Tim Geithner chưa bao giờ gặp may. Vị bộ trưởng Tài chính mới của Obama nhậm chức với nhiệm vụ giải cứu hệ thống tài chính Mỹ – và khoản cứu trợ 700 tỉ đô-la được Nghị viện phê duyệt sẽ giúp ông ta thực hiện việc đó. Ông ta là người được Obama lựa chọn cẩn thận để giải quyết vấn đề nghiêm trọng nhất mà tân tổng thống phải đối mặt. Bất chấp những trọng trách của Geithner, chỉ một biểu tượng nhỏ về quyền lực của Hillary – "một ký hiệu" – cũng đủ nói lên tầm vóc nổi bật của bà giữa những người đồng cấp trong nội các Obama.
Trong giai đoạn đầu của bất cứ chính phủ mới nào, những mưu đồ giành quyền lực luôn xảy ra rất khốc liệt giữa các quan chức cấp cao trong Nhà Trắng, nội các và các cấp bậc chóp bu ở mỗi bộ. Không thể kể hết những dấu hiệu, cả lớn lẫn nhỏ, về ai là kẻ có quyền ai không; từ việc ai có nhiều thời gian gặp tổng thống nhất, đến việc ai giành được sân chơi trong các cuộc đấu ban đầu giữa các cơ quan. Bên cạnh danh tiếng vang dội, Hillary còn có lợi thế là bà hiểu rõ Chính phủ Liên bang từ trong ra ngoài. Từ chỗ là một nhân viên trong những cuộc điều trần vụ Watergate, tới nữ chủ tịch của Tập đoàn Dịch vụ Pháp lý Liên bang, rồi đến đệ nhất phu nhân và thượng nghị sĩ, bà đã gặt hái rất nhiều kinh nghiệm và hiểu thấu cách thức hoạt động của ngành hành pháp. Rất nhiều người đồng cấp của bà trong chính quyền Obama chưa từng phục vụ ở những vị trí cấp cao trong ngành hành pháp, chưa từng làm thống đốc, là thành viên Nghị viện, hay thuộc giới hàn lâm. Với những người từng làm việc trong Chính phủ, thì đa số họ đều làm việc ở những cấp thấp hơn nhiều. Hầu hết họ đều còn phải học hỏi nhiều thứ, cả về chính cơ quan của mình lẫn cách thức và lối hoạt động của ngành hành pháp.
Geithner là một ngoại lệ. Từng là thứ trưởng phụ trách các vấn đề quốc tế tại Bộ Tài chính, ông ta đã công tác ở cấp cao và hiểu rõ tòa nhà mới của mình. Ông đường hoàng là người có uy thế trong vấn đề Trung Quốc, thông qua một loạt các cuộc đàm phán được gọi là Đối thoại Kinh tế Chiến lược. Dưới thời Tổng thống George W. Bush và Bộ trưởng Tài chính Hank Paulson, các vấn đề ngoại giao cơ bản xếp sau các vấn đề tranh chấp kinh tế phức tạp, vốn là những gì sẽ biến hai cường quốc thành đối tác, hoặc thành đối thủ trong các chủ đề gây hậu quả toàn cầu. Geithner đã nghiên cứu về Trung Quốc ở Dartmouth và nói được tiếng Trung Quốc phổ thông, ông được đặt vào vị trí nhà đàm phán hàng đầu của Mỹ với đối thủ bên kia bán cầu.
Nhưng Hillary đã nhòm ngó vào “mảnh vườn” của Geithner. Trong quá trình chuyển tiếp, bà nói chuyện nhiều với Jim Steinberg và Bob Hormats – người về sau là thứ trưởng giải quyết vấn đề kinh tế – về các cơ hội tại châu Á có thể giúp Mỹ mở rộng ảnh hưởng. Nếu có được nội dung cốt lõi của cuộc Đối thoại Kinh tế Chiến lược, Hillary có thể giúp Bộ Ngoại giao mở cánh cửa tham gia cuộc đàm phán nhạy cảm nhất so với bất cứ cuộc đối thoại giữa hai quốc gia nào khác trên thế giới. Quyết định thúc đẩy tham gia đối thoại cho thấy chiến lược to lớn hơn của Hillary trong việc đưa Bộ Ngoại giao lên thành cơ quan lãnh đạo về tất cả các vấn đề chính sách đối ngoại, ngoại trừ những nơi đang có chiến sự buộc Lầu Năm góc phải chủ trì. Nhiều cơ quan từ Bộ Tài chính đến Bộ Thương mại đều có những thương vụ ở nước ngoài, và Hillary – người đã chủ trương xem “tài năng quản lý kinh tế” là một trong những trụ cột chính trong chương trình nghị sự của mình – muốn các đại sứ phải đóng vai trò như những CEO của Mỹ, phối hợp với các hoạt động của liên bang và nâng cao vị thế nước Mỹ tại bất cứ nước nào mà họ công tác. Trong Báo cáo Ngoại giao và Quốc phòng Bốn năm lần đầu tiên của Bộ Ngoại giao, được công bố sau này, quan điểm của Hillary được trình bày bằng ngôn từ rất minh bạch. “Hiện nay, với hàng loạt các cơ quan và công chức Hoa Kỳ ở khắp nơi trên thế giới, nhằm đáp ứng yêu cầu chỉ đạo và phối hợp hành động, điều thiết yếu là các đại sứ phải được giao cả quyền hành và trách nhiệm giống như những CEO,” báo cáo viết. “Họ có trách nhiệm phải chỉ đạo và điều phối nhất quán, tạo thuận lợi cho việc gắn kết hai phía hữu quan để thúc đẩy công việc của tất cả các nhân viên Chính phủ Mỹ ở từng quốc gia.” Nói cách khác, công tác đối ngoại không nên bị dẫn dắt bởi những cơ quan khác.
Là cựu lãnh đạo của Cục Dự trữ Liên bang đầy quyền lực, Geithner không dễ bị thuyết phục. Nhưng Hillary nhận thấy ông ta ở thế rất bất lợi do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, và bà đã tận dụng điều đó trong các cuộc thảo luận. “Bà ấy biết rằng Bộ Tài chính đang phải giải quyết nhiều vấn đề quan trọng hơn, và không sẵn sàng can dự công việc mà đại đa số đều cho là vấn đề nhỏ,” một quan chức Bộ Tài chính giải thích.
Vào thời điểm Geithner và Hillary tranh luận trực tiếp về quan hệ với Trung Quốc hồi tháng Hai, theo một nguồn tin hiểu rõ suy nghĩ của Geithner, cuộc đối thoại của họ không bàn đến việc có cần tiến hành thay đổi hay không, mà là về việc làm thế nào để thu xếp việc chia sẻ quyền lực.
Nguồn tin cho biết thêm, chính Geithner sẽ hỗ trợ nâng tầm Hillary trong các cuộc đàm phán với Trung Quốc. Nhưng cấp dưới của Geithner lại không hài lòng. Các quan chức Bộ Tài chính nghĩ rằng Hillary đang phá hỏng nỗ lực của các Bộ khác. Là người trong bộ máy, họ đã mất nhiều năm xây dựng các cơ chế trong quan hệ với Trung Quốc, thậm chí ngay từ trước thời Tổng thống Bush; và hiện nay những cơ chế đó vẫn đang vận hành. Giờ thì, Bộ Ngoại giao có thể giành lấy một phần những nỗ lực đó. Nhân viên của Geithner than phiền trong nội bộ về điều này, nhưng ông ta chẳng thể làm gì khác. Quan điểm từ Bộ Tài chính là: Obama không quan tâm đến cuộc chiến quyền lực giữa các bộ, còn Hillary đang cố tận dụng lợi thế từ việc tổng thống mong muốn xoa dịu bà.
“Việc đó làm phật ý một vài người ở Bộ Tài chính,” một quan chức cấp cao Bộ Ngoại giao nhớ lại về cách làm của Hillary. “Chúng tôi đang giải quyết các vấn đề với Trung Quốc, và để mọi thứ thông suốt – hay để tập trung đối thoại với Trung Quốc về tài chính và kinh tế – không được xem đấy là những vấn đề có tính chiến lược khi nhìn nhận mọi chuyện. Đó là thay đổi lớn mà Hillary đã thực hiện. Paulson khởi động công việc này và chỉ tập trung vào kinh tế, sau đó bà ấy nhận ra rằng đây không chỉ là vấn đề kinh tế, mà còn phải bao gồm cả vấn đề chính sách đối ngoại. Vì vậy, bà ấy đã chơi trò kéo co – một cách làm có thể sai lầm – dưới dạng một cuộc đối thoại với Bộ Tài chính và Nhà Trắng. Bà ấy nhấn mạnh vào điều đó. Bà ấy sẽ không bị bác bỏ.”
Hillary nói riêng với Obama về việc này. “Tôi đang kết hợp tất cả các cuộc đối thoại này thành một cuộc đối thoại dựa trên một quan niệm mới,” bà nói. “Tôi đã bàn với Tim Geithner. Ông ta đồng ý. Vậy đây là những gì tôi muốn làm.” Obama đã chấp thuận.
Nhà Trắng đã đổi tên các cuộc đàm phán. Đối thoại Kinh tế Chiến lược được đổi thành “Đối thoại Kinh tế Chiến lược,” việc thay đổi tính từ chiến lược vốn dùng mô tả cách đàm phán kinh tế mà Mỹ dùng với Trung Quốc thành danh từ chiến lược giúp đưa chính sách đối ngoại lên ngang bằng, nếu không muốn nói là cao hơn vấn đề kinh tế, và sẽ trở thành chủ đề chính trong các cuộc đối thoại. Các nhân viên Bộ Tài chính gọi đó là một viên thuốc đắng không dễ nuốt, nhưng Geithner và Clinton đang có quan hệ tốt đẹp, và không cần phải gây chiến khi mà tân bộ trưởng Tài chính chắc chắn thua.
Sự thay đổi ấy khiến đội ngũ của Hillary có quyền khoe khoang ở nước ngoài, hay ít nhất là trong nước. Khi máy bay của Bộ Ngoại giao đến Trung Quốc dự Đối thoại Kinh tế Chiến lược lần đầu tiên tổ chức năm 2010, các phụ tá của Hillary đội những chiếc mũ lưỡi trai với một biểu tượng “” màu trắng rất lớn trước mũ. Kurt Campbell, trợ lý ngoại trưởng về khu vực và là chồng của thứ trưởng Bộ Tài chính phụ trách các vấn đề quốc tế Lael Brainard, nhắc nhở về vai trò mới của Bộ Ngoại giao trong quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc. Reines, một người yêu quý Hillary và Campbell, rất thích những trò tinh nghịch, những năm sau đó cũng xuất hiện tại Washington trong chiếc mũ với biểu tượng “”.
Quyết định ưng thuận của Geithner giúp tránh những phản ứng tiêu cực từ phía Bộ Tài chính, nhưng nhiều năm sau đó một số trợ lý vẫn tức giận về sự kiện này. Vụ đánh cắp quyền lực một cách lặng lẽ đã báo hiệu cho những người trong cuộc ở Washington biết rằng Obama đã ủng hộ Hillary. “Đó là một dấu hiệu sớm cho tất cả mọi người trong Chính phủ biết rằng Hillary không phải là một thành viên Chính phủ bình thường, mà rồi sẽ đạt được nhiều thứ trên đường đi của mình; rõ ràng là bạn nên làm quen với điều đó và chơi đẹp, chứ đừng cố phát động một cuộc chiến bởi vì chắc chắn bạn sẽ thua,” một quan chức Bộ Tài chính cho biết. “Có cảm nghĩ rất rõ rằng ‘phải, chúng ta đã dành cho bà ấy chức vụ đó, và chúng ta muốn bà ấy hạnh phúc với công việc.’”
Uy lực ngôi sao của Hillary đã cho phép bà vươn cao trong nghệ thuật thuyết phục. Một sự thật đơn giản là mọi người luôn thích trả lời “vâng” đối với ai đó khiến họ ngưỡng mộ, kính trọng hoặc e sợ – và Hillary tạo ra tất cả những cảm xúc đó. Những bước tiến của bà trong nội các và trong Bộ Ngoại giao đã chứng tỏ một tài năng hiếm thấy trong việc xoay chuyển cán cân quyền lực ở Washington. Đôi khi, như trong trường hợp của Geithner, sự xoay chuyển đó có nghĩa là lấn sân. Trong những trường hợp khác, bà dựa vào tổng thống để kiếm được nhiều tiền hơn, tạo dựng liên minh với những nhà môi giới quyền lực trong Phòng Tình huống Nhà Trắng, và tìm ra những cách thức đầy sáng tạo để hỗ trợ cho các nhóm bị hạn chế hoạt động của Bộ Ngoại giao.
Đa số những người làm việc cùng bà, từ những nhân viên cấp dưới trong Bộ đến tổng thống Mỹ, đều tôn trọng bà. Họ thấy quý bà hơn sau mỗi lần tiếp xúc, ngay cả khi họ phải làm thêm giờ. Bằng cách đó, bà đã chứng tỏ mình là một chính trị gia kiệt xuất, một người có sức mạnh chiến lược, miệt mài đưa ra những quyết định chính trị cùng các chính sách, và những tính toán khéo léo để mình được ngưỡng mộ hơn là bị thù địch. Bà chắc chắn là nhân vật mà các chính trị gia khác đều muốn lôi kéo về phía mình.
“Tôi có thể nói theo một nghĩa nhất định, đây là ‘kỷ nguyên của Hillary,’” một thành viên thân cận của Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates cho biết. “Bạn biết đấy, đầu tiên bạn lo sợ viễn cảnh phải làm việc với bà ấy, miễn cưỡng tôn trọng, nhưng sau đó đã hoàn toàn tôn trọng con người và tác phong làm việc đáng kinh ngạc của bà ấy. Bà ấy dường như không biết mệt mỏi, rất kiên định, và rồi bạn sẽ bắt đầu quý mến bà ấy một cách không thể tin nổi, nhưng bạn đã thật sự quý con người này, duyên dáng, vui tính, hấp dẫn, ham học hỏi, lôi cuốn.”
Cũng như Geithner, tân Giám đốc Ngân sách Peter Orszag không hợp với Hillary. Là một kẻ học gạo, có cuộc sống riêng bừa bãi, Orszag có con với ba người phụ nữ khác nhau và giờ lại kết hôn với Bianna Golodryga, biên tập viên của kênh ABC. Cái tên chính thức tẻ nhạt của cơ quan ông ta – Văn phòng Quản lý và Ngân sách (OMB) – gây một ấn tượng sai lầm về quyền lực của nó trong ngành hành pháp. Orszag nắm giữ chìa khóa mọi tài khoản của tất cả các cơ quan liên bang; thông qua OMB, Nhà Trắng phủ quyết các mối đe đọa và các quy định liên bang. Ông ta từng được xem là một hiện tượng trong chính quyền Clinton khi trở thành một trợ lý kinh tế cấp cao lúc mới hơn 30 tuổi.
Với mái tóc đen ngắn và cặp kính dày, trông Orszag giống Lewis Skolnick, nhân vật chính trong phim Revenger of the Nerds (Sự trả thù của Nerds) sản xuất năm 1984 do Robert Carradine thủ vai. Khi nhân viên OMB tổ chức sự kiện thường niên công bố ngân sách năm 2010, cấp dưới của ông ta đã dành tặng ông ta ca khúc kinh điển của Rick James, trong đó từ “Superfreak” (Siêu quái dị) được đổi tên thành “Supergeek” (Siêu lập dị). Khi ông ta treo khung ảnh của cô bạn gái mới Golodryga ở vị trí nổi bật trong văn phòng, nhân viên OMB đùa nhau rằng ông ta đã mang sự lập dị trở lại. Ít nhất thì một phụ tá cũng nhắc ông ta nên bỏ bức ảnh quyến rũ của Golodryga và thay vào đó một cái gì đó nghiêm túc hơn. Nhưng bức ảnh vẫn ở nguyên đó. Đó là một kẻ dở hơi với cái tôi quá lớn và đầy quyền lực.
Chịu trách nhiệm tổng hợp ngân sách năm đầu tiên của chính quyền Obama từ đầu 2009 đến đầu 2010, Orszag đã có rất nhiều quyền tự chủ trong việc kết nối triết lý và chính sách của tổng thống qua hàng nghìn trang văn bản và tài liệu để đưa ra đề xuất của OMB về ngân sách liên bang hằng năm. Ông ta là thành viên nội các, do đó ngẫu nhiên lại thành bạn của Hillary và những người đứng đầu các cơ quan cấp bộ. Nhưng do ông ta nắm giữ ngân sách, những người bạn đó sẽ phải lụy ông trong vấn đề tiền bạc.
Hillary biết ngay khi bắt đầu công việc rằng mình sẽ phải chiến đấu vì từng đồng đô-la – và bà phải sáng tạo để tối đa hóa những gì mình kiếm được. Xét cho cùng, nước Mỹ đã thật sự vướng vào hai cuộc chiến, nền kinh tế trong nước đã sụp đổ, và Obama phải đối mặt với tình trạng thâm hụt ngân sách nghiêm trọng, do đó những vùng đất khô cằn có thể sẽ bị bỏ rơi trong một thập kỷ hoặc hơn. Ngay cả trong trường hợp có điều kiện thuận lợi về ngân sách, thật khó để thuyết phục công chúng Mỹ về việc tăng viện trợ nước ngoài. Câu hỏi cơ bản mà các thành viên Nghị viện luôn nghe được từ cử tri và nhắc lại điều đó với các quan chức Chính phủ, đó là vì sao Mỹ lại xây dựng trường ở Baghdad trong khi có thể xây nó ở Boston?
Với đa phần các cơ quan, quá trình yêu cầu cấp ngân sách khá đơn giản. Nhân viên các bộ dành hàng tháng hoàn thành một đề xuất ngân sách và gửi đến OMB. Nghị viện có quyền đưa ra quyết định cuối cùng đối với yêu cầu của tổng thống về ngân sách cho tất cả các cơ quan, nhưng yêu cầu cuối cùng là một tuyên bố mạnh mẽ về những ưu tiên của Nhà Trắng. Vào cuối tháng Mười một, OMB sẽ đưa ra đánh giá về từng yêu cầu ban đầu của các bộ, thường là cắt giảm so với đề xuất của cơ quan đó. Khoảng thời gian kháng nghị được phép là giữa Lễ Tạ ơn và Giáng sinh, khi những thay đổi nhỏ vẫn có thể xoa dịu một ngoại trưởng hay các bộ trưởng hoặc quan chức Chính phủ. Nhưng đến cuối năm, tất cả những gì Orszag và các trợ lý của mình phải làm là ghi dấu “chấm” để chấp nhận và dấu “gạch chéo” để bác bỏ. Đầu tháng Hai năm sau, đề xuất ngân sách được trình lên Nghị viện.
Hầu như chẳng bộ trưởng nào nghĩ mình thắng được OMB, chủ yếu là vì bản thân giám đốc ngân sách cũng là quan chức Chính phủ trợ giúp tổng thống, và cũng bởi ông ta có mối quan hệ vững chắc với những cố vấn cấp cao của khu West Wing. Đó là sự thật hiển nhiên về Orszag, ít nhất trong giai đoạn đầu của chính quyền mới. Bộ trưởng Năng lượng Stephen Chu và cả Bộ trưởng Thương mại Gary Locke có tiếng là những nhân vật hay xuất hiện ở dãy hành lang lát đá cẩm thạch của Tòa nhà Văn phòng Điều hành Cũ – chính là cái di tích mà nay là trụ sở OMB và các cơ quan điều hành khác của Nhà Trắng – họ hầu như không lãng phí nhiều thời gian vận động Orszag.
Nhưng Hillary Clinton có nhiều vũ khí dự trữ hơn những bộ trưởng khác của Obama, như Orszag đã hiểu ra. Cuối tháng Mười một, đầu tháng Mười hai năm 2009, khi OMB gửi bản phúc đáp về ngân sách của Bộ Ngoại giao đến Foggy Bottom, dòng cuối cùng là một đoạn nhỏ về kinh phí, theo một người hiểu biết về các số liệu ở Bộ Ngoại giao cho biết. Thứ trưởng Ngoại giao Jack Lew, cựu giám đốc ngân sách thời Clinton, nói với Orszag rằng con số đó không thể chấp nhận.
“Chỉ có cựu giám đốc ngân sách mới có thể giải quyết việc này,” một người trong Bộ Ngoại giao ngưỡng mộ sự can đảm của Lew cho biết. Orszag về lý thuyết có chức vụ cao hơn Lew, nhưng kinh nghiệm và uy tín của Lew cao hơn đa số các thành viên Chính phủ. Hillary tuyển dụng ông ta vì điều đó.
Orszag và nhân viên của ông ta đã có chút nhượng bộ và đáp lại bằng một bản dự toán mới có thể làm hài lòng đa số các quan chức, trong đó ngân sách dành cho Bộ của Hillary lẽ ra phải cắt giảm nhưng lại được tăng hơn 1% chút xíu. Nhưng theo cách nhìn của Hillary, Orszag vẫn chưa nhận được thông điệp của bà. Đã đến lúc phải vượt qua đầu ông ta. Lew đi thẳng tới Rahm Emanuel, một trong rất nhiều phụ tá mới của Obama, người nhận được sự nhượng bộ chính trị lớn từ gia đình Clinton. Chúng tôi không thể hoạt động với chỉ từng đó kinh phí, Lew nói với Emanuel.
Một lần nữa, Orszag hồi đáp bằng con số khác – một con số mà Hillary vẫn thấy quá nhỏ. “Chúng tôi sẽ đề cập việc này với tổng thống,” Lew cam đoan với bà.
Yêu cầu ngân sách cho hoạt động an ninh của Chính phủ, bao gồm kinh phí của Bộ Ngoại giao, cuối cùng được quyết định tại cuộc họp Hội đồng An ninh quốc gia (NSC: National Security Council), nơi Orszag sẽ phải tranh luận bác việc tăng kinh phí cho Bộ Ngoại giao tại một căn phòng đầy những người thường xuyên làm việc cùng và đều có lý do đứng về phía Hillary. Trong lúc đề xuất ngân sách cho các cơ quan hàng đầu còn đang được thảo luận, khi những thành viên của NSC gồm lãnh đạo các cơ quan an ninh vẫn đang thảo luận về chiến lược ở Afghanistan và Pakistan, thì Bộ Quốc phòng đã ủng hộ việc tăng kinh phí cho Bộ Ngoại giao. Gates vận động hành lang các “chiến hữu” tại Capitol Hill để tăng ngân sách cho Bộ của Hillary, và ông cũng thay mặt bà đấu tranh trong Chính phủ. Ông từng một lần nêu quan điểm với một phụ tá rằng OMB vẫn không thay đổi từ chính quyền này đến chính quyền khác: nó giống như một Hội Trái Đất phẳng vậy.
Được mời dự cuộc họp của NSC, nhưng Orszag không có bất cứ cơ hội nào để đánh bại Hillary tại đấu trường đó. “Đúng thế, chúng tôi đã chuẩn bị một bản yêu cầu ngân sách nhưng OMB cứ mãi từ chối. Vì thế, bà ấy đã làm việc trực tiếp với tổng thống,” một quan chức cấp cao Bộ Ngoại giao nói. “Và rồi, bà ấy đã đạt được những gì mình muốn.”
Trong năm tài khóa dồi dào đầu tiên của Hillary, bà yêu cầu ngân sách Nhà Trắng dành cho Bộ Ngoại giao và các chương trình viện trợ tăng 10,6% lên thành 56,6 tỉ đô-la. Hillary cũng giành được khoản dự phòng mà ban đầu bị OMB từ chối, đủ để cấp kinh phí cho các đại sứ quán và lãnh sự quán tại vùng chiến sự như Afghanistan, Pakistan và Iraq, thông qua tài khoản chi tiêu chiến tranh. Nghị viện có vẻ không muốn cản trở đề xuất kinh phí của tân tổng thống dành cho hai cuộc chiến tranh mà người tiền nhiệm của ông phát động, dù có yêu cầu giảm bớt đòi hỏi của Bộ Ngoại giao theo ý kiến của Đảng Cộng hòa kiểm soát Hạ viện. Nhưng tân ngoại trưởng thì cho rằng cấu trúc ngân sách dành cho bộ của bà thể hiện uy lực của bà trong chính quyền mới và nó phản ánh quy mô chương trình nghị sự mà cơ quan của bà sẽ phải thực hiện.
Hillary cũng thừa hiểu rằng, việc thông qua một khoản ngân sách trên 50 tỉ đô-la cho Bộ Ngoại giao và các chương trình viện trợ quốc tế không hẳn là đã trao cho bà chìa khóa để mở cửa kho bạc liên bang. Quan trọng hơn, điều đó không biến bà thành bộ trưởng quốc phòng, người đã có được gần 700 tỉ đô-la để tùy ý sử dụng. Bà muốn là người hành động, chứ không chỉ là người ký séc cho các hoạt động ở các quốc gia xa xôi. Việc này đặt ra yêu cầu hình thành quan hệ đối tác chiến lược với các cơ quan khác của Chính phủ và khu vực tư nhân nhằm nâng cao nguồn lực cho Bộ Ngoại giao.
Những đòn bẩy quyền lực của Hillary cùng khả năng tạo ảnh hưởng và chiếm lĩnh các nguồn lực, đã hỗ trợ bà tối đa trong việc giành được các nguồn tài chính cho Bộ Ngoại giao. Hillary sử dụng quyền lực không chính thức của mình, trong vai trò một người có thế lực trong nội các Obama, để khẳng định bản thân và vị thế cơ quan của mình; bà vận động đồng nghiệp xung quanh một cách thẳng thắn và hợp tác với họ để có được những gì mình muốn.
Theo thứ tự quyền lực không chính thức ở nội các thì bộ trưởng quốc phòng đứng đầu, vì ông ta kiểm soát một khoản ngân sách hằng năm trị giá tương đương ngân sách tất cả các cơ quan khác cộng lại, chỉ huy các lực lượng vũ trang của nước Mỹ và đại diện một bộ máy khổng lồ liên hợp với nhau từ rất lâu. Nhưng lần này người đó là ngoại trưởng, do tầm quan trọng của Bộ Ngoại giao, và vì là người ngồi gần tổng thống nhất, bà có cơ hội là người đầu tiên trình bày ý kiến với tổng thống tại các cuộc họp.
Khác với Bộ trưởng Quốc phòng Bob Gates, người đã phục vụ tám đời tổng thống, Hillary không phải là cố vấn tổng thống giàu kinh nghiệm nhất trong Hội đồng An ninh Quốc gia, nhưng bà lại có 8 năm làm cố vấn không chính thức cho chồng. Chỗ của Hillary hoặc ngay sát phía bên trái tổng thống, hoặc cách một người nào đó, tùy theo danh sách người tham dự, điều này khẳng định vị thế nổi bật của bà. Gates ngồi đối diện bà, và hai người tạo thành một cặp ấn tượng trong bộ máy an ninh quốc gia.
Ngay cả Tom Donilon, một nhà hoạt động đảng lâu năm, từng là cố vấn an ninh quốc gia của phó tổng thống và sau đó là cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống, đã không giấu nổi sự mất tự tin khi có mặt bà. Donilon từng đứng chân trong chân ngoài với cả hai phe, từng giữ các vị trí tại Bộ Ngoại giao dưới chính quyền Clinton, từng giúp Obama chuẩn bị tranh luận với đối thủ John McCain, và từng làm đồng trưởng nhóm của nhóm đảm nhiệm chuyển giao Bộ Ngoại giao dưới thời Obama. Cùng với đồng nghiệp kỳ cựu Rahm Emanuel trong chính quyền Clinton, Donilon là một đồng minh quan trọng của Hillary, nhất là trong giai đoạn đầu điều hành Bộ Ngoại giao, khi mối liên hệ của bà với những thành viên nòng cốt của Obama hãy còn rất hạn chế.
Donilon cũng từng có chút xao xuyến trước Hillary như ông thú nhận với bà và vài người bạn thân khác. Tuy họ là bạn bè, nhưng những lời đe dọa của bà đã vượt quá sức chịu đựng của ông - một cậu học trò đang yêu. Donilon mô tả cách mà Hillary gọi ông vào một buổi sáng thứ Bảy, lúc 7 giờ sáng, và rà soát hàng chục chủ đề khác nhau theo kiểu sai bảo. “Tom Donilon rất sợ bà ấy,” một quan chức làm việc trong Hội đồng An ninh Quốc gia cho biết. “Khi mọi người tranh luận về một vấn đề nào đó, thường ông ta là người luôn châm chọc, nhưng trước Hillary thì lại không dám làm thế, ông ta sợ bà ấy chết khiếp.”
Donilon và Jim Jones, cố vấn an ninh quốc gia hàng đầu của Obama, chủ trì các cuộc họp tại Phòng Tình huống, từ cùng phía đầu bàn mà Gates và Hillary ngồi. Từ đầu bàn họp ấy, quyền thế giảm nhanh từ chỗ ngồi này xuống chỗ ngồi khác. “Các cố vấn an ninh quốc gia đều có mặt. Hillary ở đó. Gates ở đó. Tiếp đó là tất cả những kẻ ngốc nghếch còn lại,” một trợ lý từng nhiều lần có mặt ở đó kể lại. “Những người khác thì giống như không có mặt ở đó.”
Tùy vào tổng thống và những cử tọa trong phòng, bà ngoại trưởng có thể đôi khi đóng vai chính, đôi khi lại trầm ngâm lắng nghe. Khoản ngân sách dành cho bà tuy nhỏ, nhưng bà có tiếng nói trong hội đồng chiến tranh của tổng thống. Giọng của bà có khi lên cao nếu bà khởi xướng một cuộc tranh luận sôi nổi và nếu có đồng minh trong phòng họp.
Nhưng, giọng bà có thể nhanh chóng hạ xuống, vì sự đông lên nhanh chóng của Ban Cố vấn An ninh Quốc gia (NSS: National Security Staff,) vốn hay bị nhầm là Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC) – sự nhầm lẫn này cho thấy quyền lực mà lực lượng cố vấn này có được qua nhiều năm. Xét từ góc độ kỹ thuật, những cố vấn an ninh quốc gia và nhân viên của họ có mặt tại cuộc họp là để đảm bảo việc phối hợp chính sách giữa các cơ quan và đề xuất với tổng thống các lựa chọn cho những quyết định quan trọng. Trên thực tế, họ thường hướng dẫn thực hiện quy trình và đôi khi tự biến mình thành các nhà hoạch định chính sách. “Những thành viên Ban Cố vấn An ninh Quốc gia có nhiều quyền hạn trong việc thu thập thông tin cho tổng thống” – cựu Ngoại trưởng Madeleine Albright, người từng làm việc trong Ban Cố vấn An ninh Quốc gia dưới thời chính quyền Carter cho biết.
Albright cũng chỉ cho Hillary cách làm thế nào để điều khiển quy trình của NSC. “Nếu nhìn nhận từ góc độ Bộ Ngoại giao, cần chắc chắn rằng ý kiến của bà được lắng nghe.” Điều đó đòi hỏi phải “tìm kiếm đồng minh, và bảo đảm rằng tổng thống hiểu rõ quan điểm của bà,” bởi các cố vấn an ninh quốc gia là người tuyên bố “Đây là quan điểm của Bộ Ngoại giao, đây là quan điểm của Bộ Quốc phòng, đây là quan điểm của Bộ Tài chính, và đây là những gì tôi nghĩ” – Albright nói. “Tôi nói với bà ấy rằng việc duy trì một quan hệ tốt đẹp với bộ trưởng quốc phòng là rất quan trọng.”
Thực tế thì Gates đúng là người chơi duy nhất trong Hội đồng An ninh quốc gia của Tổng thống Obama, và dày dạn hơn Hillary trong trò chơi quyền lực tại Washington. Hillary theo đuổi một chiến lược đa dạng trong cư xử với ông ta, gây dựng một liên minh để không một ai trong số họ có thể bị Ban Cố vấn An ninh Quốc gia gây khó dễ. Giống Hillary, Gates là một đảng viên Cộng hòa năng động vào một thời xã hội phóng khoáng và đầy biến động giữa thập niên 1960. Hillary lúc ấy được xem như một tiểu thư “cành vàng lá ngọc” tại trường trung học, còn ông là sinh viên Cao đẳng William và là thành viên Hội những đảng viên Cộng hòa trẻ của Maryland. Là một sĩ quan tình báo nhà nghề, Gates lần đầu đặt chân đến Nhà Trắng với tư cách là thành viên Hội đồng An ninh Quốc gia vào năm 1974, ông đã đi qua hết những con đường thăng tiến đến các cấp bậc cao của cộng đồng tình báo quốc gia tới cương vị Giám đốc CIA dưới thời Tổng thống George H. W. Bush. Tổng thống George W. Bush bổ nhiệm ông ta trở lại Chính phủ để thay thế Donald Rumsfeld làm bộ trưởng quốc phòng, và Tổng thống Obama tiếp tục yêu cầu ông ở lại. Hillary và Gates là hai người trong nhóm an ninh quốc gia của Obama không cần dùng đến bản đồ để đi lại trong khu West Wing. Không như Hillary từng bị tách ra khỏi quá trình đảm bảo an ninh quốc gia khi còn là đệ nhất phu nhân, Gates có rất nhiều kinh nghiệm trong Phòng Tình huống. “Lần tới, khi bà làm việc với Gates trong Phòng Tình huống, hãy thử nghĩ xem, ‘ông ta đã ngồi ở bao nhiêu chiếc ghế?’” một cố vấn của Hillary nhắc lại những lời của Albright. “Ông ta biết người khác định nói gì.”
Với những nền tảng chung giữa họ như tuổi tác (Gates hơn Hillary bốn tuổi), và các vị thế của họ như là những bậc lão luyện khôn ngoan trong Hội đồng An ninh Quốc gia của Obama, Hillary và Gates dễ dàng xây dựng một tình bạn vững chắc. Họ trở nên thân thiết nhanh đến mức ở Washington người ta cứ nghĩ rằng họ vốn là bạn từ khi bà còn đứng trong Ủy ban Quốc phòng của Thượng viện hoặc từ thời Tổng thống Clinton. Một vài thành viên cấp cao của Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng còn thêu dệt về tình bạn giữa hai người qua tình huống sau: Hillary đã kết bạn với một số những tướng lĩnh cấp cao – những viên tướng và đô đốc ba, bốn sao, và Gates đã ngầm để ý. Danh tiếng là một nhà chiến lược đáng gờm về các vấn đề quân sự của bà đã có từ trước. Lầu Năm góc rất tôn trọng vị đảng viên Đảng Dân chủ này, người mà trước sự ngạc nhiên của họ không chỉ nhiệt thành ủng hộ một lực lượng quân đội hùng mạnh mà còn miệt mài nghiên cứu chi tiết, cẩn thận các kế hoạch, chương trình và cách để đảm bảo nguồn kinh phí. Đây không chỉ là vấn đề khẳng định vị thế chính trị. Bà tin tưởng mọi hình thái quyền lực của nước Mỹ, kể cả sức mạnh quân sự, mặc dù quan điểm đó khiến bà bị chỉ trích trong cuộc tranh cử sơ bộ trong Đảng Dân chủ năm 2008, khi Obama tiếp thêm sức mạnh cho những quan điểm chống chiến tranh qua việc phản bác đối thủ của ông ta về cuộc chiến Iraq trong khi Hillary lại ủng hộ.
Sự thật là Gates và Hillary ít khi gặp nhau trước khi Obama giới thiệu họ là thành viên nhóm an ninh quốc gia của ông vào đầu tháng Mười hai năm 2008. Hơn 15 năm trước, họ từng bắt tay nhau trong văn phòng của Giám đốc CIA Jim Woolsey tại một buổi tưởng niệm các sĩ quan thiệt mạng trong cuộc tấn công vào trụ sở CIA ở ngoại ô Langley, Virginia. Họ không có cuộc gặp trò chuyện nào sau đó, và Gates không gặp trực tiếp Hillary lần nào khác cho đến cuộc họp báo tại Chicago.
Trong quá trình chuyển giao, họ đều nhận ra thiên hướng chính trị tương đồng của người kia. Gates, một đảng viên Đảng Cộng hòa ôn hòa và Hillary, đảng viên Đảng Dân chủ diều hâu, cả hai đều đánh giá cao việc sử dụng tất cả các công cụ trong việc thực hiện chính sách đối ngoại Mỹ. Dù cho đó là một bức thư, hay một quả tên lửa. Trong bài phát biểu tại Đại học bang Kansas vào tháng Mười một năm 2007, Gates đã chấp thuận phương pháp sử dụng quyền lực thông minh vốn được những người thuộc phe Clinton trong bộ máy an ninh quốc gia của Đảng Dân chủ ưa chuộng.
Còn có một nhu cầu chiến lược khiến họ phải liên minh với nhau. Hillary cần bộ trưởng Quốc phòng để đảm bảo rằng tiếng nói của Bộ Ngoại giao về những vấn đề chiến tranh, đối ngoại và phát triển sẽ được lắng nghe, cũng như để các yêu cầu ngân sách và chính sách của bà được đáp ứng. Nhiệm vụ của Bộ Ngoại giao là chỉ đạo công tác ngoại giao và thực thi chính sách đối ngoại của tổng thống. Nói một cách lý tưởng, dấu ấn quốc tế của nước Mỹ phải giống đôi cánh hòa bình, chứ không phải là gót sắt chiến tranh. Dưới thời Tổng thống Bush, Lầu Năm góc đã đảm nhiệm xử lý những điểm nóng trên thế giới thay Bộ Ngoại giao, đặc biệt là Iraq và Afghanistan. Cả Gates và Hillary cho rằng Lầu Năm góc đã lạm quyền cung cấp viện trợ dân sự, vừa chiếm đoạt vai trò ngoại giao vừa khiến quân đội xao lãng sứ mệnh quốc phòng cốt lõi của nó.
Khi Gates lâm vào tình huống lạc lõng một mình giữa căn phòng đầy đảng viên Dân chủ, vị đảng viên Cộng hòa này được Hillary đứng cùng phe và trợ lực cho ông. “Bà ấy là người có ảnh hưởng lớn trong chính quyền,” một người phe Gates giải thích lý do Hillary “có giá trị” với Lầu Năm góc. “Bà ấy có nguồn lực chính trị to lớn.” Hơn nữa, hai người quý mến nhau, nhưng họ cư xử như những người không quen biết tại các cuộc họp an ninh quốc gia của Obama, nơi có mặt rất nhiều người đã giúp tổng thống giành chiến thắng trong cuộc bầu cử với lời hứa sẽ xoay chuyển tình thế. Để tồn tại và phát triển, họ cần phối hợp thành một khối thống nhất càng bền chặt càng tốt. “Tôi nghĩ đó là một chiến lược. Khi bộ trưởng quốc phòng và bộ trưởng ngoại giao liên kết hoặc cùng nhau bước vào Phòng Bầu dục vì một vấn đề nào đó, họ sẽ có vị thế mạnh mẽ hơn nhiều,” một nhân vật cấp cao Lầu Năm góc cho biết. “Họ thường so sánh các nhận xét hoặc chủ động tổ chức một số các cuộc họp để đưa ra một nền tảng chung cho phép họ có thể gây ảnh hưởng hoặc điều hướng chính sách về một chủ đề nhất định.”
Một hoặc hai lần mỗi tháng, Gates và Hillary dùng bữa trưa cùng nhau, lần lượt tại văn phòng của bà ở Bộ Ngoại giao và tại văn phòng của ông tại Lầu Năm góc. Họ cũng có những bữa buffet hằng tuần với cố vấn an ninh quốc gia ở khu West Wing. Điều quan trọng nhất là họ đều duy trì một kênh phi chính thức để đối chiếu những nhận xét. “Sẽ là bất thường nếu họ phải gọi trước cho nhau hoặc lôi kéo người kia trước hoặc sau một cuộc họp mà họ sẽ cùng tham dự. Họ thường vào dự họp cùng lúc,” một nguồn tin tại Lầu Năm góc cho biết. “Trong trường hợp họ không nhất trí, cần phải biết sớm hoặc cảnh báo họ đâu là điểm bất đồng.” Những bất đồng lớn chỉ đến sau này, khi Obama muốn tấn công tiêu diệt Osama bin Laden và khi ông ta cân nhắc có nên can thiệp cuộc nội chiến ở Libya hay không. Nhưng trong hai năm đầu nhiệm kỳ Obama, Hillary và Gates ở cùng phe trong Phòng Tình huống. “Bà ấy và Gates là một cặp xe đạp đôi đầy quyền lực,” theo lời một cựu quan chức cấp cao của Chính phủ.
Vào tháng Mười năm 2009, cặp đôi đặc biệt này cố gắng làm nổi bật vai trò cặp đôi kỳ lạ của họ khi cùng nhau xuất hiện trên sân khấu trong một loạt các cuộc đối thoại và phỏng vấn chung hiếm thấy tại Đại học George Washington. Trong cuộc trò chuyện với Christiane Amanpour của đài CNN và Frank Sesno của đài GWU, hai vị bộ trưởng đều bày tỏ lòng ngưỡng mộ lẫn nhau và nêu bật sự tương phản trong mối quan hệ giữa họ và quan hệ của những người tiền nhiệm.
Rõ ràng họ không chỉ tỏ ra lịch sự và đúng đắn về mặt chính trị. Họ đã tạo dựng một mối quan hệ tốt và mối liên kết bền chặt, đến nỗi khi họ thoát khỏi cuộc phỏng vấn kéo dài một giờ hôm đó, họ đã đi ăn tối tại nhà hàng Blue Duck Tavern đắt tiền ở Washington, gần Georgetown. “Đó là một ví dụ phản ánh quan hệ kề vai sát cánh,” một người quen biết họ nói. “Họ muốn cùng ăn tối.”
Khi trở lại Lầu Năm góc ngày hôm sau, Gates nói với phụ tá của mình rằng ông đã rất “vui” – một từ mà ông rất ít dùng – trên diễn đàn của CNN. Một phần có thể vì ông tỏ ra thoải mái hơn một chút, dí dỏm hơn so với đối tác nổi tiếng của mình. Nhưng những người ở cả hai phía đều nói rằng, tình cảm chân thành họ dành cho nhau đã củng cố một liên minh chiến lược hùng mạnh, và gửi đi một thông điệp tới những nhân viên cấp dưới của họ trong Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng rằng, các lãnh đạo mong đợi họ cũng phối hợp tốt với nhau. “Ông ấy luôn biết rằng họ có mối quan hệ đặc biệt tốt đẹp,” một quan chức cấp cao Bộ Quốc phòng nói.
Hillary đã có được sự tôn trọng của Gates và một số quan chức từ thời Bush còn tại vị ở Lầu Năm góc. Một số cố vấn của Obama thán phục Hillary nhưng vẫn cảm nhận dư âm của chiến dịch tranh cử, họ trải qua trạng thái tình cảm tương tự, đầu tiên là tôn trọng và sau đó là thiện cảm dành cho Hillary. Một thời gian ngắn sau khi bà bị gãy tay hồi hè năm 2009, Tommy Vietor, một trong những trợ lý truyền thông trẻ tuổi, nhiệt huyết và trung thành của Obama trong chiến dịch tranh cử, đã va phải Hillary khi đi ở hành lang tại Nhà Trắng. Vietor, trước đó từng bị trật khớp vai, nhìn thấy trên dây đeo tay của Hillary có biểu tượng của Bộ Ngoại giao.
“Ồ, cậu cũng đeo dây đỡ tay,” Hillary nói, đằng sau là Huma. “Cậu bị sao vậy?”
“Tôi bị chấn thương khi chơi bóng rổ,” Vietor trả lời, trong lòng vẫn e ngại Hillary sau khi đã công kích chính sách ngoại giao của bà trong chiến dịch tranh cử. “Dây đỡ tay của bà trông đẹp hơn của tôi rất nhiều.”
Hai ngày sau, đang ngồi trong phòng họp tại Nhà Trắng, Vietor nhận được một chiếc hộp màu trắng gửi từ Bộ Ngoại giao. Bên trong là một chiếc dây đỡ tay với biểu tượng Bộ Ngoại giao. Một cử chỉ đã xóa tan mọi dấu vết thù địch còn sót từ những ngày tranh cử.
Nhưng vẫn có một số người ngờ vực Hillary rất lâu, như Plouffe và Gibbs, và họ vẫn không bao giờ thật sự có thiện cảm với bà. Với họ, bà đã không tỏ ra đáng tin vì đã đứng cùng hàng với Gate hoặc hậu thuẫn cho Richard Holbrooke, người mà Tổng thống vốn không ưa.
Hillary khéo léo xây dựng quyền lực bằng cách làm việc và đôi khi vun xới cho những người có ảnh hưởng lớn khác ở Washington, lòng nghĩa hiệp hào phóng của bà dành cho Holbrooke là ví dụ điển hình về niềm tin của bà với người của mình và sự khôn ngoan của họ, niềm tin đó được ưu tiên hơn các mối quan tâm khác, dù mọi chuyện có thể tốt hơn hay tệ đi.
Holbrooke là một nhà cải cách, một nhà hoạt động kiên trì, luôn làm thất bại ý đồ của Nhà Trắng muốn kiểm soát mọi điều nhưng không điều gì có thể qua mặt ông. Về phần mình, ông bị ám ảnh với việc phải tiếp cận những thành viên cấp cao của Obama, và thường lớn tiếng phàn nàn việc nhóm an ninh quốc gia của tổng thống cố cô lập ông. Ông thử mọi cách để có thể xích lại gần họ, thậm chí lang thang ở khách sạn Hay-Adams vì biết nhân viên Nhà Trắng là khách quen của quán bar ở đó.
Đặc biệt, ông đã tìm ra David Axelrod, cố vấn cấp cao của tổng thống. Trong cuốn sách This Town (Thành phố này), tác giả Mark Leibovich kể câu chuyện về Holbrooke đứng cạnh trợ lý trẻ tuổi Axelrod bên bồn vệ sinh của Nhà Trắng cố gắng đặt lịch hẹn.
“Ông ấy muốn tiếp cận để nói về những gì ông ấy quan tâm,” một nhân viên khu West Wing cho biết. “Ông ấy cố gắng làm Nhà Trắng quý mến mình, và ông ấy biết David là một phần trong đó.”
Axelrod là một trong những người mà Holbrooke từng tiếp cận tại Nhà Trắng, và đã làm việc với Axelrod rất vất vả.
“Ông ấy rất thành công trong việc tâng bốc cái tôi của mọi người,” vị trợ lý đó nói.
Dù chắc chắn Axelrod là một lối đi để tiếp cận Obama, vẫn có một lý do khiến Holbrooke dày dạn phải lo ngại: ông cho rằng, trở ngại chính cho kế hoạch tăng quân ở Afghanistan để buộc Taliban ngồi vào bàn đàm phán là nỗi lo sợ của nhóm Obama, khi cho rằng khả năng sa lầy tại chiến trường có thể phá hỏng hy vọng tái đắc cử của Obama trong năm 2012. Nếu Holbrooke có thể chứng minh cho Axelrod thấy rằng, một thỏa thuận hòa bình là tốt hơn so với việc rút quân Mỹ khỏi nơi đó, thì có lẽ ông ấy có thể thay đổi suy nghĩ của tổng thống.
Cuộc chiến lớn nhất trong Hội đồng An ninh Quốc gia của Tổng thống Obama trong nhiệm kỳ đầu tiên là về vấn đề “tăng quân” ở Afghanistan, kéo dài đến tháng Mười hai năm 2009 mới được giải quyết. Tổng thống ban đầu cam kết gửi thêm 21 nghìn quân vào đầu năm, một lực lượng có thể cầm chân các chiến binh Taliban cho đến khi một lực lượng lớn hơn khoảng 40 nghìn quân sẽ được gửi đến vào cuối năm. Cuộc tranh luận về số quân và chiến lược tổng thể của Mỹ ồn ào và gay gắt đến mức Bob Woodward đã viết cả một cuốn sách, Obama’s Wars (Những cuộc chiến của Obama).
Liên minh Gates-Clinton là một mối đe dọa đối với quyền lực trong tay các phụ tá Nhà Trắng của Obama trong những năm đầu cầm quyền. Những diễn biến tại chiến trường, cùng sức ép từ Tổng tham mưu trưởng David Petraeus cũng như các nhà lãnh đạo quân sự khác, đang dồn tổng thống vào thế phải gửi quân đến Afghanistan, điều ông không mong muốn. Thật khó để các trợ lý tổng thống đánh bại hai bộ trưởng hàng đầu nếu họ liên kết với nhau. Tuy nhiên, nếu họ chia rẽ thì mỗi người có thể bị tác động từ xung quanh. Trong trường hợp này, Hillary không có sự khác biệt với Gates. “Mục tiêu cốt lõi là để đảm bảo Afghanistan không trở thành sào huyệt của Al Qaeda hoặc các nhóm cực đoan xuyên quốc gia; cuộc tấn công 11 tháng Chín đã từng được lên kế hoạch và những cuộc huấn luyện khủng bố cũng đã diễn ra ở đó,” một cựu quan chức cấp cao trong Chính phủ cho biết. Hillary “nhận ra rằng cách duy nhất để đạt được mục tiêu là tạo điều kiện cho người Afghanistan tự bảo đảm an ninh, tự quản một cách đầy đủ, như một cụm từ then chốt. Cách duy nhất để làm điều đó là thông qua một chiến dịch quân-dân sự toàn diện chấm dứt những nỗ lực mà Taliban đang thúc đẩy.”
Những người ủng hộ cặp đôi quyền lực trong Chính phủ Obama nói rằng, hai vị bộ trưởng này đang ngăn chặn không để chính sách đối ngoại của Mỹ thụt lùi. Obama chỉ mới vừa đi qua cuộc bầu cử, trong đó ông đã hứa chấm dứt hai cuộc chiến tranh và thiết lập quan hệ ngoại giao trực tiếp với Iran và Cuba; người ta đã lo sợ về sự hình thành chính sách đối ngoại ôn hòa của Washington, từ đó Obama có thể theo đuổi những mục tiêu gây thiệt hại cho lợi ích của Mỹ.
Nhóm của tổng thống thực tế có thể tìm cách thu nhỏ tầm ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực. Phó Tổng thống Joe Biden muốn giảm bớt chứ không phải làm sâu sắc thêm cam kết của Mỹ ở Afghanistan, và Chánh văn phòng Rahm Emanuel, Axelrod cùng các cố vấn khác, những người đã tham gia chiến dịch tranh cử của Obama, cũng vậy. Họ không tin tưởng vào đội hình được thành lập bởi các nhà lãnh đạo của Lầu Năm góc và Hillary, mặc dù đó là các lãnh đạo quân sự, chứ không phải Hillary, mà họ bị đổ lỗi đã thường xuyên tiết lộ thông tin, đưa những thông tin vô bổ ra trước công luận và đề xuất các lựa chọn thay thế vô lý trước tổng thống để đòi tăng quân. Tuy nhiên, liên minh của Hillary với Lầu Năm góc đã không giúp bà chiếm ưu thế trước một số nhân vật từng tham gia chiến dịch vận động tranh cử của Obama.
Trong cuộc họp tại Phòng Tình huống về Afghanistan hồi tháng Mười năm 2009, Hillary đã nói chuyện với tổng thống về “tình thế tiến thoái lưỡng nan ông phải đối mặt,” một câu nói gây chú ý với thư ký báo chí Robert Gibbs, thành viên đáng tin cậy của Obama từ ngày ông còn ở Thượng viện. Trong bản ghi chép của mình, Gibbs ghi lại việc bà sử dụng từ ông – chứ không phải là chúng ta. Holbrooke về sau mô tả nó là “bản năng kiểu Freud” của Clinton với cảm giác bị tách ra theo lời Woodward. Holbrooke, người cách xa với tổng thống và các cố vấn của ông ta, có thừa lý do để miêu tả một cách sinh động là Hillary bị tách khỏi quy trình ấy. Một trong những phụ tá của Hillary, người thừa nhận rằng chữ nghĩa của Clinton đáng ra phải khéo léo hơn, cho rằng phản ứng của Gibbs chỉ là một kiểu “tầm chương trích cú.”
Cuối cùng, Hillary và những người ủng hộ quyết định của Obama đi tới một kế hoạch kép, vừa cho Lầu Năm Góc thêm 33 nghìn quân nhưng đồng thời cũng công bố một hạn chót để rút quân là sau một năm rưỡi. Khi chiến lược được công bố tại Học viện Quốc phòng West Point vào đầu tháng Mười hai, chính sách về Afghanistan bước sang trang mới. Việc đó cũng giúp mối quan hệ giữa Hillary và các trợ lý Nhà Trắng dịu lại.
Với một số quan chức có vị trí trong cả hai phe, cái suy nghĩ rằng có một âm mưu của các nhà lãnh đạo hàng đầu tại Lầu Năm góc và Bộ Ngoại giao nhằm thao túng tổng thống thật nực cười. “Đang có một cuộc tranh luận thoải mái, cởi mở và mạnh mẽ,” Jim Steinberg nói. “Đây là một vị tổng thống không bao giờ làm bất cứ điều gì mà mình không muốn làm.” Việc xét lại chiến lược của Mỹ tạo cho Hillary một cơ hội để nâng tầm Bộ Ngoại giao bằng cách biến chiến tranh thành hòa bình. Hillary, người có cảm nhận của riêng mình với các cử tri cũng như mong muốn tìm một giải pháp cho vấn đề gây nhiều tranh cãi tại Afghanistan, đã ấp ủ ý tưởng rằng tăng quân có thể gây áp lực lên Taliban để buộc họ ngồi vào bàn đàm phán nhằm kết thúc chiến tranh.
“Sự khác biệt giữa bà ấy và tổng thống về vấn đề Afghanistan đó là bà ấy sẵn sàng để tạo ra một sự đột biến trong ngoại giao,” một thành viên cao cấp của nhóm Holbrooke cho biết. “Tôi không nghĩ rằng tổng thống quá khắt khe trong việc lựa chọn chính sách đối ngoại ở Afghanistan.”
Hillary đã tạo điều kiện để Holbrooke xem xét những điểm chủ chốt cho một thỏa ước, nhưng bà cũng nhìn nhận rõ ràng các trở ngại. “Bà ấy rất tỉnh táo về triển vọng thành công, với cả hai khả năng, dù khi Taliban khăng khăng khước từ đàm phán, hay khi những nhà lãnh đạo địa phương vốn đều có quyền lợi riêng của mình đứng sau một kết quả ngoại giao minh bạch,” một cố vấn chính của bà nói. “Dù rất điềm đạm, nhưng bà ấy kiên cường đấu tranh một cách mạnh mẽ vì một tiến trình ngoại giao phải được đưa ra và thực thi; bà ấy thấy cứ như thời gian bị mất đi, chúng ta đang đánh mất dần lực đòn bẩy và cơ hội, cơ hội lớn nhất để giành thắng lợi.”
Đúc từ khuôn của các nhà điều hành Washington hiểu biết, Hillary có lẽ rất giỏi trong việc giữ sự thôi thúc của riêng mình. Đó là lý do mặc dù lúc ấy có những bất đồng về việc bà thật sự tin tưởng đến mức nào việc Holbrooke, hoặc bất kỳ ai khác, có thể thúc đẩy tiến đến thỏa thuận hòa bình giữa Mỹ, Taliban, Chính phủ của Tổng thống Karzai ở Afghanistan, Pakistan, và các bên liên quan trong khu vực. Nhưng bà vẫn tìm cách hỗ trợ Holbrooke mỗi khi ông ta rơi vào hố sâu ở Nhà Trắng.
Trong khi tất cả mọi người trong Chính phủ có vẻ đều ủng hộ các thỏa thuận hòa bình mà Holbrooke tìm kiếm trong khu vực, ít người nghĩ đó là một khả năng thực tế. Sự khác biệt về lợi ích giữa Chính phủ Pakistan, Chính phủ Karzai, và các phần tử nổi dậy đã quá lớn để xóa bỏ. Việc đàm phán hầu như là bất khả, do đó không gian hoạt động duy nhất còn lại cho Hillary và Holbrooke là điều phối các nỗ lực dân sự của Mỹ để giúp Afghanistan phát triển các nền tảng xã hội, và bà phải nhắm đến thương lượng với các đồng minh nhằm kiếm thêm kinh phí, quân đội và vũ trang. “Công việc của Bộ Ngoại giao không phải là đàm phán hòa bình,” Vali Nasr, người đã làm việc cho Holbrooke nói. “Mà là thúc đẩy cuộc chiến.”
Holbrooke tiếp tục nêu lên sự tương đồng giữa Afghanistan và Việt Nam, và ông đã không ngần ngại nói với báo chí điều đó, khiến Nhà Trắng tức điên. Obama nghĩ Holbrooke đã đi quá giới hạn. Holbrooke nhanh chóng trở thành trung tâm của sự căng thẳng giữa Nhà Trắng và Thượng viện về chiến tranh, nơi tập trung vấn đề chính sách đối ngoại cấp bách nhất trong hai năm đầu tiên của nhiệm kỳ Tổng thống Obama.
Các nhân viên an ninh quốc gia của Tổng thống Obama đã dành nhiều tháng cố gắng trừng phạt Holbrooke, một phần vì ông đã gây chuyện và một phần vì ông là một trung tâm trong quyền lực đối địch. Về phần mình, Holbrooke trung thành với tổng thống, nhưng ông chủ mới đã khiến ông ngỡ ngàng. Ở chỗ riêng tư, ông phàn nàn với những người gần gũi nhất với ông rằng, Obama, được tán dương như hiện thân thứ hai của John F. Kennedy, nhưng chẳng phù hợp chút nào với phiên bản Camelot hiện đại của chính ông ta. Và Holbrooke là kẻ thù tồi tệ nhất của Obama, chuyên cung cấp cái cớ cho các trợ lý Nhà Trắng để họ “dìm hàng” ông trước tổng thống.
“Về mặt chính sách cũng chẳng có gì quá quắt lắm. Vì phần lớn những gì Holbrooke đã làm chỉ là để cho Holbrooke, và nó đã tạo ra kịch tính ở một mức độ nhất định mà nhóm Obama không đánh giá cao,” một nguồn tin cho biết. “Ông ta không cố ý làm vậy. Ông ta chỉ làm theo cách của mình. Tôi nghĩ rằng điều đó chủ yếu về vấn đề cách thức, và rõ ràng là Holbrooke gắn bó chặt chẽ với báo chí. Bạn sẽ cảm thấy rằng những gì ông ta làm không ăn nhập với những gì mà nhóm của Obama cố gắng thực hiện.”
Sau khi một loạt bài của George Packer đăng trên tạp chí The New Yorker tháng Chín năm 2009 ca ngợi nhà ngoại giao kỳ cựu như cơ hội tốt nhất cuối cùng cho nước Mỹ trong vấn đề Afghanistan, một McDonough tức giận đã đối mặt với Holbrooke ở khu West Wing. McDonough cũng là một “nhân vật được săn đón” trong trò chơi báo chí. Tháng trước, khi David Rothkopf trên Washington Post ca ngợi việc xây dựng chính sách đối ngoại của Hillary, McDonough đã đáp trả Rothkopf bằng một e-mail ngắn gọn. “Chọn người để ca ngợi hay ho đấy,” ông trách, để anh ta hiểu rằng Obama, chứ không phải Hillary, xứng đáng với lời khen ngợi.
Tháng Hai năm 2010, Jim Jones, cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống, đã viết thư cho Đại sứ Karl Eikenberry thông báo rằng Holbrooke sẽ sớm được giải thoát khỏi vị trí của ông ta. Lá thư đã được gửi theo cách để rất nhiều nhân viên Bộ Ngoại giao đều biết, và tất nhiên nội dung bị rò rỉ trong bức thư đã hạ thấp uy tín của Holbrooke đối với các nhà lãnh đạo nước ngoài và ở cả Washington.
Hillary có trong tay một tập hồ sơ về những nỗ lực gạt bỏ Holbrooke và đã có những ghi chú của mình về Jones thông qua Donilon. Tức giận với các trò trả đũa, bà đến gặp Tổng thống Obama nói rằng ông ấy có thể sa thải Holbrooke bất chấp sự phản đối của bà, hoặc đề nghị các nhân viên của ông lùi bước. Holbrooke vẫn yên vị. Các trợ lý của Holbrooke đếm không xuể số lần công việc của ông ta bị đe dọa, và ông ta nhận thức sâu sắc rằng Hillary là người duy nhất đang bảo vệ mình khỏi nguy cơ sát sườn của việc bị sa thải một cách nhục nhã. “Khi ông gặp mặt Hillary, hãy nói giúp tôi được không?” Holbrooke yêu cầu Ngoại trưởng Pakistan Mehmood Qureshi. “Hãy nói rằng tôi vẫn đang làm tốt mọi việc.”
Cứ thế, Holbrooke tiếp tục cố gắng để tiếp tục hành trình của Axelrod. Ông ta thậm chí xuất hiện tại CURE, một sự kiện từ thiện của Axelrod ở nhà của Connie Milstein, một ông trùm bất động sản và nhà đất. Đó không phải là quan hệ một chiều. Trong khi Obama đã nghe thấy Holbrooke cao giọng, thì “David ngưỡng mộ ông ta,” nguồn tin của West Wing cho biết. “Tôi không nghĩ rằng Axelrod không thích Holbrooke. Đó luôn chỉ là vấn đề thời gian. Nhưng Axelrod nghĩ rằng, nói chuyện với Holbrooke là thích hợp vì Holbrooke xử lý một số vấn đề lớn.”
Khả năng của Hillary trong việc bảo vệ Holbrooke – kể cả khi bà không thể khiến Obama và các thành viên Hội đồng An ninh Quốc gia kính trọng ông ta – thể hiện lập trường của riêng bà. Nhưng chắc chắn là bà không phải mất thêm vốn liếng gì để bảo vệ ông ta.
Thời gian trôi qua, Steinberg, người đã từng gần gũi với Donilon suốt nhiều năm, lại nổi lên như một nhân tố gây căng thẳng giữa Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao. Donilon và Steinberg cùng công tác tại Bộ Ngoại giao, và cả hai đều gần gũi với Trợ lý ngoại trưởng Kurt Campbell. Nhưng mối quan hệ của Steinberg với cả hai người đàn ông đó đều trở nên căng thẳng, theo các trợ lý cấp cao của Hillary cho hay. Tình trạng căng thẳng giữa ông này với McDonough đã xấu đi khi McDonough được thăng chức phó cố vấn an ninh quốc gia vào tháng Mười năm 2010, Steinberg đã thôi tham gia “các cuộc họp dành cho các cấp phó” mà McDonough chủ trì, các phụ tá kể.