửi về nhà khi tham gia xét xử những tội phạm chiến tranh Đức Quốc xã sau Thế chiến thứ Hai ở Nuremberg. Không có gì phải bàn thêm về lập trường của họ đối với Iran, kẻ thù lớn của Israel. Họ đã thông qua một dự luật, đó là Luật Cấm đầu tư và Trừng phạt Iran toàn diện, (CISADA: Comprehensive Iran Sanctions and Divestment Act), gần như không có sự phản đối nào ở Ủy ban của họ. Berman và Dodd đã đưa ra những dự thảo luật hơi khác nhau và họ đã phải triệu tập một cuộc họp gồm các ủy ban của Hạ viện và Thượng viện để làm rõ những khác biệt, sau đó trình tổng thống ký phê chuẩn hoặc phủ quyết. Nhưng thực tế, công việc này lại đang được Hillary, Berman, và Dodd tiến hành tại tầng bảy, bởi Nhà Trắng lo ngại sâu sắc về hậu quả cách tiếp cận của Nghị viện; và do Đảng Dân chủ kiểm soát cả hai viện và chức vụ tổng thống, nên Berman và Dodd muốn tìm một con đường để tránh cuộc đối đầu không tốt đẹp giữa Nhà Trắng và Quốc hội.

Đa số các thành viên Nghị viện luôn muốn đánh Iran bằng chiếc búa lớn nhất đang có trong tay. Trong những năm qua, Mỹ đã áp đặt các lệnh cấm tượng trưng mang tính đơn phương đối với người Iran, và có rất ít ảnh hưởng. Giờ đây, với ý định trừng phạt nặng hơn, Mỹ cấm các tổ chức nước ngoài làm ăn với chế độ đó. Nếu mọi thứ diễn ra theo đúng ý định, kinh tế Iran sẽ trượt dốc, và điều này có thể khiến Chính phủ Iran sụp đổ, hay ít nhất cũng buộc Iran ngồi vào bàn đàm phán.

Mọi chuyện sẽ tốt đẹp nếu những quốc gia khác cũng lựa chọn ngừng làm ăn với Iran thay vì phải làm trái lệnh trừng phạt của Mỹ. Nhưng vấn đề nghiêm trọng là các quốc gia khác – đặc biệt là Nga, Trung Quốc và Brazil – quyết định không theo lệnh trừng phạt đó và tiếp tục làm ăn với Iran. Vấn đề là lựa chọn nào sẽ tốt hơn về mặt kinh tế cho mỗi quốc gia, và không có nhà lãnh đạo nào muốn thể hiện sự yếu kém trước người dân nước mình bằng cách tuân theo các yêu cầu của Mỹ.

Khi phối hợp với Nhà Trắng và Bộ Tài chính, Hillary đang tìm kiếm một cách mới nhằm khuyến khích các công ty nước ngoài, gồm cả công ty nhà nước, tham gia cô lập Iran. Một trong những điều có thể khiến Iran hiếu chiến lúng túng là đề xuất của Bộ Ngoại giao, theo đó nếu các công ty chứng minh được là họ đang trên đà tụt dốc nghiêm trọng và không thể rút khỏi Iran, họ sẽ được miễn trừ khỏi lệnh cấm vận. Bằng cách này các công ty muốn hợp tác với Mỹ sẽ không bị tổn hại do lệnh cấm vận, vì họ có thêm chút thời gian để cắt đứt các sợi dây liên hệ làm ăn phức tạp. Trong khi có vẻ nhiều người ở Nghị viện cũng như Chính phủ đều muốn loại các công ty họ không ưa ra khỏi danh sách, thì giới phân tích hàng đầu về trừng phạt trong ngành hành pháp lại cho đây là một giải pháp sáng tạo đưa đến kết quả tốt hơn.

Những khía cạnh về Iran chưa bao giờ là mối quan tâm đặc biệt của Hillary. Là một thượng nghị sĩ New York, vùng rất ủng hộ Israel, Hillary thuộc nhóm những người theo đường lối cứng rắn. Năm 2006, khi tái tranh cử vào Thượng viện và hướng đến cuộc bầu cử tổng thống, bà đã phản đối chính quyền Bush vì đã “đánh giá thấp mối đe dọa.” Nhưng trên cương vị ngoại trưởng, bà đã làm việc cho một Chính phủ đang lo ngại về hậu quả thực tế từ việc trừng phạt thiếu khôn ngoan. Điều mà cương vị mới dạy cho Hillary – hoặc khiến bà dễ chấp nhận nó hơn – đó là khi Mỹ ép buộc các nước khác bằng biện pháp trừng phạt, đáp lại có thể là những phản ứng dữ dội, kết cuộc là Mỹ không đạt được mục tiêu then chốt.

Trong nhiều tháng, các đồng nghiệp cũ của Hillary ở Nghị viện đã bàn luận nhiều về việc bà thay đổi quan điểm. Nhưng Hillary chỉ nói với họ, quan điểm của bà giờ khác với họ là điều bình thường. “Các vị ở một vị trí khác,” bà nói. “Các vị làm việc ở một cơ quan khác.” Ranh giới đó giúp Hillary vừa không xung đột với các quan điểm diều hâu trong vấn đề Iran, vừa gợi ý cho các thành viên Nghị viện rằng họ không nên khăng khăng giữ quan điểm duy nhất về việc cách thức nào là hiệu quả nhất để gây áp lực lên chính quyền Iran.

“Bà ấy luôn tăng sức nóng cho vấn đề Iran,” một người từng làm việc trên Capitol Hill và Bộ Ngoại giao cho biết. “Tôi nghĩ rằng bà ấy có cái nhìn tinh tế hơn khi chuyển sang làm việc tại Bộ Ngoại giao. Quan trọng là phải khiến Nga, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, các nước ở châu Âu ngừng các hoạt động kinh doanh trong những lĩnh vực có thể hỗ trợ ngành dầu khí của Iran, nhưng bạn không thể làm điều đó bằng một cái búa tạ. Bạn sẽ phải thực hiện với nghệ thuật khéo léo của nghề ngoại giao. Nếu chúng ta chỉ lái chiếc xe tải này đâm vào các cuộc đàm phán và nói ‘Đây là những gì chúng tôi sẽ làm, chấp nhận nó hay không,’ thì tất nhiên họ sẽ phản đối.”

Dù chịu sức ép từ những người theo đường lối cứng rắn đòi thúc đẩy nhanh hơn nữa, Berman và Dodd đã cố nhượng bộ trước một yêu cầu của chính quyền là chờ Liên Hợp Quốc áp đặt lệnh trừng phạt trước khi Mỹ chính thức thông qua dự luật. Vào ngày 9 tháng Sáu, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đã bỏ phiếu với tỉ lệ 12/2, trong đó Lebanon bỏ phiếu trắng, ủng hộ các biện pháp trừng phạt. Susan Rice, đại sứ của Bộ Ngoại giao Mỹ tại Liên Hợp Quốc, đã bảo đảm với Nga và Trung Quốc rằng nếu họ hợp tác trong việc hạn chế vũ khí hạt nhân của Iran, bất cứ bộ luật tiếp theo nào của Mỹ đều sẽ giúp các công ty của nước họ được miễn trừ khỏi lệnh cấm vận của Mỹ. Hai ngày sau, Hillary cố gắng thực hiện tốt lời hứa đó bằng cách thúc đẩy Nghị viện đồng ý với một số miễn trừ đặc biệt trước khi bỏ phiếu lần cuối cho dự luật. Đang rất bận rộn với dự luật cải cách Wall Street, Dodd đã nhường cho Berman, chuyên gia về chính sách đối ngoại, làm chủ trì; đồng thời Dodd đóng vai trò trung gian giữa Berman và chính quyền khi cần thiết.

Tất cả các bên đã liên lạc chặt chẽ với Ủy ban Công vụ về Israel của Mỹ (AIPAC: The American Israel Public Affairs Committee), một cơ quan điều khiển các lực lượng bên ngoài đằng sau pháp luật. Nhìn chung, các thành viên Nghị viện mong muốn đưa ra danh sách các công ty để gây ấn tượng với những cử tri ủng hộ Israel và các nhà tài trợ trong nước, và họ rất ngần ngại phải làm bất cứ điều gì khiến dự luật bị giảm nhẹ. Berman đã “cản trở AIPAC,” theo một nguồn tin Nghị viện. Kịch bản xấu nhất cho Obama có vẻ là ông sẽ lẻ loi trước một Nghị viện gần như đã nhất trí về các vấn đề ảnh hưởng đến Israel, điều cũng sẽ ảnh hưởng đến nỗ lực tái tranh cử khi ông cần sự hỗ trợ của những nhà tài trợ và cử tri Israel.

Trong khi Nhà Trắng tin rằng cách tiếp cận của họ sẽ có hiệu quả trong việc cô lập Iran và buộc các nhà lãnh đạo nước này ngồi vào bàn đàm phán, thì việc thảo luận nhiều hơn về các điều khoản có thể hiểu là trình bày một cách ôn hòa về những rủi ro chính trị. Nhưng Hillary và những phụ tá của bà đã chấp nhận rủi ro này. “Tôi cũng như bà ấy rất tin rằng nếu chúng ta không có được sự hợp tác quốc tế mạnh mẽ, thì cuối cùng lệnh trừng phạt đơn phương sẽ chẳng đem lại gì, bởi trên cả góc độ kinh tế và chính trị, mấu chốt căn bản là buộc Iran tự thấy rằng họ không có người bênh vực, không có chỗ dựa, không lối thoát,’’ theo lời Thứ trưởng Jim Steinberg, người đã được tin tưởng giao phó nhiệm vụ xem xét lại các điều khoản đặc biệt giúp các công ty tránh bị tổn hại do lệnh trừng phạt. “Đây là một cuộc đối thoại mà tôi và Hillary đã tham gia rất sâu sát cùng với những nhóm bên ngoài như AIPAC và những người khác để cho họ thấy rằng chúng tôi nghiêm túc, cũng như không tìm kiếm lời biện hộ nào để giúp ai được miễn trừ.”

Thông thường, các cuộc họp Thượng viện và Hạ viện được tổ chức ở trụ sở Nghị viện Mỹ. Đôi khi chính quyền cũng cử đại diện quan sát cuộc họp một cách không chính thức. Nhưng trong trường hợp này, Hillary làm chủ tịch không chính thức của hội nghị ủy ban, chủ trì cuộc họp ngay trong phòng họp ở văn phòng của bà, cùng hai nghị sĩ cấp cao chịu trách nhiệm soạn thảo dự luật. Khung cảnh đó cho thấy sự phân chia quyền lực giữa những bộ phận trong Chính phủ mờ đi khi một đảng kiểm soát cả Nhà Trắng, Thượng viện và Hạ viện. Berman và Dodd muốn thỏa hiệp vì Tổng thống Obama là người thuộc đảng của họ và sẽ có lợi ích chính trị lớn từ việc ký vào dự luật trừng phạt Iran. Tuy nhiên, chỉ có 12 phiếu chống các bản dự thảo của Thượng viện và Hạ viện trong vòng đầu tiên, nghĩa là Chính phủ có ít cơ hội để phủ quyết bản dự thảo hay tìm cách thay đổi nội dung của nó, chẳng hạn như điều khoản cấp quyền miễn trừ cho những công ty hứa làm ăn đúng đắn.

Là hai thành viên Đảng Dân chủ, những người đã ở Washington từ rất lâu – Hillary từ năm 1993 và Berman từ năm 1983 – nhưng họ chưa có nhiều thời gian làm việc cùng nhau, ngoài một chuyến đi theo phái đoàn Nghị viện thăm Kiev và Munich năm 2004, cùng một vài chuyến thăm xã giao trong năm đầu tiên của Hillary tại Bộ Ngoại giao. Chính sự thiếu gần gũi này là một trong những lý do giúp Berman cảm thấy thoải mái khi ủng hộ Obama năm 2008. Tại thời điểm này Hillary đã gạt vấn đề đó sang một bên và tập trung vào chính sách hiện hành. Berman rất ấn tượng với lập trường của bà. Thật phi thường, ông ta nghĩ, Hillary đã nắm rất vững vấn đề, vì rõ ràng bà ấy không dành nhiều thời gian vào vấn đề này như ông. “Vấn đề này phức tạp đến khó hình dung nổi. Lệnh trừng phạt không nhằm áp dụng lên Iran, mà lên các cơ sở làm ăn với Iran,” ông ta nói, giọng có vẻ trách móc việc thay đổi lệnh trừng phạt mà Hillary đã đưa ra. “Ít nhất là về các nội dung chính, bà ấy đã nghiên cứu. Bà ấy đã tìm hiểu tương đối kỹ.”

Sau các cuộc thương lượng, hai điều khoản mà Bộ Ngoại giao muốn Berman và Dodd bổ sung vào dự thảo cuối cùng cũng được nhất trí. Thứ nhất, đó là “quyền miễn trừ đối với quốc gia hợp tác chặt chẽ” – điều sẽ giúp Chính phủ Mỹ có được sự ủng hộ của Nga và Trung Quốc trước khi diễn ra cuộc bỏ phiếu về lệnh cấm vận Iran của Liên Hợp Quốc, đồng thời cho phép tổng thống có thể gỡ bỏ trừng phạt đối với những công ty mà quốc gia của họ đóng góp tích cực để ngăn chặn Iran phát triển vũ khí hạt nhân. Về mặt kỹ thuật, tổng thống có thể bác bỏ mọi lệnh trừng phạt vì lợi ích an ninh quốc gia Mỹ, nhưng ngôn từ thể hiện mới là điều Hillary và Susan Rice quan tâm trong cuộc thảo luận với Nga và Trung Quốc. Thứ hai, “luật đặc biệt” đã tạo ra một quyền miễn trừ phức tạp mà nhờ đó tổng thống có thể tạm bãi bỏ lệnh trừng phạt những tập đoàn nước ngoài, nếu các tập đoàn này chứng minh được rằng họ đang trong giai đoạn thoái vốn khỏi Iran. Trong dự thảo ban đầu, không còn có bất cứ quy định có lợi nào cho các tập đoàn có nhiều lợi ích kinh doanh ở Iran dù đã bắt đầu rút khỏi việc đầu tư.

Cả hai điều nêu trên được bổ sung vào dự luật, với những ẩn ý thông qua cách diễn đạt cụ thể. Obama đã ký đạo luật ngày 1 tháng Bảy năm 2010, và sau đó, trong chiến dịch tái tranh cử, ông đã dùng văn kiện này làm bằng chứng về sự ủng hộ của mình dành cho Israel. Đối thủ của Obama thì lại trích dẫn những quy định miễn trừ được bổ sung vào những phút cuối như một bằng chứng chỉ trích Obama không cứng rắn với Iran, kéo theo những tranh luận không dứt khiến các quan chức Chính phủ bắt đầu thất vọng và cho rằng quy định miễn trừ khiến luật trừng phạt thật sự chưa đủ mạnh để buộc các công ty nước ngoài phải cắt đứt quan hệ làm ăn với Iran. Hillary đã ủng hộ Obama, đứng ra bảo vệ cả chính sách của Obama về Iran lẫn khả năng của Obama trước những cử tri ủng hộ Israel, cho họ thấy rằng ông vẫn cứng rắn.

Bằng cách đó, Hillary đã thu được kết quả. Qua việc chứng minh công việc mới đã cho mình quan điểm mới về các vấn đề, Hillary thuyết phục được các đồng nghiệp cũ rằng, bà đang thực thi nhiệm vụ chứ không phải làm việc theo thói quen, từ đó giảm bớt rủi ro chính trị với vị trí mới của bà. “Tôi rất thích Thượng Nghị sĩ Hillary Clinton vì thái độ cứng rắn của bà với Iran. Còn Ngoại trưởng Hillary Clinton thì phải tuân theo mệnh lệnh của chính quyền Obama,” Hạ Nghị sĩ Đảng Cộng hòa Ileana Ros-Lehtinen, cựu Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện nói. “Bạn có thể nghĩ rằng tôi đang bảo vệ bà ấy, nhưng tôi nghĩ trong sâu thẳm trái tim, bà ấy muốn muốn cứng rắn với Iran đến mức có thể.”

Lệnh trừng phạt Iran được thông qua cũng là khi Hillary bắt đầu tập trung vào hai sự kiện lớn trong cuộc sống riêng của mình, đó là đám cưới của cô con gái Chelsea và của Huma, người mà gia đình Clinton cũng xem như con gái. Giống như nhiều người thân cận với Hillary, Huma có nét tính cách nào đó phản chiếu Hillary. Philippe Reines giống Hillary ở khả năng tiên đoán những rủi ro chính trị. Jake Sullivan là một chuyên gia của Chính phủ, hiểu biết nhiều về chính sách và xây dựng quyền lực trong một bộ máy hành chính. Cheryl Mills là một luật sư, luôn mãnh liệt khi bảo vệ lợi ích của khách hàng. Capricia Marshall phá vỡ những rào cản bản thân bằng cách làm người khác thấy thoải mái. Với Huma, sự phản chiếu tính cách cá nhân của Hillary được nhìn nhận là hoàn hảo trong vai trò của một siêu trợ thủ. Hillary đóng vai trò ấy đối với Obama trong những chuyến công du nước ngoài; và đối với Bill bà là cố vấn chính trị và chính sách – cánh tay phải của ông – trong suốt sự nghiệp và cuộc sống hướng ngoại của ông.

Bất cứ điều gì Hillary cần, Huma đều có thể đáp ứng – thường thì trước cả khi Hillary yêu cầu. Dù là ở Nhà Trắng cuối những năm 1990, hay tại Thượng viện, cũng như trên các nẻo đường vận động tranh cử, và cả trong hai năm đầu của Hillary ở Bộ Ngoại giao, Huma lúc nào cũng theo sát bước chân của Hillary – bà chủ và là người đỡ đầu. Trong những bức ảnh chế giễu Hillary được chụp, Huma thường che hết cả ống kính. Cô luôn mang theo ba điện thoại BlackBerry cùng lúc. Chelsea Clinton từng nói rằng Huma, người lớn hơn cô gần bốn tuổi, chẳng khác nào một người chị ruột.

Trong chiến dịch tranh cử tổng thống 2008, Hillary từng giúp Anthony Weiner, nghị sĩ của Brooklyn, có cuộc hẹn hò đầu tiên với Huma. Mối quan hệ này ngày càng phát triển nghiêm túc hơn, và Huma đã theo bước Hillary trở thành một chính trị gia. Ngày 30 tháng Sáu, gia đình Clinton đón tiếp hàng trăm khách đến nhà dự tiệc đính hôn cho một cặp đôi chính trị trẻ tuổi đầy năng lực. “Đó là tình yêu từ cái nhìn đầu tiên,” Hillary nói, ngưng lại đôi chút, “với Anthony.”

Weiner đã nghẹn ngào khi bày tỏ sự đánh giá cao của mình về người sẽ là cô dâu cũng như ông bà chủ nhà. Bill, lúc đó đang khoác vai Chelsea, nói nếu mình có một cô con gái thứ hai, hẳn sẽ là Huma. Đó là một bữa tiệc trang trọng, nhưng cũng có vài lời xì xào, một người tham dự cho biết. “Huma trông thật thờ ơ,” nguồn tin này nói. “Đầu tiên là nó giống như ‘Anthony yêu Huma biết bao’ rồi sau đó là ‘Anthony yêu Huma.’”

Hillary thường thể hiện sự quan tâm về đời sống tình cảm của các cộng sự, chẳng hạn với một trợ lý thường xuyên di chuyển cùng bà trong cuộc vận động tranh cử năm 2008. “Tôi đính hôn vào thời gian đó, và bà ấy đã rất quan tâm đến kế hoạch đám cưới của chúng tôi,” người trợ lý kể. “Lúc đó tôi ăn kiêng, và bà ấy thường quan tâm xem món ăn trên máy bay có phù hợp chế độ ăn kiêng của tôi hay không. Bà ấy thật sự rất chu đáo.” Huma thân cận với gia đình Clinton hơn bất kỳ một phụ tá nào, và họ đã dành nhiều thời gian để bàn về chi tiết cho đám cưới của cô.

Bill đã chủ trì hôn lễ vào ngày 10 tháng Bảy năm 2010, tại lâu đài Oheka, một nơi rực rỡ sắc màu nằm ở chỗ cao nhất của Long Island. Ông nói đùa rằng, sự khác biệt tôn giáo của họ (Weiner xuất thân trong một gia đình Do Thái, còn gia đình Abedin Huma theo đạo Hồi) không là gì so với khó khăn của việc kết hôn với một chính trị gia. Chính là vì “họ rất dễ bị ngờ vực, dù họ theo tôn giáo nào,” Bill nói đùa. Oscar de la Renta – một người bạn của gia đình Clinton và của Huma, đã thiết kế váy cưới cho cô, một chiếc váy dài ngắn tay, với nhiều đường thêu điểm vàng thật. Weiner hơn vợ 10 tuổi, tuyên bố rằng mình đã “lên cung trăng” với Huma. Đám cưới Weiner-Abedin đã mở màn để công chúng chào đón “đám cưới kiểu hoàng gia Anh tại Mỹ” rất bí mật của Chelsea vào ba tuần sau đó, ngày 31 tháng Bảy. Trong nhiều tháng trước khi đám cưới chính thức diễn ra, báo chí đã tung ra các bài bóng gió nói rằng Chelsea sắp cưới, việc đưa tin này khiến gia đình Clinton khó chịu. “Giới truyền thông tưởng nó đang diễn ra, nhưng thế là sớm hơn một năm so với thực tế, khi cô ấy còn chưa đính hôn, và họ không chịu tin điều ấy cả khi mẹ cô dâu nói rằng việc đó còn chưa diễn ra,” một trợ lý của Hillary phàn nàn. “Một nhân vật, một ký giả, đã được biên tập viên của mình dặn rằng: ‘Bà ấy [Hillary] là một nguồn không đáng tin cậy đâu.’”

Cú điện thoại công việc cuối cùng mà Hillary gọi trước đám cưới của Chelsea là cho Thượng Nghị sĩ Johnny Isakson, đảng viên Cộng hòa ở Georgia, người đóng vai trò nòng cốt trong Hiệp ước START mới với Nga, vốn được Obama rất quan tâm.

Isakson đã mang bản dự thảo hiệp ước phức tạp đó về ngôi nhà trên núi của mình trong dịp cuối tuần, vào ngày 4 tháng Bảy. Ngồi trong căn nhà nổi, khi mấy đứa cháu chơi đùa xung quanh, ông ta rà soát từng trang một, nguệch ngoạc đánh dấu bên lề bản dự thảo. Vài tuần sau đó, Isakson chuyển đến các quan chức cấp cao Bộ Ngoại giao nhiều câu hỏi mang tính kỹ thuật, thậm chí trao đổi với Hillary nhiều lần về vấn đề này. Vì cuộc bỏ phiếu cấp ủy ban sẽ tiến hành vào tháng Tám sau kỳ nghỉ, Hillary đã liên lạc với Isakson lần cuối trước đám cưới của Chelsea để chắc chắn rằng ông ta đã nhận được câu trả lời.

Không phải bà lo lắng việc Ủy ban Đối ngoại không thông qua hiệp ước, mà là muốn họ sẵn sàng xem xét. Đảng Dân chủ hiện nắm giữ 59 trong tổng số 100 ghế ở Thượng viện và chiếm đa số ở Ủy ban này, nên kết quả cuộc bỏ phiếu có thể đoán trước. Tuy nhiên theo quy định, để được thông qua, các hiệp ước cần phải có ít nhất hai phần ba số phiếu ủng hộ tại Thượng viện – nghĩa là cần ít nhất 67 phiếu. Vì vậy, các lá phiếu ủng hộ của người Cộng hòa trong Ủy ban sẽ là một chỉ dấu quan trọng với các nhà lãnh đạo Đảng Dân chủ tại Thượng viện cũng như các đảng viên Cộng hòa kỳ cựu không có chân trong Ủy ban. Thượng nghị sĩ bang Indiana Richard Lugar, lãnh đạo Đảng Cộng hòa trong Ủy ban, từng trải qua các cuộc thương lượng về hiệp ước vũ khí với Nga qua các đời tổng thống từ Ronald Reagan đến Obama, và ông ta ít nhiều được xem như một “ổ khóa chết” nếu bỏ phiếu thuận tại Ủy ban. Hillary đã nhắm tới Isakson và Bob Corker, một thành viên Đảng Cộng hòa ở Tennessee, để kêu gọi sự ủng hộ ngay từ đầu.

Cũng như trong các cuộc tranh luận về trừng phạt Iran, Hillary trở thành tâm điểm của mũi dùi chỉ trích Chính phủ từ Capitol Hill. Trong trường hợp này, thay vì “phòng thủ” với những đảng viên Dân chủ diều hâu, Hillary đã “tấn công”, thuyết phục một trong những nhân vật Cộng hòa đầy quyền lực rằng hiệp ước này là vì lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ. Bà biết rõ con đường mình đang đi trong Nghị viện, và hiểu rằng sẽ tốn nhiều thời gian và nỗ lực để làm các thượng nghị sĩ hài lòng với cả thực tế lẫn tính chất chính trị của bản hiệp ước.

“Bà ấy đã khởi sự trước những người khác đến cả mấy tháng,” một quan chức Chính phủ cho biết. Hillary tập trung chủ yếu vào Isakson và Corker. Họ đều có mối quan tâm đến năng lượng hạt nhân tại bang của mình, nhưng cũng lại có lợi ích chính trị khi phản đối Obama. Là một chính trị gia, Hillary biết mình sẽ phải bảo đảm với họ rằng hiệp ước không chỉ đúng đắn, mà còn bền vững về mặt chính trị. Điều này giúp họ có sự bảo đảm khi quay về bang của mình.

Nhưng đến tháng Năm, mọi việc lại trở nên rất khó khăn, khi phe bảo thủ, dẫn đầu là Thượng Nghị sĩ Jim DeMint (R-SC.) đòi Nhà Trắng giao cho họ một bộ biên bản gọi là “hồ sơ đàm phán” của Mỹ với Nga. Hồ sơ phải gồm tất cả các đề xuất, yêu cầu, hướng dẫn, những cuộc thảo luận bên lề... liên quan đến hiệp ước. Nếu không có bộ hồ sơ này, những người bảo thủ cho rằng sẽ không thể nắm rõ về cách thức người Nga đưa ra những biện pháp dự phòng – vì có thể họ sẽ triển khai theo cách riêng của mình, đặc biệt là những quy định về hệ thống phòng vệ tên lửa, còn người Mỹ lại triển khai theo một cách thức khác.

Các mâu thuẫn về hồ sơ đàm phán lại tạo ra mối ràng buộc giữa Corker và Isakson, những người nghiêng về hướng ủng hộ hiệp ước nhưng có thể sẽ phải đối mặt với những rắc rối trong việc giải thích cho các cử tri nếu những người bảo thủ công bố rằng họ đã tán thành mà không có đầy đủ các thông tin về hồ sơ đàm phán, và rằng họ đã tin tưởng mù quáng vào các thành viên Đảng Dân chủ. Điều gì sẽ xảy ra nếu Obama chấp nhận nhượng bộ? Nếu thế, những người bảo thủ cho rằng đó là để người Nga gác một chân lên Mỹ.

Reagan đã đóng khung các hiệp ước vũ khí hạt nhân mới với Nga qua cụm từ “tin tưởng nhưng cần xác minh” – nghĩa là, để giữ một thỏa thuận, hai nước cần phải kiểm tra các kho vũ khí dự trữ của nhau. Corker và Isakson tin, nhưng họ sẽ không bỏ phiếu thuận nếu không thể xác minh.

Nhưng Nhà Trắng muốn giữ kín những hồ sơ đàm phán, phần lớn là vì muốn giữ quyền đàm phán và tự quyết với Nga. Nếu hồ sơ được giao cho Thượng viện, các chi tiết trong đó chắc chắn sẽ được công khai trên một vài phương tiện truyền thông chỉ trong vòng vài giờ, nếu không nói là vài phút. Thông thường, trong quá khứ, Thượng viện không bảo mật những tài liệu tương tự về các hiệp ước như thế. Bởi vậy, mọi việc bế tắc khá rõ: Nhà Trắng không muốn để các thượng nghị sĩ tiếp cận những hồ sơ đàm phán này, còn các thượng nghị sĩ mà tổng thống cần họ đứng về phía mình cũng sẽ không bỏ phiếu cho ông trừ khi họ có đủ thông tin mình muốn.

Hillary đã nghĩ ra một phương án, vừa giữ được ý định của Nhà Trắng, vừa thỏa mãn các yêu cầu của Corker và Isakson. “Chúng ta sẽ phải đưa họ cái gì đây. Chúng ta không thể cứ nói không, không, không,” bà nói với các luật sư của Bộ Ngoại giao và những phụ tá liên quan. “Hãy quay lại và viết một bản tóm tắt chi tiết những điều mà họ quan tâm nhất về hồ sơ đàm phán. Có thể dưới dạng một bản ghi nhớ từ tôi, hoặc một bản tóm tắt hồ sơ đàm phán. Chúng ta sẽ gửi văn bản này đến khu bảo mật tại Thượng viện, họ chỉ cần ngồi đó và đọc”.

Corker và Isakson đến khu vực bảo mật tại Nghị viện để xem xét các bản tóm tắt. Tương tự những gì thường làm trong các cuộc đàm phán quốc tế, Hillary đã tìm ra cách để loại bỏ rào cản lớn bằng một cử chỉ nhỏ. “Đây là ý tưởng và giải pháp của cá nhân Hillary,” một trợ lý nói.

Khi Ủy ban bỏ phiếu vào tháng Chín, Isakson, Corker và Lugar đã cùng các đảng viên Dân chủ thông qua dự thảo hiệp ước. Không cần đa số phiếu, sự ủng hộ của họ đã phát đi tín hiệu hợp tác giữa hai đảng, và điều đó rất quan trọng để giành được 2/3 số phiếu của toàn thể Thượng viện. Tuy nhiên, dự thảo hiệp ước còn rất xa mới kiện toàn được. Harry Reid (D-Nev.), lãnh đạo phe đa số tại Thượng viện không có ý định dành thời gian quý giá vào một hiệp ước mà có thể sẽ không được thông qua. Điều tệ hơn nữa với Chính phủ, là những người thuộc Đảng Cộng hòa sẽ giành thêm ghế trong cuộc bầu cử giữa kỳ vào tháng Mười một, đồng nghĩa với những khó khăn lớn hơn trong việc thông qua – thậm chí là không thể thông qua – nếu cuộc bỏ phiếu phải trì hoãn sang năm tiếp theo. Dù Đảng Dân chủ đang kiểm soát Thượng viện, việc có thêm các đảng viên Cộng hòa vẫn gây khó khăn hơn để giành 2/3 số phiếu ủng hộ; nếu Đảng Cộng hòa chiếm đa số tại Thượng viện, dự thảo hiệp ước chắc chắn bị bác.

Jon Kyl, Thượng Nghị sĩ bang Arizona, người dẫn đầu nhóm bảo thủ về vấn đề vũ khí hạt nhân, đã liên tục phản đối dự thảo hiệp ước. Cả Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao đều không bình luận trước cuộc bỏ phiếu giữa nhiệm kỳ. Vào ngày 2 tháng Mười một, các tính toán phải thay đổi, nhưng không nhiều như Kyl mong muốn. Đảng Cộng hòa giáng một đòn nặng nề đối với Obama và Đảng Dân chủ khi giành thêm nửa tá số ghế tại Thượng viện và hơn năm tá tại Hạ viện. Đảng Dân chủ gần như đã thua tại Hạ viện, nhưng vẫn duy trì thế đa số mong manh tại Thượng viện.

Hai tuần sau, Kyl tuyên bố, hiệp ước đó đã chết.

Nhưng Obama đang phải chịu áp lực từ Tổng thống Nga Dmitri Medvedev để hoàn tất đàm phán và ký kết, vấn đề này đã được Nga đưa ra khi hai bên gặp nhau tại Nhật Bản. Cam kết của Obama trong việc khôi phục quan hệ Mỹ – Nga sẽ giúp duy trì uy tín của Mỹ trước cả nền chính trị thế giới cũng như trong nước. Còn với các đối thủ thuộc Đảng Cộng hòa, kỳ họp sắp tới là cơ hội cuối để Obama có thể cứu vãn một chiến thắng. Denis McDonough, người được bổ nhiệm làm phó cố vấn an ninh quốc gia, đã ra một chỉ thị rất rõ ràng cho các quan chức: phải hoàn tất mọi việc trước cuối năm đó.

Hillary đã gặp các thành viên của Ủy ban Đối ngoại vào ngày 17 tháng Mười một, một ngày sau khi Kyl thông báo thời điểm chết của hiệp ước, và trong một buổi họp báo hiếm có tại Capitol Hill do chánh Văn phòng nội các tổ chức, Hillary đã phát biểu trước các phóng viên cùng John Kerry và Lugar. Phiên họp sắp tới sẽ là cơ hội cho hai đảng xích lại gần nhau, bà nói. Mỹ cần phải cử những thanh tra tới Nga. Hơn nữa, Hillary khẳng định, “đây là hiệp ước quan trọng đối với mối quan hệ song phương giữa chúng ta và Nga. Chúng tôi đã tăng cường hợp tác vì lợi ích chung của đất nước về vấn đề Iran, Afghanistan, về việc hạn chế vũ khí hạt nhân, chống khủng bố, và chống buôn lậu”. Nếu nước Mỹ không hoàn thành hiệp ước START mới, làm sao có thể mong đợi người Nga sẽ tiếp tục ủng hộ những nỗ lực này?

Hillary nói với các cộng sự rằng cuộc gặp các thượng nghị sĩ và cuộc họp báo sau đó đã tạo nên một bước ngoặt lớn cho cuộc bỏ phiếu. Ellen Tauscher, người bạn lâu năm của Hillary và là thứ trưởng phụ trách kiểm soát vũ khí, đã phải nhập viện vì bệnh ung thư thực quản. Bà mong có mặt tại Capitol Hill để vận động các thượng nghị sĩ. Chắc chắn nhiều người thuộc Đảng Cộng hòa hy vọng họ không phải lựa chọn giữa việc giúp đỡ Obama hay bỏ phiếu chống một hiệp ước nhằm cắt giảm kho dự trữ hạt nhân của Nga. Nếu buộc phải lựa chọn, Tauscher nghĩ, việc bỏ phiếu sẽ được những người Cộng hòa – vốn từ chối bỏ phiếu thuận cho Đảng Dân chủ đối lập – thực hiện. Bà khó thở, nhưng vẫn gắng cất giọng gửi lời chúc tốt đẹp đến Hillary, Thượng Nghị sĩ Dianne Feinstein, và Kerry, đó cũng là lời khuyên chiến lược: “Hãy bắt họ phải bỏ phiếu!”

Trong khi đó Hillary đã liên lạc bằng cách gọi điện hoặc gặp gỡ với hơn một nửa số thượng nghị sĩ, có thể là 2/3, một nguồn tin thân cận cho biết. Biden, cựu chủ tịch Ủy ban Đối ngoại, vội vã đến gặp Hillary. Ông gọi điện hoặc gặp một nửa thành viên của Thượng viện trong suốt hai tháng Mười một và Mười hai. Ông và Hillary biết điều tồi tệ nhất có thể xảy ra là khi họ trình dự luật, và thất bại. Reid còn do dự, không chắc chắn về những người sẽ bỏ phiếu. Nhưng cuối cùng ông cũng lên kế hoạch cho một loạt những cuộc gọi vào lễ Giáng sinh. Thượng nghị sĩ lãnh đạo nhóm thiểu số Mitch McConnell (R-Ky) tuyên bố sẽ phản đối hiệp ước. Các quan chức Nhà Trắng tổ chức hội nghị trực tuyến để bàn bước tiếp theo. “Chúng ta đã có được những người sẽ bỏ phiếu,” Biden nói. “Đã đến lúc rồi”.

Sự thật là họ không biết có bao nhiêu phiếu ủng hộ. Bằng chứng: trong khoảnh khắc ngay trước cuộc bỏ phiếu, Biden và Clinton đã hội ý riêng với Kerry ở Văn phòng Uỷ ban Đối ngoại – được trang trí cầu kỳ theo nghi thức và nằm ngay gần Thượng viện – nhằm đảm bảo giành được sự ủng hộ của vài thượng nghị sĩ. “Khi chúng tôi trình dự luật, chúng tôi không thể biết có bao nhiêu người bỏ phiếu thuận”, người có danh sách liên lạc của Hillary nói.

Cuối cùng, họ giành được 71 phiếu – nhiều hơn 4 phiếu so với yêu cầu tối thiểu. Đó là một nỗ lực toàn diện của chính quyền về vấn đề mà đại đa số người Mỹ còn chưa được nghe nói đến, nhưng lại thật sự quan trọng để có sự ủng hộ của Nga trong cuộc chiến ở Afghanistan, cũng như nỗ lực cô lập Iran. Đó cũng là ngày của Obama và Biden, còn Hillary tạm thời rất ít được nhắc đến trong các bản tin. Nhưng trong diễn biến hàng tháng trời tại Capitol Hill, Hillary đã gây áp lực không ngừng, chộp lấy quả bóng, và để cho Nhà Trắng hoàn tất động tác thả quả bóng đó vào rổ. Thậm chí bà đã sắp đặt để Obama và Biden giành được uy tín công khai vì chiến thắng này.

Những nỗ lực bền bỉ, liên tục của bà trong việc giải quyết những vấn đề phức tạp như Hiệp ước START mới hay trừng phạt Iran – những vấn đề mà nếu thất bại thường thu hút nhiều sự chú ý hơn cả thành công – đã chứng minh cách làm việc chuyên nghiệp của Hillary cũng như những cống hiến của bà cho các chính sách của Obama. Ông hài lòng khi có thể dựa vào Hillary trong quá trình bà giải quyết công việc, mà không cần phải hướng dẫn gì mấy. “Nếu ông ấy không phải lo lắng gì về một người và những điều người ấy làm, đó sẽ là lời khen ngợi cao nhất mà ông ấy dành cho người đó,” một cố vấn thân cận của Obama giải thích. “Và người đó là Hillary.”

Công việc nơi hậu trường của Hillary nhân danh Obama tương phản với những gì mà chồng bà làm cho Obama khi xuất hiện trong ánh đèn sân khấu. Vào cuối tháng Mười năm 2010, Bill đã thực hiện hơn 100 sự kiện chính trị, phần lớn dành cho những ứng viên đã từng ủng hộ Hillary, và ông luôn giữ hình ảnh bà tươi mới trong tâm trí cử tri Đảng Dân chủ. “Tôi phải nói với các bạn, không có gì là bí mật việc tôi đã làm những gì tôi có thể làm để đánh bại Tổng thống Obama, và tôi vẫn thích ngoại trưởng của tôi”, ông nói với cử tri ở Battle Creek, Michigan, nơi ông diễn thuyết vận động thay cho Mark Schauer, người mới bắt đầu sự nghiệp tại Hạ viện.

Bill cũng xử lý một vài chuyện không hay của Đảng Dân chủ giúp Obama, và trở thành tiêu đề các bài báo trên cả nước, chẳng hạn ông đã cố thuyết phục Hạ Nghị sĩ Kendrick Meek, một đồng minh lâu năm của gia đình, từ bỏ cuộc đua vào Thượng viện ở Florida. Các đảng viên Dân chủ ở bang Sunshine đã bị chia cắt giữa Meek và Thống đốc Charlie Crist, một đảng viên Cộng hòa đã ra sức chạy đua với tư cách cá nhân. Nếu Meek bước sang một bên, Crist có thể thắng Marco Rubio, một ngôi sao đang lên của Đảng Cộng hòa, người được xem như một “Obama” của Đảng Cộng hòa, và là ứng viên trẻ hấp dẫn có thể thắp sáng ngọn lửa từ cơ sở mà không xa lánh những người ôn hòa. Crist đã gọi cho Band, Band gọi cho Meek, và cuối cùng Bill nghĩ ông phải để Meek sớm dừng tranh cử. Nhưng Meek lại thay đổi ý định, hoặc không lý giải cuộc đối thoại theo cùng cách với Bill; và Rubio đã đi đến chiến thắng cả Meek và Crist.

Khi có kết quả kiểm phiếu ngay trong đêm bầu cử hồi năm 2010, thì đã rõ ràng rằng, Obama và Bill có “thành tựu” ít nhất là ngang nhau trong hai năm đầu nhiệm kỳ tổng thống: họ đều mất quyền kiểm soát Hạ viện trong kỳ bầu cử giữa nhiệm kỳ đầu tiên. Obama thừa nhận Đảng Dân chủ phải gánh chịu một “thất bại nặng nề” tại cuộc bầu cử, và cũng có thể nói tương tự về thành tựu “làm tổng thống” của ông. Obama đã thành công trong cải cách bảo hiểm y tế, nhưng nền kinh tế vẫn khủng hoảng. Mức đánh giá tín nhiệm dành cho ông rơi xuống khoảng giữa 40%. Đây là lúc để bắt đầu nghĩ nhiều hơn về việc tái tranh cử của ông. Nhãn hiệu Clinton, đã được đánh bóng trong suốt hơn hai năm qua kể từ cuộc tranh cử 2008, cũng là một nhãn hiệu tốt hỗ trợ Obama.

Hai năm trước, hầu như khó có thể tưởng tượng việc Obama công khai kêu gọi sự giúp đỡ từ Bill Clinton. Trong suốt nhiệm kỳ đầu tiên, các trợ lý cho biết, Obama đã nhiều lần nói chuyện với Clinton và dần nắm bắt được những suy nghĩ của ông ấy. Vào ngày 10 tháng Mười hai, khoảng hơn một tháng sau kỳ bầu cử, Obama đã mời Bill Clinton đến cuộc họp tại Phòng Bầu dục. Tổng thống vừa có va chạm với Đảng Cộng hòa về luật thuế vốn ghi nhận dấu ấn của Clinton với tầng lớp trung lưu, nên ông nghĩ sẽ là một ý tưởng hay nếu Clinton có thể “chia sẻ một số suy nghĩ của mình” về nền kinh tế với công chúng.

Obama cùng Clinton tới phòng họp báo của Nhà Trắng và nói với cánh nhà báo rằng, cựu tổng thống sẽ “có cuộc nói chuyện vắn tắt”. Nhưng “vắn tắt” đã hóa thành 30 phút, Clinton đứng trên bục và trả lời hàng loạt những câu hỏi từ những phóng viên mà ông biết rõ họ tên.

Phần lớn thời gian Bill đứng đó một mình. Obama đã nói với báo chí rằng ông phải đi gặp Michelle Obama đang chờ ở dinh thự để cùng tham gia một bữa tiệc. “Tôi không muốn làm bà ấy bực mình,” Clinton trả lời Obama. “Ông cứ đi đi”.

Và trong nửa giờ tiếp theo, cứ như nhiệm kỳ tổng thống của Clinton chưa bao giờ kết thúc. Một phóng viên tờ New York Times viết rằng nó trông giống như Obama đã “trao công việc tổng thống của mình cho Bill Clinton.”

Trong khi Bill thích thú trở lại với ánh đèn sân khấu, trong thời điểm nửa nhiệm kỳ thảm hại của Obama, thì Hillary lại lặng lẽ chữa lành những vết thương cho những người bạn đã rời khỏi văn phòng. Một số người nhận được điện thoại hoặc lời nhắn của bà, như Hạ Nghị sĩ Dina Titus (D-Nev.) và Dan Maffei (D-NY.), đã thất cử giữa nhiệm kỳ 2010, nhưng vẫn chuẩn bị cho việc quay lại chính trường hai năm sau; họ sẵn sàng giúp đỡ nếu bà muốn tái tranh cử tổng thống. Có những con người mà tên của họ vẫn ở trong cuốn sổ Rolodex của Hillary, ghi danh những người bạn và người ủng hộ bà.

“Đó là câu chuyện chưa được kể,” một quan chức của Bộ Ngoại giao cho biết. “Bà ấy đã gọi rất nhiều cuộc điện thoại đến mọi người chỉ để nói câu ‘cảm ơn vì những gì bạn đã cống hiến.’ Điều này thật quan trọng, vì bà ấy đánh giá cao những gì họ đã làm và biết đây là thời gian khó khăn với họ.” Đương nhiên, trong chính trị, đặc biệt là với Clinton, “cảm ơn vì những gì bạn đã cống hiến” chỉ là cách bày tỏ lòng trung tín với nhau – trao đi bây giờ và nhận lại sau này.

Giai đoạn hậu bầu cử giữa nhiệm kỳ đó cực kỳ khó khăn với Hillary. Vài giờ trước khi Bill bước lên bục tại Nhà Trắng, Hillary đã gặp Richard Holbrooke, Frank Ruggiero, và cả Jake Sullivan trong văn phòng của mình để thảo luận các khía cạnh của việc thương thuyết hòa giải với Taliban, vì Mỹ đã đặt kế hoạch rút quân ra khỏi Afghanistan căn cứ theo quyết định của Obama. Holbrooke vẫn hy vọng thỏa thuận được với Taliban, ông đã đưa ra một ý kiến mạnh mẽ rằng Mỹ nên theo đuổi thỏa thuận thúc đẩy Taliban từ bỏ bạo lực và chấp hành Hiến pháp Afghanistan. Đối với chính quyền, các kết quả đó thậm chí là điều kiện tiên quyết để ngồi xuống bàn thương lượng với Taliban.

Khi mô tả về trường hợp của mình, Holbrooke thở gắt, sắc mặt chuyển sang màu đỏ bất thường. Cố gượng, ông nói với Hillary mình vẫn ổn và tiếp tục làm việc được.

“Ông phải lập tức đến bệnh viện,” Hillary nói. “Ông cần được bác sĩ khám ngay”.

Sullivan và Ruggiero giúp ông vào thang máy riêng từ văn phòng của Hillary, mọi người khẩn trương đưa ông đến phòng y tế của Bộ Ngoại giao, trong khi một xe cứu thương đang trên đường tới tòa nhà. Holbrooke ngã quỵ trong thang máy. Ông lên cơn đau tim – động mạch chủ bị vỡ – và nhanh chóng được đưa đến Bệnh viện Đại học George Washington. Hillary đã có hơn hai năm làm việc với nhóm của Holbrooke, trong các cuộc gặp với bà, ông luôn đưa nhiều người tới tham dự, dù quy định của Bộ chỉ cho phép các quan chức cấp cao như ông được mang theo một hoặc hai trợ lý.

Giờ đây, khi các bác sĩ đang chạy đua với thời gian để phẫu thuật cho Holbrooke, Hillary chứng kiến sự có mặt của những thành viên mật thiết trong nhóm của ông, họ đã ở bệnh viện suốt ba đêm trắng. Vào một lần, bà đưa họ đi ăn tối, cùng đi bộ xuyên qua vòng xoay Washington Circle, ngang qua bức tượng đồng của G. Washington – Tổng thống Mỹ đầu tiên – trong trận Princeton; rồi đến Mei Wah, một nhà hàng Trung Quốc, nơi những bức ảnh của các chính trị gia được trưng bày trên những bức tường, có cả gia đình Clinton. Nơi đây từ lâu đã là một điểm đến ưa thích của Bill, và nhà Clinton đã biến nó thành nơi họp mặt ăn trưa trong nhiều năm.

Khi Hillary nhận được tin Holbrooke qua đời, bà để Obama ngồi lại trong một buổi tiếp tân của Bộ Ngoại giao, rồi vội vã tới bệnh viện. Nửa tá thành viên trong nhóm của Holbrooke đang tập trung ở hành lang.

Bà thấy họ ở đó, đang khóc. Bà ôm lấy từng trợ lý của ông.

Richard Holbrooke qua đời, ở một khía cạnh khác, đã loại bỏ điểm căng thẳng cuối cùng giữa Nhà Trắng của Obama và Bộ Ngoại giao của Hillary. Ông được xem như sự phản chiếu những khác biệt trong các hoạt động của một nhân vật xuất sắc với khả năng thiên bẩm.

Các trợ lý của Nhà Trắng từng rất căng thẳng với Holbrooke. Ngoài mối đe dọa từ chiến dịch tranh cử, họ nghĩ rằng ông là người đã làm rò rỉ thông tin, gây thiệt hại trong cuộc đàm phán nhạy cảm về tương lai của Afghanistan và Tổng thống Hamid Karzai, và sau đó lại nói dối về chuyện đó. “Những cuộc tranh luận này chỉ đạt hiệu quả nếu được thực hiện một cách bí mật, không bị rò rỉ thông tin, còn ông ấy thì luôn làm thông tin bị rò rỉ,” một trợ lý Nhà Trắng nói. “Ông ấy thường nói với những người ở Nhà Trắng rằng, ‘Suốt cả năm nay tôi chưa hề nói chuyện với bất kỳ phóng viên nào.’ Còn các phóng viên lại cho chúng tôi biết, ‘Holbrooke không ngừng gọi cho tôi.’ Các phóng viên đưa ra những bằng chứng về việc họ nghe được thông tin từ ông ấy hằng ngày. Đó không phải chuyện người ta thiếu tôn trọng trí tuệ và khả năng của ông ấy. Đó là chuyện ông ấy đã không trung thực. Và khi một ai đó dối trá với bạn, điều đó thật khó chịu.”

Với việc Bill đang nổi lên như một người quan trọng được tổng thống ủy thác, và Holbrooke không còn là một điểm nóng, Nhà Trắng hầu như không còn lý do gì để nghi ngờ sự trung thành của Hillary. Thế là, sau hai năm cộng tác, quan điểm của Nhà Trắng là hoàn toàn có thể tin tưởng Hillary.

❀ ❀ ❀

[1] Tea Party được hiểu như một phong trào tập hợp những người Mỹ có xu hướng bảo thủ, bất mãn chính quyền đương nhiệm và phản kháng lại sự can thiệp quá nhiều của chính quyền vào đời sống nhân dân trong các lĩnh vực khác nhau như kinh tế, y tế, giáo dục... Thuật ngữ này có nguồn gốc từ sự kiện 1773, khi 13 tiểu bang ban đầu còn là thuộc địa của Anh, Chính phủ Hoàng gia Anh ban hành đạo luật tăng thuế (Tea Act), gây ra sự phản đối mạnh mẽ của cư dân thuộc địa. Họ không đồng tình việc tăng thuế trong khi không có đại diện trong Nghị viện Anh để bảo vệ quyền lợi cho 13 tiểu bang. Một nhóm những người chống lại chính quyền mẫu quốc ra đời tại Boston với tên gọi Boston Tea Party. Nhóm này đã lên tàu và vứt hết những bao trà nhập cảng từ Anh vào Mỹ xuống biển. Đây là một trong những sự kiện khởi đầu cho phong trào đấu tranh đòi bình đẳng của 13 tiểu bang. (BT)

LLARY CLINTON: BÍ MẬT QUỐC GIA VÀ SỰ HỒI SINH ebook©MotSAch TVE-4u©nguyenthanh-cuibap —★— Nhà xuất bản: NXB Thanh Niên
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.