Trên máy bay Air Force One đang bay qua những cánh rừng lớn của Đông Nam Á vào ngày 19 tháng Mười một năm 2012, trong cabin riêng của tổng thống, Barack Obama và Hillary Clinton ngồi nói chuyện riêng với nhau. Như những người bạn lâu năm, họ nhắc lại khoảng thời gian làm việc cùng nhau trong năm năm qua, kể từ sau chiến dịch tranh cử 2008. Khi họ yên vị trong cabin có những chiếc ghế, ghế dài bọc da và một chiếc bàn gỗ lớn để tổng thống làm việc, Obama đặt ra câu hỏi nghiêm túc với Hillary về tương lai của bà. Một năm đã qua kể từ khi Hillary nói với Obama rằng bà sẽ không làm thêm một nhiệm kỳ nữa.
Bà nói với Obama: tôi tin rằng ông sẽ tái đắc cử và nhóm của tôi sẽ làm mọi thứ trong khả năng của mình để giúp đỡ ông. Nhưng tôi đã sẵn sàng tạm rút khỏi đời sống chính trị. Bà cũng đã khuyến cáo tổng thống dành nhiều thời gian tìm người thay mình.
Obama đã ngăn lại và nói rằng họ sẽ thảo luận về vấn đề này sau cuộc bầu cử.
Giờ đây Obama đã tái đắc cử. Vào ngày bầu cử, Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta đã khiến Obama choáng váng khi thông báo rằng ông cũng sẵn sàng rời nhiệm sở. Một nguồn tin thân cận nói, “Tin đó làm ông ấy rất sững sờ.”
Susan Rice, người mà Obama muốn lựa chọn để kế nhiệm Hillary, lại đang chịu những chỉ trích gay gắt của Đảng Cộng hòa ở Capitol Hill, nên rõ ràng sẽ không thể vượt qua cuộc bỏ phiếu phê chuẩn. Obama đối mặt nguy cơ mất cả hai thành viên cao cấp của hội đồng chiến tranh và đang chật vật tìm người thay thế cho một trong hai người. Hillary đã chứng tỏ là một đồng minh quan trọng trong nhiệm kỳ thứ nhất, trở thành cặp đôi hoàn hảo với người từng một thời đối đầu, họ đã hợp tác rất ăn ý. Tại sao điều kỳ diệu này lại kết thúc?
Bà có cân nhắc lại không? Obama hỏi, thêm một năm nữa thôi?
Không, Hillary trả lời. Đây là thời điểm bà rời nhiệm sở.
Thậm chí, dù Obama liên tục từ chối câu trả lời không và yêu cầu bà tiếp tục công việc, nhưng ông chỉ gắng hỏi bà thêm một lần nữa, một cách nhẹ nhàng, liệu bà có thể ở lại thêm một thời gian ngắn nữa hay không.
Câu trả lời vẫn vậy. Obama đành chấp nhận.
Năm 2008, Hillary đã không thể từ chối yêu cầu làm việc, nhưng giờ đây sau bốn năm làm việc và với triển vọng lờ mờ của cuộc bầu cử năm 2016 – tính toán của bà đã thay đổi. Obama cũng phần nào hiểu rằng bà đã hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Theo một nguồn tin tường thuật về cuộc nói chuyện đó, “Tổng thống đã không thúc ép bà ấy. Nếu ông ấy ép, thì Hillary cũng sẽ ở lại thôi.”
Năm 2008, khi Obama đề nghị Hillary làm ngoại trưởng, những cố vấn cấp cao của ông đã xì xào bàn tán việc làm sao lại có sự sắp xếp như vậy, vì hai người đã đối đầu rất gay gắt trong cuộc bầu cử sơ bộ, họ cũng lo ngại liệu Hillary có trung thành thực hiện những chỉ thị của Obama hay không. Giờ đây, sau bốn năm, Hillary đã trở thành một thành viên không thể thay thế như bất kỳ thành viên nào trong nội các của tổng thống, và bà đang thực hiện chuyến công du kéo dài 10 ngày để khẳng định khả năng của một chuyên gia chiến lược về quyền lực thông minh thúc đẩy cải cách dân chủ ở Burma, cũng như lòng nhiệt thành sẵn sàng lao vào những khủng hoảng khi đảm nhận vai trò người thương thuyết hòa bình ở Trung Đông.
Trong chuyến công du đến Thái Lan, Burma và Campuchia, chuyến công tác cuối cùng giữa hai người với tư cách là tổng thống và ngoại trưởng, Obama và nhóm của ông đều hồi tưởng những hoài niệm sâu sắc về người đối đầu kỳ cựu. Các trợ lý của Obama thể hiện rõ lòng biết ơn nhóm của Hillary ngay trên chiếc Air Force One. Hillary không phải là người duy nhất ở Bộ Ngoại giao nhận được lời đề nghị tiếp tục làm việc trong chuyến công du của tổng thống tới Đông Nam Á. Gần kết thúc bốn năm nhiệm kỳ đầu, quả thật, gần như không thể hiểu tại sao các trợ lý của Obama đã từng phản đối Capricia Marshall làm Trưởng ban lễ tân quốc gia. Qua thời gian, những thành viên trong Hillaryland trở thành các nhân vật danh dự trong lực lượng ngoại giao của Obama, xây dựng mối quan hệ gắn bó với những trợ lý thân cận của ông hiện đang có mặt trên chiếc Air Force One thông qua quá trình làm việc cần mẫn, sự duyên dáng và khiếu hài hước.
Trong một chuyến công du, Marshall và các trợ lý ngoại giao trẻ tuổi của Obama, đa phần là nam giới, tập trung tại khu vực dành cho nhân viên ngay phía sau cabin của tổng thống để xem bộ phim The Sitter (Bảo mẫu) sản xuất năm 2011. Ben Rhodes ngồi cạnh Marshall và Tommy Vietor ngồi dọc hành lang; Marshall há miệng, trợn mắt khi bộ phim bắt đầu với cảnh nam diễn viên Jonah Hill đóng cảnh yêu bằng miệng với nữ diễn viên Ari Graynor. Marshall, đôi khi cũng chia sẻ một chút tính hài hước với Hillary, cảm thấy vừa thích thú vừa xấu hổ. Khi cảnh nóng vừa kết thúc thì Obama bước ra khỏi cabin và đi qua khu vực nhân viên trên máy bay. Marshall chia sẻ cái liếc nhìn tỏ ra hiểu chuyện với những trợ lý của ông, vốn là những người ủng hộ bà mạnh mẽ nhất. “Chết tiệt,” một trợ lý nghĩ. “Ơn Chúa, ông ấy đã không nhìn thấy.” Marshall không nói một lời.
Mặc dù Obama không biết về chuyện đó, ông vẫn hiểu rõ những việc Marshall đã làm để chuẩn bị cho các chuyến thăm của Nhà Trắng nhằm đảm bảo mọi việc trơn tru khi tổng thống công du nước ngoài. Ông giao nhiệm vụ cho người bạn thân thiết nhất của mình trong nhóm cố vấn Nhà Trắng là Valerie Jarrett tiếp cận Marshall và thuyết phục bà ấy tiếp tục làm việc.
“Tổng thống muốn bà ở lại,” Jarrett nói với Marshall trong một chuyến công du.
“Vâng,” Marshall trả lời, không do dự.
Obama và Hillary đã dành toàn bộ chuyến bay kéo dài một giờ từ Rangoon đến Phnom Penh để cùng ngồi trong cabin, nhìn lại thời gian họ làm việc bên nhau và thảo luận về chuyến đi khẩn cấp tới Trung Đông của Hillary để đàm phán một thỏa thuận ngừng bắn giữa Israel và Palestine.
Một vài ngày trước khi Hillary gặp Obama tại Thái Lan, ngay trước khi ông kết thúc chuyến công du kéo dài ba ngày đến Đông Nam Á, Hillary đã có mặt tại Úc, nơi bà nghe tin Israel đang có kế hoạch tiến công dải Gaza để đáp trả hành động bắn tên lửa của Palestine. Hai năm trước, Israel và Palestine đã cắt đứt các cuộc đàm phán hòa bình trực tiếp, sau khi lệnh cấm xây dựng các khu định cư mới ở Bờ Tây và Đông Jerusalem của Israel hết hạn vào tháng Chín năm 2010. Người Palestine đã ra điều kiện cho một thỏa thuận hòa bình trên phần đất mà Israel nhượng lại, bao gồm các khu vực mà ở đó các khu định cư đang được xây dựng. Tranh cãi nội bộ trong những ngày đầu của chính quyền về việc lựa chọn ai là người thương thuyết hàng đầu đối với các vấn đề Trung Đông – George Mitchell, Dennis Ross, Joe Biden, hoặc bất kỳ ai muốn giải quyết những vấn đề hóc búa trong chính sách đối ngoại – đã rơi vào tình trạng đóng băng trong hầu hết thời gian của nhiệm kỳ đầu của Obama, bởi Mỹ không thể nào tạo ra một nền hòa bình bền vững ở Trung Đông nếu Israel và Palestine không muốn đàm phán với nhau.
Nhưng nay, thay vì giữ yên tình trạng cũ hoặc hướng tới hòa bình, cả hai bên đang quay lại lối mòn quen thuộc: phía Palestine bắn tên lửa sang Israel và Israel đáp trả quân sự. Ehud Barak, Bộ trưởng Quốc phòng Israel, gọi điện cho Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta, khi đó đang tham dự một hội nghị ở Perth cùng Hillary và các quan chức cấp cao khác, để cảnh báo rằng Israel đã lên kế hoạch tấn công Palestine. Đường dây liên lạc gián đoạn trước khi Ehud Barak có thể truyền đạt hết thông điệp, và khi ông kết nối lại được, đầu dây bên kia là chỉ huy trưởng Jeremy Bash. Để chắc chắn không có sự nhầm lẫn nào, Bash ghi cẩn thận những chi tiết được thêm vào. Sau đó ông nhìn thấy Panetta đang đi với Tham mưu trưởng Liên quân Martin Dempsey và Hillary.
Panetta và Hillary từng là đồng minh trong vụ tấn công Bin Laden, nhưng gần đây họ lại bất đồng quan điểm tại các phiên họp của Hội đồng An ninh Quốc gia. Cuộc va chạm tồi tệ lần đầu xảy ra vào mùa hè năm 2011, khi Hillary ủng hộ yêu cầu của Cameron Munter, Đại sứ Mỹ ở Pakistan, rằng lẽ ra ông ấy phải được cảnh báo trước khi nổ ra các cuộc không kích bằng máy bay không người lái của Mỹ ở Pakistan. Panetta phản pháo, “Không, Hillary, bà sai rồi.” Ngay cả khi gần kết thúc nhiệm kỳ đầu tiên của Obama, họ vẫn đối đầu như thể họ đang dùng mọi cách để giành được chỗ ngồi tại bàn ăn. Vài ngày trước khi họ đến Úc, Iran đã bắn rơi một máy bay không người lái của Mỹ. Trong Phòng Tình huống, một cuộc họp được triệu tập mà không có mặt tổng thống. Panetta thúc ép những người đứng đầu các cơ quan an ninh quốc gia đồng ý đưa ra một tuyên bố mạnh mẽ gửi tới Iran rằng, Mỹ không xem nhẹ hành động gây hấn đó.
“Thật nực cười,” Hillary, vốn vừa tranh luận với Panetta thông qua hội nghị trực tuyến về một vấn đề khác, nói, “Tại sao chúng ta lại làm thế? Thật không cần thiết.”
Hai người to tiếng với nhau vài phút, khiến bầu không khí trong phòng căng thẳng. Sau đó Hillary phá vỡ khoảnh khắc đó.
“Ôi, Leon [Panetta], tranh cãi với ông một lần nữa cũng vui thật đấy. Lần trước, ông có tham dự hội nghị trực tuyến, nhưng tôi không thấy vui như lúc này,” Hillary nói. Mọi người trong phòng, cả Panetta, đều bật cười.
Giờ đây, một vài ngày sau đó, họ đang đứng cùng Dempsey khi Bash gửi đi thông điệp của Ehud Barak. Bash nói với họ, Israel đang lên kế hoạch tấn công trả đũa bằng một chiến dịch nhằm vào các chiến binh ở Gaza, được gọi là Trụ cột phòng vệ.
“Chúng tôi phải hỗ trợ Israel 110%,” Hillary nói. “Họ đúng và họ có quyền tự vệ.”
Lúc đầu, Israel đã đáp trả bằng các cuộc không kích hạn chế, nhưng những ngày sau đó, Nhà nước Do Thái rõ ràng đang cân nhắc việc đưa hàng nghìn bộ binh vượt qua biên giới ở Gaza, một hành động mà Obama hy vọng sẽ bị ngăn chặn. “Một cuộc tấn công trên bộ của Israel tại Gaza có thể châm ngòi thiêu hủy mọi thứ trong khu vực, đó là Ai Cập, đó là Palestine, và là một đòn đáp trả chúng ta,” một quan chức cấp cao của Nhà Trắng giải thích.
Kết thúc chuyến công du kéo dài một tuần, Hillary gặp Obama tại Thái Lan ngày 18 tháng Mười một để tham gia một loạt các cuộc họp với các quan chức Thái Lan và dự bữa cơm tối tại cung điện ở Bangkok. Buổi tối, các nhân viên của họ bắt đầu thảo luận xem liệu việc đưa Hillary đến Trung Đông làm người chủ trì đàm phán một hiệp định ngừng bắn có phải là điều khôn ngoan hay không. Thông thường, ngoại trưởng Mỹ chỉ được cử đi nếu có đủ lý do để tin rằng sẽ có bước đột phá. Còn không, ngoại trưởng, cao hơn nữa là tổng thống và Chính phủ Mỹ, sẽ để mọi việc diễn ra theo cách của nó.
Tại cuộc thảo luận đêm Chủ nhật đó, các quan chức ngoại giao cũng như quan chức Nhà Trắng đều không nghĩ rằng giữa Israel và Palestine sắp đạt được một thỏa thuận nào. Một quan chức Nhà Trắng cho biết, “Thậm chí sau đó, nếu tình hình có nguy cơ đi lệch khỏi quỹ đạo thì chúng ta vẫn cần bà ấy đến đó, cả khi không có khả năng thành công nào.” Jake Sullivan, người thường xuyên phát biểu thay mặt Hillary, kiên quyết ủng hộ ý kiến Hillary nên đi, ngay cả khi không chắc chắn nỗ lực đó sẽ đi đến đâu; nhưng các nhân viên khác ở Bộ Ngoại giao và Nhà Trắng lại cho rằng sự xuất hiện của bà có thể lợi bất cập hại.
“Đó quả thật là một quyết định khó khăn, bởi không ai muốn đi vào thời điểm không thích hợp, và có những quan điểm hợp lý cho rằng ‘nếu chúng ta đến Trung Đông, thậm chí việc đó còn giúp trì hoãn ngừng bắn vì các bên sẽ vây quanh ve vãn chúng ta theo các cách khác nhau,’ một nguồn tin đi cùng chuyến công tác với Hillary cho biết. “Bà ấy và chồng đều có những câu nói yêu thích như ‘Cố gắng bao giờ cũng tốt hơn.’ Bản thân bà cũng muốn nói rằng ‘Tôi sẽ đảm nhận việc này.’”
Obama nói với các trợ lý rằng ông đang suy nghĩ về việc cử Hillary đến Trung Đông, nhưng ông muốn biết liệu người Palestine và Israel có thể đạt được một thỏa thuận trước khi ông đánh liều cử ngoại trưởng công du trong tình hình hỗn loạn này. Ông nói với các trợ lý rằng, chúng ta sẽ cho họ 24 giờ trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Vì thế, vào đêm đó, đêm Chủ nhật trước Lễ Tạ ơn, vẫn không có một quyết định nào của tổng thống về việc Hillary có dừng chuyến công du cùng tổng thống để mạo hiểm làm trung gian cho một lệnh ngừng bắn ở Trung Đông hay không.
Sáng thứ hai, Obama và Hillary bay tới Burma, nơi Hillary đã đạt được thành công rõ ràng nhất trong tư cách một người ủng hộ mạnh mẽ cho quyền lực thông minh, sử dụng quyền lực cứng và mềm để thuyết phục chế độ quân sự thực hiện cải cách dân chủ.
Bốn năm qua, Hillary đã coi Burma là nơi thử nghiệm để chứng minh rằng nước Mỹ có thể dùng mọi đòn bẩy khác nhau để tác động tới suy nghĩ của các nhà lãnh đạo các nước khác. Bà phát biểu trong một chuyến công du ở Đông Nam Á vào tháng Hai năm 2009, “Rõ ràng, cách chúng ta áp đặt các lệnh cấm vận đã không gây ảnh hưởng gì lên các nhóm quân sự ở Burma.” Thay vào đó, bà dùng cả củ cà rốt với cây gậy cấm vận: nếu Burma tiến hành cải cách, các lệnh cấm vận với chế độ quân sự có thể được dỡ bỏ hoặc nới lỏng, và các công ty Mỹ có thể bắt đầu kinh doanh tại Burma.
Lời hứa dỡ bỏ lệnh cấm vận và mở ra mối quan hệ thương mại Mỹ-Burma đã thuyết phục được các nhà độc tài Burma thay đổi hành vi. Aung San Suu Kyi, người giành giải Nobel Hòa bình đã được trả tự do, và không còn bị quản thúc vào cuối năm 2010; Tổng thống Thein Sein cũng tỏ rõ mong muốn khôi phục quan hệ ngoại giao với Mỹ bằng việc trả tự do cho các tù nhân khác, dỡ bỏ kiểm soát một số trang web nhất định và kêu gọi tổ chức một cuộc bầu cử mới. Chính quyền Obama cũng đáp lại bằng cách nới lỏng các biện pháp trừng phạt mà Mỹ đã áp đặt; Hillary đã đến thăm cả San Suu Kyi và Thein Sein vào cuối năm 2011 trong tư cách ngoại trưởng Mỹ thăm Burma lần đầu tiên sau hơn nửa thế kỷ.
Câu chuyện về thành công đang diễn ra tại Burma lại khiến Trung Quốc tức giận. Trung Quốc vốn là thế lực chi phối chính trị Burma. Một quan chức Mỹ đang công tác tại khu vực này nói, “Trung Quốc nghĩ rằng chúng tôi đang cố kéo Burma khỏi Trung Quốc, xem đây là âm mưu cơ bản nhằm kiềm chế và cô lập Trung Quốc, hạ thấp Trung Quốc.”
Đến tháng Một năm 2012, khi Hillary thảo luận với những trợ lý cấp cao về vấn đề Burma trong khi phác thảo kế hoạch làm việc cho năm cuối cùng của mình, thì Suu Kyi cũng đang cân nhắc tranh cử tổng thống, và Mỹ chuẩn bị tuyên bố khôi phục quan hệ ngoại giao toàn diện với Burma.
Suu Kyi đến thăm Mỹ vào tháng Chín năm 2012, ngay sau khi nổ ra cuộc tấn công ở Benghazi, để nhận huy chương vàng của Nghị viện và vận động các nhà lãnh đạo Mỹ dỡ bỏ những lệnh cấm vận còn lại đối với Burma. Suu Kyi đã gặp và nói chuyện riêng với Laura Bush trong một phòng riêng tại khách sạn Ritz-Carlton ở Georgetown. Bush và Suu Kyi nói chuyện gần một tiếng, nhưng Suu Kyi chuyển một thông điệp cốt lõi của bà đến các nhà lãnh đạo Mỹ chỉ trong vài từ.
“Các biện pháp trừng phạt đã có hiệu quả,” bà ấy nói với Laura Bush, theo một nguồn tin có mặt tại cuộc gặp. Theo quan điểm của chính quyền Obama, các biện pháp trừng phạt đã thật sự phát huy tác dụng, nhưng việc dỡ bỏ các lệnh trừng phạt này sẽ mở rộng quan hệ thương mại giữa hai nước. Và Nhà Trắng hài lòng chúc mừng Hillary cùng đội ngũ nhân viên Bộ Ngoại giao đã hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Một trợ lý an ninh Nhà Trắng cho biết, “Có thời điểm Hillary đề xuất với tổng thống một số vấn đề, trong đó có Burma, và nói rằng ‘Chúng tôi nghĩ đây thật sự là cơ hội. Họ xứng đáng có những điều đó.’”
Cũng trong tuần đó, phóng viên Ann Curry của đài NBC hỏi Suu Kyi liệu bà có từ bỏ ý định tranh cử tổng thống ở đất nước mình hay không, câu trả lời của Suu Kyi có thể được xem là cái nhìn sâu sắc về suy nghĩ của Hillary.
“Không,” bà nói. “Nếu bạn là một chính trị gia, bạn không bao giờ bỏ qua một cơ hội như vậy.”
Trong di sản của Hillary, nền dân chủ Burma đã được bà xác định từ sớm, và tiến hành các biện pháp cần thiết một cách có phương pháp trong vài năm trước khi đệ trình thành quả lên Obama. Khi câu chuyện Libya thất bại ở Benghazi, Burma trở thành bằng chứng hỗ trợ chứng minh cho thế mạnh của quyền lực thông minh. Một quan chức ngoại giao cấp cao vẫn tiếp tục làm việc ở Bộ Ngoại giao sau khi Hillary rời nhiệm sở nói, “Đó chỉ là một biểu tượng về những gì đang diễn ra đúng hướng. Nó cho thấy tầm quan trọng của cách thức hợp tác và áp lực chính trị trong việc tạo ra sự thay đổi mà không cần phải thả một quả bom, và cũng là một đề tài mới cho báo giới, một ví dụ tuyệt vời cho phần còn lại của thế giới.”
Trong khi những người trung thành của Hillary xem chiến thắng này là sự xác nhận cho lý thuyết của bà về chính sách đối ngoại và là một mô hình về cách bà tiếp cận trong việc xây dựng nền dân chủ nếu bà là tổng thống, thì các nhà phê bình lại nhìn nhận việc xem Burma như một thành công của Hillary là bằng chứng cho thấy bà đã có một nhiệm kỳ không nổi bật trong tư cách ngoại trưởng. Tháng Một năm 2013, phóng viên Brit Hume của Fox News nói rằng, những thành công như ở Burma “chỉ làm rõ thêm năng lực của bà” với tư cách ngoại trưởng, “chứ không phải một việc gì vĩ đại.”
Tương tự, người của Đảng Cộng hòa cũng chế giễu “thành quả” của Hillary. “Burma ư?” một người đã cười. “Thật hả?”
Khi đặt chân đến Burma, Obama và Hillary đã đến cung điện của Chính phủ, một ngôi chùa Phật giáo nổi tiếng, và cuối cùng đến thăm nhà riêng của San Suu Kyi, nơi bà từng bị quản thúc tại gia nhiều năm. Khi Hillary vẫn còn nán lại trong xe limousine thì Obama đã chào đón Suu Kyi bằng một cái cúi mình nhẹ và bắt tay. Cả hai đều quay lại phía chiếc limousine để nhìn Hillary bước ra. Gần một năm trước, Hillary đã đến thăm Suu Kyi, hai người phụ nữ ôm chầm lấy nhau và dắt tay nhau đi về phía ngôi nhà.
Trong bài phát biểu sau khi gặp Suu Kyi, Obama đánh giá cao Hillary về những gì bà đã làm ở Burma.
“Tôi vô cùng biết ơn Hillary, không chỉ về công việc của bà mà còn về thông điệp mạnh mẽ mà bà và Aung San Suu Kyi đã gửi tới mọi người trên thế giới về tầm quan trọng của việc phát huy giá trị dân chủ và nhân quyền.” Sau đó, Obama và Hillary bước lên chiếc Air Force One để bay đến Campuchia; suốt thời gian đó, hai người đã nói về quyết định rời nhiệm sở của bà và việc bà tham gia giải quyết cuộc khủng hoảng đang leo thang ở Trung Đông.
Trong khi đó, các trợ lý của Obama và Hillary đã thảo luận với nhau, với Anne Patterson và Dan Shapiro, các Đại sứ Mỹ ở Ai Cập và Israel. Người Ai Cập, đã tiếp xúc trực tiếp với các lãnh đạo của lực lượng Hamas ở dải Gaza, là những người trung gian then chốt trong các cuộc đàm phán ngừng bắn.
Tối hôm đó, Obama cáo lui sớm tại bữa tối ở Phnom Penh để gọi điện cho Tổng thống Ai Cập Mohamed Morsi. Obama cảm thấy thỏa thuận có thể rơi vào tình trạng bế tắc, ông yêu cầu Morsi hãy thông báo nếu có bất cứ tiến triển nào. Obama nói, “Ngài có thể gọi cho tôi bất kỳ lúc nào, dù là muộn hay sớm, nếu ngài có thông tin muốn để tôi biết.”
Một vài giờ sau, khoảng 1 giờ sáng ở Campuchia, Ben Rhodes đánh thức Obama trong phòng khách sạn. Tổng thống Morsi ở đầu dây bên kia. Những nội dung chính của thỏa thuận dần hiện ra. Obama nói với Morsi rằng ông đang cân nhắc cử Ngoại trưởng Hillary đến Trung Đông, vì cho rằng bà ấy có thể giúp Israel có được một thỏa thuận ngừng bắn. Tuy nhiên, ông chỉ sẵn sàng làm vậy nếu Morsi cam kết gặp riêng Hillary. Ông không thể cử bà đến đó để gánh chịu những điều không hay. Phần lớn nghệ thuật quản trị nhà nước là nghệ thuật sắp đặt, và Obama muốn chắc chắn Hillary có một kịch bản vững chắc trong tay trước khi đến Trung Đông. Giữa hai cuộc điện thoại liên lạc với Morsi, Obama đã nói chuyện với Hillary, và ngày càng nghiêng theo hướng cử bà đến Trung Đông.
Sáng hôm sau, ông đã chắc chắn. Ngay tại Trung tâm hội nghị Phnom Penh, nơi họ tham dự Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN, Obama hội ý với Hillary, Jake Sullivan, và trợ lý an ninh quốc gia của Nhà Trắng Rhodes cùng Tom Donilon.
“Chắc chắn chúng ta sẽ thực hiện việc này,” Obama nói.
Với tất cả khả năng lên kế hoạch chiến lược, Hillary thường cho thấy bà luôn sẵn sàng và kiên quyết trước khủng hoảng. Hillary giống như một chiến binh kỳ cựu luôn chống chọi áp lực; sự vững vàng được sinh ra và song hành cùng kinh nghiệm của bà. Hillary đã trải qua rất nhiều vụ việc, thậm chí có khi cả thế giới như đổ sập lên đầu bà. Kế hoạch tham gia chuyến công du châu Á của Obama mang lại cho Hillary uy tín với chính sách ngoại giao dài hạn và ấn tượng ở Burma. Nhưng lần này là cuộc xung đột đang xấu đi ở Gaza và Israel đã trở thành tâm điểm của chuyến công du nước ngoài quan trọng cuối cùng của bà.
Một phần lý do đưa Hillary trở thành người trung gian hòa giải ngay từ lúc đầu là bởi bà có quan hệ với Israel tốt hơn so với Obama. Đại diện Hạ viện Ileana Ros-Lehtinen, thành viên Đảng Cộng hòa ở bang Florida, người đứng đầu Ủy ban Đối ngoại, nói, “Trong tất cả trợ lý của tổng thống, Hillary là người thích hợp nhất có mặt ở đó. Tôi tin chắc rằng người Israel cũng như tôi sẽ cảm thấy bà ấy đóng vai trò là một thượng nghị sĩ hơn là một ngoại trưởng. Nhưng các bạn biết đấy, bà ấy phải làm việc cho ông chủ của mình.”
Nhưng, trên chuyến bay từ Campuchia đến Israel, Sullivan bắt đầu nghĩ lại về sự khôn ngoan trong việc nhận nhiệm vụ này. Ông ủng hộ mạnh mẽ chuyến đi, nhưng quan điểm có chút khác biệt với các cố vấn của Hillary. Nguy cơ thỏa thuận ngừng bắn sẽ thất bại, hoặc tệ hơn nữa là sẽ bùng nổ một cuộc chiến tranh toàn diện khi bà đặt chân đến Trung Đông là có thật, nên Sullivan không thể bỏ khỏi đầu hình ảnh binh lính Israel ào qua biên giới Gaza.
Thứ Ba, ngày 20 tháng Mười một, họ hạ cánh xuống Jerusalem trước 10 giờ tối theo giờ địa phương – khoảng 48 giờ trước khi các vị khách được mời đến dự bữa tiệc nhân Lễ Tạ ơn hằng năm của Hillary ở Chappaqua. Hillary và nhóm của bà đã trực tiếp gặp Thủ tướng Benjamin Netanyahu. Các cố vấn của Netanyahu và Hillary tập trung đông đủ tại phòng làm việc, người ta phải lấy thêm ghế mới đủ chỗ ngồi. Shapiro, David Hale, người thay George Mitchell làm đặc phái viên ở Trung Đông, luật sư Jonathan Schwartz và Jake Sullivan cùng tham gia trong nhóm thương thuyết của Mỹ với Hillary. Với người Mỹ, có vẻ toàn bộ ban lãnh đạo Israel đều có mặt ở trong phòng. Ngoài Netanyahu, có Bộ trưởng Quốc phòng Ehud Barak, Bộ trưởng Ngoại giao Avigdor Lieberman, cố vấn an ninh quốc gia Yaakov Amidror và cố vấn của Netanyahu là Ron Dermer, người sinh ở Miami.
Hillary dự định dành một tiếng họp với các nhà lãnh đạo Israel, nhưng cuộc họp đã kéo dài đến tận sáng sớm, các cố vấn luôn phải chạy qua chạy lại và tiếp năng lượng bằng trái cây và bánh quy. Đây không phải là cuộc tranh luận, nên hai bên cố gắng cùng nhau tìm ra một đề xuất vừa mang tính nhượng bộ, vừa đúng với quan điểm của Netanyahu và đáp ứng được yêu cầu của người Palestine để hướng tới một thỏa thuận ngừng bắn. Một số người Mỹ cảm thấy ấn tượng về “phong cách Talmud” trong các thảo luận giữa những người Israel. Netanyahu đưa ra một giải pháp khả thi, nhưng một trong những cố vấn của ông ấy chất vấn trực diện, hoàn toàn khác với cách thức tôn kính mà Tổng thống Mỹ mong đợi trong các cuộc gặp khách nước ngoài.
Buổi thảo luận cởi mở nhưng lại không tiến triển lắm, mặc dù cả hai bên có chung mục tiêu. Một trong những người tham gia cuộc thương lượng cho biết, “Mọi người chỉ cố gắng tìm ra giải pháp chung,” nhưng vẫn tồn tại một khoảng cách lớn giữa yêu cầu của người Palestine và những gì Israel có thể đáp ứng. Cuộc thương lượng đã không suôn sẻ.
“Tôi không chắc là chúng ta có nên đến đây hay không,” Sullivan nói với một đồng nghiệp lúc nghỉ giải lao. “Mọi chuyện chẳng đi đến đâu cả. Đây có thể là một sai lầm lớn.”
Theo kế hoạch, Hillary sẽ đến Ramallah vào ngày hôm sau để nói chuyện với Mahmoud Abbas, Tổng thống Palestine, nhưng giờ đây bà rời khỏi phòng làm việc của Netanyahu mà chẳng đạt được gì.
Một người tham gia cuộc thương lượng nói, “Chỉ cần quả tên lửa bắn vào một nơi nào đó là có thể lập tức dẫn đến một cuộc tấn công bằng bộ binh. Mọi thứ như nghìn cân treo sợi tóc. Khi chúng tôi rời khỏi văn phòng vào đêm hôm đó, tôi không chắc là chúng tôi sẽ có một giải pháp.”
Nhưng hôm sau, các trợ lý của Netanyahu gọi nhóm trợ lý của Hillary và đề nghị tổ chức một cuộc họp khác ngay sáng hôm đó. Hillary đồng ý gặp Netanyahu sau khi đã gặp Abbas; Sullivan và Schwartz trở lại văn phòng thủ tướng để sắp đặt công việc. Khi Hillary trở lại Jerusalem, Netanyahu đã đưa ra một số nhượng bộ mà ông thấy hài lòng. Theo lời một trợ lý của Hillary, Netanyahu đã cho bà đủ những hành trang cần thiết để đến Cairo và hoàn thành thỏa thuận. Về cơ bản, để đổi lấy việc Palestine chấm dứt bắn tên lửa vào Israel, Israel sẽ dừng cuộc tấn công và đồng ý mở các lối vào Gaza, cho phép người Palestine đi lại tự do và nối lại các hoạt động thương mại.
Ở Cairo, Hillary có cuộc gặp với Tổng thống Ai Cập Morsi, Bộ trưởng Ngoại giao Mohamed Kamel và cố vấn an ninh quốc gia hàng đầu của Morsi là Essam al-Haddad. Mỹ không đàm phán trực tiếp với Hamas, nhóm quân Hồi giáo nắm quyền ở dải Gaza, nên mối quan hệ giữa Ai Cập với Hamas là chìa khóa để người Palestine thương lượng và nhất trí về một lệnh ngừng bắn. Hillary nói chuyện điện thoại với Thủ tướng Netanyahu từ Cairo. Obama cũng điện đàm với Netanyahu và Morsi. Lễ Tạ ơn đang đến gần, bà phải kết thúc chuyến công tác này sớm để về nhà với gia đình mình.
Cuối cùng, Hillary nói với người Ai Cập, thỏa thuận này không thể tốt hơn được nữa. Israel đã ký thỏa thuận, và bây giờ Morsi cũng nên làm như vậy.
Hillary tỏ ra cứng rắn khi nói với Morsi, Haddad và Amr, “Đây là thỏa thuận mà chúng tôi đang công bố trong tối nay. Nó đang diễn ra.”
Người Ai Cập đã mạo hiểm để xảy ra một cuộc xâm lược của Israel vào Gaza, giờ lại tiếp tục mạo hiểm với tính mạng của người dân Palestine. Đối với Chính phủ non nớt của Tổng thống Morsi, đây có thể là một ván bài lớn. Vì muốn chứng tỏ mình có thể là một chủ thể quan trọng trên trường quốc tế, Morsi đã đồng ý với các điều khoản của thỏa thuận.
Hillary và Amr đã tổ chức một cuộc họp báo ở Cairo ngay đêm hôm đó và công bố các điểm chính của một thỏa thuận ngừng bắn chính thức. So với phiên bản sau này được Nhà Trắng công bố, thì một số điều khoản bên lề đã bị cắt bỏ theo quan điểm của Hillary và Obama, nhưng phần quan trọng là việc người Palestine đồng ý chấm dứt nổ súng với người Israel và ngược lại. Như vậy, cùng với vinh quang trong chuyến thăm Burma, Hillary có thêm chiến công thứ hai trong cùng chuyến công du.
Một trợ lý so sánh tâm trạng của Hillary lúc này với lúc phóng thích Chen Guangcheng (Trần Quang Thành), “Chúng tôi rơi vào một tình huống khó khăn và khó lường, vì có những lúc gần như bế tắc, vậy mà cuối cùng chúng tôi đã làm được”.
Một trong những trợ lý của Hillary chúc mừng khi bà bước lên máy bay cho một hành trình dài vượt Đại Tây Dương.
“Uhm, hãy chờ xem,” bà nói, hơi đùa cợt khi tỏ vẻ hoài nghi về tuổi thọ của một thỏa thuận hòa bình ở Trung Đông. “Nó đã bị phá vỡ chưa nhỉ?”