HỨA HẸN VÀ TAI HỌA

Hillary Clinton: Bí Mật Quốc Gia Và Sự Hồi Sinh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
10

❊ ❊ ❊

Phòng Tình huống yên ắng trong ngày 1 tháng Hai năm 2011, cả Tổng thống Barack Obama và các thành viên Hội đồng An ninh Quốc gia cùng chăm chú nhìn vào màn hình tivi trên tường. Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak đang phát biểu; cũng như hàng triệu người bình thường trên khắp thế giới, các quan chức cấp cao nhất của Mỹ đang tự hỏi liệu vị tổng thống này có sẵn sàng từ bỏ quyền lực hay không. Ông Mubarak, mà lực lượng Chính phủ của ông ta đã đụng độ với người biểu tình dân chủ tại Quảng trường Tahrir ở trung tâm Cairo, vẫn cố níu kéo quyền lực, và tất cả mọi người có mặt tại Phòng Tình huống nuốt từng lời phát biểu của ông ta, bởi họ chẳng có tin tình báo nào tốt hơn một khán giả bình thường ngoài những thước hình ghi lại lời ông ta phát biểu.

Trong gần một tuần, những quan chức kỳ cựu về vấn đề đối ngoại trong Ủy ban An ninh Quốc gia của Tổng thống Obama gồm Ngoại trưởng Hillary Clinton, Phó Tổng thống Joe Biden và Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates, đã tranh luận với nhau về việc Mỹ có nên dành cho Mubarak càng nhiều không gian hành động càng tốt hay không. Ngày 25 tháng Một, Hillary thông báo với các phóng viên rằng chính quyền Mubarak vẫn “vững vàng,” và hai ngày trước khi Mubarak phát biểu trước toàn thể người dân Ai Cập, bà đã kêu gọi một “sự chuyển giao hòa bình và trật tự sang chế độ dân chủ thật sự” trong chương trình Meet the Press, nhưng không đưa ra thời gian dự kiến khởi đầu tiến trình này. Nhà ngoại giao kỳ cựu này có mối quan hệ cá nhân với Mubarak, một đồng minh hiếm hoi ở khu vực luôn bất ổn và là người giữ được hòa bình với Israel trong hơn 30 năm qua. Họ cũng lo ngại về thông điệp được gửi đến những nhà lãnh đạo khác trong khu vực nếu Mỹ từ bỏ đồng minh lâu năm của mình trong lúc khủng hoảng này. Điều quan trọng nhất, họ lo ngại về những người chưa lộ diện. Không thể biết được người kế nhiệm Mubarak sẽ là bằng hữu hay kẻ thù của nước Mỹ. Nhưng theo quan điểm của các thành viên Ủy ban An ninh Quốc gia, tất nhiên là có ý kiến của Tổng thống Obama, những nhận định đó không đủ sức thuyết phục trước một thực tế đơn giản là nước Mỹ không thể làm được gì để cứu Mubarak, và tốt hơn hết là Mỹ ủng hộ quan điểm tiến hành cách mạng càng sớm càng tốt.

Thay vì đứng sang một bên, Mubarak lại sa lầy vào khủng hoảng. Trong khi ông sẽ không tái tranh cử, theo những gì ông nói, thì ông lại vẫn có ý định nắm quyền lực cho đến cuộc bầu cử tiếp theo – chắc chắn là thời gian đủ dài để những người biểu tình lo ngại ông có thể gian lận kết quả bầu cử hoặc đơn giản là không thực hiện lời hứa xúc tiến cải cách dân chủ. Ông xem những đối thủ chính trị của mình là tội phạm và kẻ giết người, ra lệnh “các cơ quan kiểm soát và pháp luật phải tiến hành ngay mọi biện pháp để bắt giữ những ai bị mua chuộc và chịu trách nhiệm đối với những hành vi phá hoại, hôi của và đốt phá trên khắp Ai Cập.”

Trong Phòng Tình huống, Tổng thống Obama biết rằng thông điệp của Mubarak sẽ đổ thêm dầu vào lửa tinh thần cách mạng ở Cairo. Charles Rangel, Nghị sĩ huyền thoại bang New York, từng có câu nói nổi tiếng “Tôi sẽ luôn ở cạnh bạn chừng nào tôi còn có thể,” nghĩa là ông sẽ chung vai sát cánh với đồng minh đến thời điểm mà liên minh này tan rã về mặt chính trị. Obama và Mubarak đang ở đúng thời điểm như thế. Obama kêu gọi Tổng thống Ai Cập rút lui một cách êm thấm.

Ben Rhodes, cố vấn và người viết diễn văn cho tổng thống về các vấn đề ngoại giao, đã soạn thảo một tuyên bố đáp trả để Obama đọc ngay tại Nhà Trắng trong đêm đó. Cuộc họp của Ủy ban An ninh quốc gia (NSC) diễn ra đúng lúc Tổng thống Ai Cập phát biểu, vì thế tất cả những nhân vật chủ chốt đều đang tụ tập tại Nhà Trắng, và Rhodes đã phát bản dự thảo tuyên bố đó ngay tại chỗ, chuyển từ tiến trình thảo luận bình thường về việc định hình chính sách của Mỹ đối với một cường quốc khác sang một phiên họp đột xuất bất thường.

Kịch bản thứ nhất phản ánh quan điểm của Obama, kêu gọi Mubarak từ chức, nhưng phải làm sao để ông ta và các nước trên thế giới không cho rằng thông điệp này là sự rũ bỏ hoàn toàn đối với Tổng thống Ai Cập. Nhưng Hillary vẫn chưa đồng ý hoàn toàn với dự thảo ban đầu của cố vấn Rhodes. Cầm lấy bút, bà bắt đầu biên tập lại ý tứ của bài phát biểu. Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates và những thành viên khác của NSC cũng bắt đầu công việc chỉnh sửa văn bản.

“Loại bỏ Mubarak nghĩa là ủng hộ một người kế nhiệm chưa ai biết là ai. Tất cả mọi người đều biết Mubarak, nhưng chẳng ai biết được điều gì sẽ xảy ra sau Mubarak... Khi không biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo thì rất khó kêu gọi ai đó phải ra đi,” một cố vấn của Obama có mặt trong phòng nói. “Quan điểm của tổng thống là ‘không phải chúng ta kêu gọi Mubarak từ bỏ quyền lực, ông ta vẫn có thể ở lại cầm quyền.’ Đây đúng là điểm mấu chốt cần phân tích: ‘Người này đã mất quyền điều hành đất nước. Những gì ông ta đang cố làm để bảo vệ quyền lực của mình sẽ không hiệu quả, vì thế chúng ta cần phải chấp nhận thực tế này nhanh hơn.’”

Vị cố vấn này nói thêm, “Những người đang ngồi quanh bàn có một chút nghi ngại chuyện này đang đi quá xa.” Nguồn tin khác của Nhà Trắng cho biết thêm những người có mặt tại Phòng Tình huống đang “xoi mói” dự thảo bài phát biểu của Ben Rhodes. Obama ngồi sát với người viết diễn văn cho mình và đưa ra nhận xét gần giống với dự thảo ban đầu. Từ phòng Grand Foyer, Nhà Trắng, tổng thống sẽ phát biểu trước cộng đồng thế giới chứ không phải riêng cho khán giả Mỹ. Ông nói: “Điều rõ ràng – thông điệp mà tôi muốn gửi đến Tổng thống Mubarak trong tối nay – đó là tôi tin rằng một sự chuyển giao trật tự phải có ý nghĩa, phải diễn ra trong hòa bình và phải bắt đầu ngay bây giờ.”

Mười ngày sau, NSC họp lần thứ hai với thành phần và nội dung tương tự, vẫn những quan chức đó cùng theo dõi hình ảnh Tổng thống Mubarak trong Phòng Tình huống, sau đó cùng biên tập dự thảo của Rhodes cho bài phát biểu của tổng thống. Một lần nữa, tổng thống lại đưa ra những ý kiến sâu sắc hơn những trợ lý hàng đầu của mình. Nhưng cho dù Obama có quan điểm cấp tiến hơn so với các thành viên NSC, thì dường như ông vẫn đi sau thời gian. Mười ngày dường như là khoảng thời gian vô tận trong cuộc cách mạng diễn ra trong thời gian thực của Ai Cập, và thời điểm mấu chốt đã bị bỏ lỡ. Nước Mỹ, quốc gia dẫn đầu trong thế giới tự do, vẫn không biết phải nói điều gì – chứ chưa nói đến phải làm điều gì – trong thời điểm diễn ra sự chuyển đổi sang chế độ dân chủ tại một khu vực nằm trong sự kiểm soát của một số kẻ độc tài thân Mỹ.

Trong khi chẳng ai có thể dự đoán chính xác chuỗi sự kiện đang diễn ra ở Trung Đông và Bắc Phi khi Mùa xuân Ả-rập đã tìm được đường vào Ai Cập, thì bộ phận phụ trách chính sách đối ngoại của Mỹ do Hillary và các quan chức cùng chí hướng của Nhà Trắng và Lầu Năm góc điều phối lại có phản ứng rất chậm chạp. Trong con mắt của người ngoài, nước Mỹ ủng hộ quá trình cải cách dân chủ chỉ khi những cải cách đó không đe dọa thay thế những liên minh độc tài của Mỹ bằng những kẻ quá khích được bầu ra. Tất nhiên, mỗi quốc gia đều có vấn đề riêng của mình, mỗi quốc gia lại gọi tên các vấn đề phức tạp bằng các thuật ngữ chính trị rắc rối. Thật khó cho một cường quốc, với quy trình thảo luận nghị sự và chính trị dân chủ, phản ứng kịp với các cuộc cách mạng đang diễn ra từng ngày. Với Ai Cập, lại có những mâu thuẫn giữa việc thúc đẩy dân chủ, ủng hộ đồng minh lâu năm và ngăn chặn những phần tử quá khích đang nắm quyền kiểm soát đất nước và gây ra tình trạng tê liệt.

Theo lời một cố vấn thì Hillary “tỏ ra lo ngại đôi chút về các tình huống có thể xảy ra và nghĩ rằng, trong thập kỷ vừa qua chúng ta đã biết rằng ‘dân chủ kiểu nhiệt tình’ trong mọi trường hợp đều thái quá. Bà ấy biết Mubarak rất rõ. Bà ấy cũng biết một số nhân vật đối lập và có quen biết lực lượng quân đội, nên tất nhiên bà ấy rất lo lắng về viễn cảnh mọi thứ sẽ xảy ra như thế nào.”

Đây cũng chỉ là một yếu tố mang tính cá nhân. Mối quan hệ giữa hai gia đình Clinton và Mubarak bắt đầu từ tháng Tư năm 1993, khi Bill mời Tổng thống Ai Cập thăm Nhà Trắng. Tháng Ba năm 2009, Hillary nói: “Tôi xem Tổng thống Ai Cập và Phu nhân như những người bạn của gia đình tôi.”

Rốt cuộc, hai năm sau đó, mối lo lắng của Hillary về việc đánh đổi một nhà độc tài ôn hòa bằng một tổng thống của đảng Huynh đệ Hồi giáo được bầu theo phương thức dân chủ nhưng chưa được thử thách đã thành sự thật, khi Chính phủ mới lại phải chịu một cuộc cách mạng-ngược lại, giống như tái diễn phong trào từng lật đổ Mubarak, như lời nhận xét của những trợ lý của cả Obama và Clinton.

Tất nhiên, trong tất cả những cố vấn của tổng thống, Hillary lẽ ra phải là người ít bị để ý nhất sau khúc cua của cách mạng Ai Cập năm 2011. Đã từ lâu, bà nhận ra những nhân tố đang nổi lên, chủ yếu là sức mạnh của công nghệ trong việc kích động những nhà hoạt động chính trị, ủng hộ sự thay đổi chính trị nhanh chóng và toàn diện. Bà biết rằng ý tưởng, tiền bạc và quyền lực có thể chuyển từ nơi này sang nơi khác trong khoảng thời gian đủ để đăng tải một video clip lên trang Youtube hoặc đột nhập một máy tính. Sau tất cả, chính Hillary Clinton đã từng phát biểu tại buổi chất vấn ở Nghị viện năm 2009 rằng “hứa hẹn và tai họa của thế kỷ XXI không thể bị ngăn chặn bằng biên giới quốc gia hoặc khoảng cách địa lý mênh mông.” Bà đã công du đến khu vực này chỉ vài tuần trước để cảnh báo các nhà lãnh đạo Trung Đông và Bắc Phi rằng sự thay đổi đang diễn ra, dù họ muốn hay không.

Nhưng việc lật đổ một chính phủ dễ hơn rất nhiều so với việc tạo dựng một chính phủ mới. Các cuộc cách mạng hiện đại không có người lãnh đạo, và được thúc đẩy bằng liên lạc trực tuyến, có thể cho phép một quốc gia, vốn ít có người dày dạn trong quản trị, vẫn thành lập được một chính phủ ổn định. Khẩu hiệu được viết trên tường, nhưng nó không bao hàm các chỉ dẫn cho biết nước Mỹ có thể đóng một vai trò kiến tạo ra sao trong việc thúc đẩy cả nền dân chủ lẫn sự ổn định ở một khu vực mà quyền lợi Mỹ đã lệ thuộc quá lâu vào các nhà độc tài ôn hòa chuyên đàn áp chủ nghĩa cực đoan đang thịnh hành. Vì thế Hillary có thể nhìn thấy viễn cảnh, nhưng lại không thể hoặc ít nhất là chưa định hình được nó.

Trong tuần đầu tháng Một, khi Mùa xuân Ả-rập bắt đầu chuyển động, Hillary triệu tập Dan Schwerin, một nhân vật đi từ nhân viên báo chí trở thành người viết diễn văn trong nhóm Hillaryland, và Meghan Rooney, một người viết diễn thuyết khác, đến phòng làm việc riêng. Căn phòng nằm ở góc tòa nhà, kê một chiếc bàn, một chiếc sofa nhỏ và ba hoặc bốn cái ghế. Căn phòng nhỏ này nằm giữa phòng làm việc của Cheryl Mills và phòng tiếp khách lớn của Hillary.

Tuần sau, Hillary sẽ đến Doha, Qatar để dự cuộc họp thường niên của các nhà lãnh đạo Trung Đông, Diễn đàn vì Tương lai [Forum for the Future,] và bà có chỉ có năm phút – khoảng thời gian ngắn bất thường – để phát biểu tại đây. Bà nói với Schwerin và Rooney rằng mình sẽ tận dụng từng giây từng phút tại diễn đàn này. Bà nói, “Các ông biết đấy, chúng ta luôn đề cập đến khu vực Trung Đông, chúng ta luôn lặp lại những thông điệp đã cũ, chẳng có thay đổi đáng kể nào cả, và tôi sẽ không lặp lại điều này nữa. Họ đang ngồi trên thùng thuốc súng. Chẳng ai đề cập vấn đề này cả. Tìm một cái gì đó mới mẻ và thú vị để chúng ta có thể nói và đánh thức họ.”

Mặc dù kết quả vẫn chưa rõ ràng, nhưng những hạt mầm cho một cuộc cách mạng đã được gieo trồng ở Tunisia, nơi một người bán hàng đường phố tự thiêu nhằm phản đối những chính sách kinh tế hà khắc của Chính phủ. Hành động biểu tượng gây nghẹt thở này đã châm ngòi cho làn sóng biểu tình, và cuối cùng dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Tunisia. Được bứt phá khỏi quy cách truyền thống của diễn văn ngoại giao bởi thường thì người ta không khuyến khích bới sự việc lên, Schwerin nhanh chóng tìm đến các chuyên gia của Bộ Ngoại giao và các trung tâm nghiên cứu ở Washington để tìm hiểu họ muốn nói gì về Trung Đông chứ không phải vì những nhạy cảm chính trị. Kết quả là sự kêu gọi tất yếu tới các nhà lãnh đạo Trung Đông hãy cải cách ngay xã hội của mình trước khi những người khác thực hiện thay đổi.

Hillary phát biểu tại Diễn đàn Doha, “Trong khi một số quốc gia đạt được những tiến bộ lớn trong quản trị đất nước, thì ở các quốc gia khác người dân đã quá mệt mỏi khi phải sống trong những thể chế mục nát và trật tự chính trị tù túng. Ở rất nhiều nơi, bằng rất nhiều cách, những thể chế không còn sức mạnh để trụ vững nữa... Những người bấu víu lấy thể chế cũ có thể hạn chế tác động toàn diện từ các vấn đề của quốc gia mình trong một khoảng thời gian nhất định, chứ không phải mãi mãi... Những phần tử quá khích, các tổ chức khủng bố và những nạn nhân của sự đói nghèo và tuyệt vọng đang ở ngoài kia, cầu xin lòng trung thành và đấu tranh bày tỏ nguyện vọng. Vì thế đây chính là thời khắc then chốt, cũng là cuộc sát hạch quyền lãnh đạo cho tất cả chúng ta. Tôi ở đây để cam kết nước Mỹ sẽ ủng hộ bất kỳ ai đứng lên giải quyết các vấn đề mà chúng ta đang phải đối mặt.”

Những trợ lý của Hillary vẫn hay kể lại rằng các phóng viên lưu động của Bộ Ngoại giao say mê viết về bài phát biểu của bà. “Tại sao bà ấy không phát biểu như thế thường xuyên? Thật tuyệt vời,” một trợ lý của bà nhớ lại những gì mình được nghe. “Thật sự chúng tôi không nghĩ sẽ được nghe những lời phát biểu hay đến vậy. Một số cử tọa cảm thấy bị xúc phạm, nhưng đa số cảm thấy được truyền cảm hứng.”

Chính quyền Tunisia sụp đổ vào ngày hôm sau, điều này càng làm những lời cảnh báo của Hillary có giá trị thêm. Hai tuần sau đó, Ai Cập đứng trước nguy cơ tương tự. Ở khía cạnh trừu tượng, đây là một sự kiện làm người ta nghĩ đến một cuộc cách mạng truyền từ nước này sang nước khác và lan ra cả khu vực trong khoảng thời gian tính bằng tuần, chứ không phải bằng năm hay chục năm. Đây cũng là một sự kiện mà mọi người có thể theo dõi trực tiếp trên truyền hình. Nếu sự kiện Ai Cập chứng minh cho điều gì thì đó là Mỹ đã quá chậm chạp trong việc phản ứng trước các động lực chính trị mà nước này đã nhìn thấy từ cách đó hàng ngàn dặm. Dù Hillary đã nhận định rõ về những yếu tố dẫn đến cuộc cách mạng Mùa xuân Ả-rập, nhưng sự lưỡng lự trong việc lật đổ Mubarak của bà đã cho thấy sự lập lờ của chính quyền Obama.

Nhưng khi Mùa xuân Ả-rập lan từ Ai Cập sang Libya, Hillary đưa ra các khuyến cáo cho Mỹ và phần còn lại của phương Tây từ việc nắm bắt thời cơ đến điều khiển nó. Hơn bất kỳ giai đoạn nào trong nhiệm kỳ bộ trưởng bốn năm của mình, bà đã cho thấy những kỹ năng của một nhà chiến lược, một nhà ngoại giao và một nhà chính trị trong việc xây dựng một liên minh tham gia cuộc chiến chống Muammar Gaddafi – một liên minh trong đó các thành viên chia sẻ trách nhiệm. Không giống các cuộc chiến tranh liên minh trước đây, động lực để tiêu diệt Gaddafi không phải nhằm đặt tiền đề cho chiến dịch của Mỹ với sự tham gia ít ỏi của các quốc gia đồng minh. Chìa khóa nằm ở khả năng nhận định chính xác tình hình của Hillary, nhờ đó làm hài lòng Tổng thống Mỹ, đồng minh phương Tây của Mỹ, Liên đoàn Ả-rập và bộ máy quản lý nhà nước của lực lượng mới nổi dậy ở Libya, trong khi vẫn giành được sự ủng hộ ngầm của các nhóm đối lập ban đầu, chẳng hạn như Nga hay Nghị viện Mỹ. Nhiệm vụ này yêu cầu Hillary phải cân bằng lợi ích của các bên tham gia ở cả trong nước Mỹ và trên thế giới.

Đó cũng là những kỹ năng – mặc dù được áp dụng ở phạm vi lớn hơn và với những hậu quả nghiêm trọng hơn nếu thất bại – giống như kỹ năng xây dựng một liên minh bao gồm các nhà lập pháp, các lực lượng liên quan bên ngoài và cử tri để ủng hộ một dự luật tại Nghị viện. Tất nhiên đó còn là sự thông minh của gia đình Clinton để tạo ra một thỏa thuận mà tất cả các bên đều có thể chấp thuận để tiến tới một ý tưởng vốn bị đặt dấu hỏi nhưng được nhà Clinton ủng hộ. Cuộc đấu tranh giải phóng Libya, dù thế nào đi nữa, cũng là cuộc chiến của Hillary.

Ngày 15 tháng Hai, chỉ vài ngày sau khi Mubarak phải từ bỏ quyền lực, những người biểu tình đã đổ ra các đường phố ở Libya, kéo theo các vụ đụng độ bạo lực trong vài ngày sau đó giữa lực lượng quân đội của Gaddafi và lực lượng chiến binh nổi dậy. Trong khi Gaddafi tấn công quyết liệt vào những người biểu tình thì lực lượng nổi dậy nhanh chóng nắm quyền kiểm soát một số thành phố ở miền đông đất nước. Khi kêu gọi các quan chức chính phủ Libya phản đối hành động của Gaddafi, Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy kêu gọi Liên Hợp Quốc áp đặt khu vực cấm bay tại Thủ đô Tripoli ở miền tây, để Gaddafi không thể dễ dàng điều động quân đội và khí tài tới khu vực miền đông nơi lực lượng nổi dậy đang chiếm đóng, cũng như cho không kích vào người dân Libya. Các chuyên gia quan hệ quốc tế đã dự đoán nhiều động cơ của Sarkozy: sự lo lắng đầy tính vị tha đối với người dân Libya; sự cần thiết thể hiện sức mạnh trước cuộc bầu cử ở Pháp; mong muốn chuộc lỗi vì đã ủng hộ những kẻ chuyên quyền ở Ai Cập và Tunisia quá lâu, cùng lo ngại cho lợi ích của gã khổng lồ dầu nhớt Total của Pháp. Cho dù động cơ là gì đi nữa, ông ta vẫn là người đầu tiên công khai thể hiện quan điểm của mình; Thủ tướng Anh David Cameron, từng bị chỉ trích vì đã phản ứng chậm trễ với Mùa xuân Ả-rập ở các nước Bắc Phi, đã nhanh chóng ủng hộ ý tưởng vùng cấm bay của Sarkozy.

Ở Mỹ, một cuộc canh cãi gay gắt kéo dài khoảng hai đến ba tuần giữa một nhóm nhỏ trợ lý của Obama kiên quyết ngăn chặn Gaddafi tàn sát dân thường và một nhóm, vì nhiều lý do, phản đối kịch liệt việc Mỹ triển khai quân sự ở Libya. Đến thời điểm đó, vấn đề chưa lên đến mức cần tổng thống quan tâm, ít nhất là về quy trình. Nhóm thứ nhất, sau đó đã đứng cùng Hillary như những tiểu thần Valkyries đứng cạnh Odin – những nữ chiến binh xứ Norse – bao gồm Đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc Susan Rice và thành viên Ủy ban An ninh Quốc gia Samantha Power. Nhưng cũng có những tiếng nói thiểu số lại tranh cãi về một sự can thiệp quân sự. Ben Rhodes và Tony Blinken, cố vấn an ninh quốc gia cho phó tổng thống, đã gia nhập nhóm này để tránh một viễn cảnh mà Mỹ không thể đứng ngoài và chứng kiến một vụ thảm sát diệt chủng như ở Rwanda trong thập kỷ 1990.

Nhóm thứ hai, xét về tương quan lực lượng thì mạnh mẽ và đông đảo hơn nhiều, gồm Phó Tổng thống Biden, Bộ trưởng Quốc phòng Gates, Chánh Văn phòng Nhà Trắng Bill Daley và Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Martin Dempsey. Họ nói với những cố vấn Nhà Trắng rằng họ hoài nghi về việc liệu Mỹ có những lợi ích an ninh quốc gia chính đáng ở Libya hay không. Họ biết rằng dàn trải lực lượng quân sự sẽ khiến sức mạnh suy yếu, và lo ngại về nguy cơ khơi mào chiến tranh ở một nước Hồi giáo thứ ba trong khi hầu hết cộng đồng Hồi giáo còn chưa phân biệt được cuộc chiến chống khủng bố với cuộc chiến chống Hồi giáo của Mỹ. Điều này gây ra tâm lý lo lắng bao trùm khi Pháp và Anh lôi kéo Mỹ vào một hành động quân sự mà cuối cùng Mỹ phải bỏ tiền và đích thân tiến hành. Một quan chức Nhà Trắng có mặt trong phòng hội thảo nói, “Một trong những luận chứng chủ yếu phản đối việc can thiệp quân sự là chúng ta sẽ phải đơn độc tiến hành các hoạt động đó. Một khi chúng ta triển khai quân đội, thì chúng ta phải chịu trách nhiệm.”

Hillary đang chơi con bài của mình một cách thận trọng, nhưng cũng đã bắt đầu ngả sang ủng hộ can thiệp quân sự. Năm 1994, bà thúc giục Bill Clinton ngăn chặn vụ diệt chủng ở Rwanda nhưng không hiệu quả, những cuộc tranh luận giữa Power, Rice, Blinken và Rhodes dường như đã ảnh hưởng đến suy nghĩ của bà. Hillary chia sẻ quan điểm của họ nhưng vẫn lo ngại những ý tưởng về can thiệp đang đặt trên bàn hãy còn quá yếu. Khu vực cấm bay không đủ mạnh để ngăn chặn Gaddafi.

Theo lời của Jim Steinberg, người tham gia các cuộc họp về an ninh quốc gia, “Bà hiểu cái động lực của việc phải làm điều gì đó. Bà nhận ra rằng những hành xử kiểu đó là thứ tồi tệ nhất trên thế giới. Hành xử phù phiếm cho thấy như thể người ta đang làm điều gì đó, nhưng thực tế lại chẳng tạo ra sự khác biệt nào cả. Phần lớn những gì được đề cập trong các buổi thảo luận trước đó về can thiệp quân sự là những gì chúng ta đã thấy ở Balkan và chẳng có sự khác biệt nào cả – vẫn chỉ là khu vực cấm bay, nhà trú ẩn an toàn và những điều đại loại như vậy. Những thứ như thế sẽ không thể thay đổi tình hình. Tôi nghĩ quan điểm của bà là ‘nếu chúng ta can thiệp quân sự thì chúng ta phải làm theo cách hiệu quả và xác tín.’”

Obama không được thông báo chính thức về các lựa chọn cho đến khi ông phải đưa ra quyết định liệu có nên và can thiệp quân sự và nếu có thì can thiệp như thế nào. Các ý tưởng của ông trùng với quan điểm của Hillary, hoặc ngược lại – theo nhận định của các quan chức chính phủ cấp cao.

Khi ở Washington các cuộc tranh luận gay gắt hơn, thì ở Libya cuộc chiến cũng trở nên ác liệt. Đầu tháng Ba, Gaddafi bắt đầu đẩy mạnh các hoạt động quân sự, và chỉ vài tuần sau khi cuộc giao tranh nổ ra, quân của ông ta đã giành lại các thành phố mà phiến quân chiếm đóng. Đã có những báo cáo về các cuộc không kích của máy bay quân đội Gaddafi ở khu vực Brega. Xe tăng được triển khai về hướng đông dọc quốc lộ ven biển nhằm tiêu diệt các căn cứ của quân nổi dậy ở Benghazi. Một quan chức cao cấp trong Chính phủ của Gaddafi cho biết, “chúng tôi bị áp lực về thời gian và phải di chuyển bằng xe tăng vượt qua sa mạc, tiến vào cửa ngõ Benghazi.”

Ngày 12 tháng Ba, khi 21 thành viên của Liên đoàn Ả-rập họp tại Cairo, Gaddafi đang trên đà tiêu diệt hầu hết lực lượng nổi dậy. Một vài lãnh đạo thế giới và các nhà hoạt động nhân quyền tin rằng một cuộc thảm sát hàng chục, thậm chí hàng trăm nghìn người Libya là không tránh khỏi. Sau một cuộc họp kín kéo dài sáu giờ hôm thứ bảy, Amr Moussa, Tổng Thư ký Liên đoàn Ả-rập thông báo rằng các nước Ả-rập ủng hộ vùng cấm bay. Các nước Ả-rập, vốn được cho là một khối phản đối mạnh mẽ sự can thiệp bên ngoài, lại đã bật đèn xanh cho các thế lực phương Tây ngăn chặn Gaddafi. Cũng giống Mỹ, họ cũng cân nhắc thiệt hơn nếu đứng ngoài trong khi Gaddafi thảm sát người dân Libya, cũng là người Ả-rập. Rốt cuộc, họ vẫn ủng hộ lực lượng nổi dậy thay vì Gaddafi, vì ông này thường xuyên nhúng mũi vào chuyện nội bộ của các nước Ả-rập láng giềng trong suốt 40 năm nắm quyền.

Quyết tâm của các nước Ả-rập trong việc bảo vệ lực lượng nổi dậy trước các cuộc tấn công của Gaddafi đã mang lại cho Hillary bước khởi đầu bà đang cần nhằm thúc đẩy can thiệp quân sự mạnh mẽ hơn, chứ không chỉ là biện pháp của Anh và Pháp nhằm thiết lập một vùng cấm bay không rõ ràng. Bà cho rằng biện pháp này là sai lầm, bởi vì nó khiến các nước phương Tây tưởng thế là đã tiến hành các hoạt động quân sự, nhưng thật ra vẫn không đủ để ngăn chặn Gaddafi. Hơn nữa, vùng cấm bay cũng không hỗ trợ được cho lực lượng phiến quân lật đổ Gaddafi. Vùng cấm bay chỉ có nghĩa là liên quân có thể bắn hạ máy bay của quân đội Gaddafi khi nó bay vào, nhưng đến giữa tháng Ba thì yêu cầu đặt ra là phải ngăn được đoàn xe tăng của Gaddafi.

Hillary nói với các trợ lý rằng bà tin Libya là cơ hội duy nhất cho Mỹ đề cao vai trò lãnh đạo thế giới mới dựa trên việc tạo dựng các quan hệ đối tác, trong đó bao hàm sức mạnh tổng hợp quân sự và tài lực của nhiều nước khác. Các liên minh Potemkin đã lấy đi xương máu, tiền và danh tiếng của Mỹ trên thế giới, và Obama vẫn chưa sẵn sàng cam kết Mỹ sẽ đứng mũi chịu sào cho một cuộc chiến nữa. Chiến lược của Hillary lồng ghép ý tưởng của Rice, Power, Blinken và Rhodes, cũng như giải quyết được những e ngại của Gates, Biden và Daley để triển khai lực lượng lính thủy đánh bộ ở Tripoli, một đòn mạnh hơn hẳn vùng cấm bay.

Libya là thử thách đặc biệt để kiểm tra các lý thuyết về quyền lực thông minh, chủ nghĩa đa phương và thúc đẩy nền dân chủ, những điều tạo thành triết lý của Hillary về vai trò lãnh đạo thế giới của Mỹ. Là một quốc gia giàu tài nguyên, đặc biệt là dầu mỏ và khí đốt, với dân số có học thức cao và không bị đàn áp như dưới chế độ Gaddafi, Mỹ được đặt vào vị trí thúc đẩy xây dựng các thể chế kinh tế, chính trị và dân chủ – những giá trị mà Hillary tin là cốt lõi của các nền dân chủ thịnh vượng. Chỉ cần một chút hỗ trợ bên ngoài, người dân Libya sẽ có đủ phương tiện để xây dựng một xã hội dân chủ toàn diện cho mình. Bên cạnh đó, không có một nguyên nhân chính đáng nào khác để can thiệp nhằm ngăn chặn cuộc thảm sát này. Hay nói cách khác, những điều kiện cho một cuộc can thiệp quân sự do Mỹ hậu thuẫn đã chín muồi.

Vào một vài thời điểm khác, liên minh Những người bạn của Libya đang thảo luận cách thức can thiệp, không cần các cam kết từ phía Mỹ, đó là một kế hoạch hỗ trợ “rất quyết tâm” – như một trợ lý của Hillary nhận định. Khi bay sang Paris ngày 14 tháng Ba dự Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao G8, nhóm các nước quyền lực giàu có nhất thế giới, Hillary muốn tìm thêm cơ sở để thuyết phục Obama ủng hộ cuộc chiến này, đó là sự đảm bảo của các nước châu Âu rằng họ sẽ tham gia lãnh đạo cuộc tấn công quân sự, các nước Ả-rập sẽ tham gia đảm bảo vùng cấm bay, làm sao để cuộc chiến này không bị nhìn nhận là phương Tây tấn công một quốc gia Hồi giáo, và để Chính phủ phe đối lập ở Libya, hay Hội đồng Chuyển tiếp Quốc gia Libya (TNC: Transitional National Council), có thể xây dựng một đất nước Libya dân chủ. Mỹ vẫn chưa chính thức công nhận TNC, dấu hiệu quan trọng cho thấy Washington còn nghi ngại tổ chức này.

Ngày đầu tiên ở Paris, Hillary đã họp với Sheikh Abdullah bin Zayed al-Nahyan, Ngoại trưởng các Tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất (UAE: United Arab Emirates) và ông Abdullah, người đứng đầu Ủy ban Hợp tác Vùng Vịnh (GCC: Gulf Cooperation Council), tại phòng khách của mình tầng trên cùng khách sạn Westin, chỉ cách bút tháp Cleopatra 3000 năm tuổi có vài tòa nhà. Abdullah cũng bay từ Trung Đông đến Paris để dự hội nghị này. Ghế dài trong phòng khách rất êm và mềm, nhưng giọng nói của Abdullah không hề nhẹ nhàng chút nào. Khi tiếp xúc với ngoại trưởng Mỹ, ông ta muốn tận dụng triệt để thời cơ này, vì biết Mỹ cũng muốn tham khảo ý kiến đồng minh.

Ông ta đã lớn tiếng với Hillary về những gì được chứng kiến khi Mỹ can thiệp vào Bahrain, một quốc gia Vùng Vịnh, khi ông làm đại diện ở đó. Trước đây, trong một tuyên bố về việc Chính phủ Bahrain trấn áp người biểu tình, Thư ký báo chí Mỹ Jay Carney đã chỉ trích GCC, “Đặc biệt, chúng tôi kêu gọi các đối tác GCC thể hiện sự kiềm chế và tôn trọng quyền con người ở Bahrain và ủng hộ đối thoại thay vì phá hoại nó.”

Còn lúc này, Hillary lại đang đưa ra yêu cầu với người đứng đầu chính tổ chức mà Nhà Trắng từng cấm tham gia một liên minh can thiệp quân sự ở Libya.

Không khí trong phòng không thoải mái lắm. Abdullah “không ngại vì sự chỉ trích công khai của chúng tôi về một số vấn đề Bahrain,” theo lời một nhân viên Mỹ có mặt ở đó. Nhưng điều quan trọng mà Abdullah đạt được là ông ta có thể khoe với các quan chức Bahrain và Ả-rập Xê-út, một đồng minh khác, rằng ông ta đã cho Hillary Clinton một bài học. (Thực tế là trong những tuần đầu căng thẳng của chiến dịch Libya, Mỹ đã giảm nhẹ giọng điệu chỉ trích Bahrain và GCC).

Phần thảo luận về vấn đề Libya có vẻ đồng thuận hơn. Abdullah khẳng định với Hillary rằng các nước Vùng Vịnh, gồm cả UAE, sẽ hỗ trợ chứ không nói suông cho chiến dịch này. Máy bay của các nước Ả-rập sẽ cất cánh. Nhưng đây không phải chiến dịch một chiều. UAE và các nước Vùng Vịnh khác cần biết chắc rằng Mỹ sẽ không “lời nói gió bay.” Phải nói gì với Gaddafi là một vấn đề, vấn đề thứ hai là hạ bệ ông ta. Nếu máy bay cất cánh – và GCC đại diện cho các quốc gia Ả-rập giàu có ủng hộ tiền và máy bay – Abdullah muốn biết rõ là Mỹ đã sẵn sàng tiêu diệt nhà lãnh đạo độc tài đó hay chưa.

Nếu Abdullah tìm kiếm một kẻ hiếu chiến, thì ông ta đã tìm đúng người. Trong khi các nước phương Tây mắc kẹt với vấn đề vùng cấm bay, Hillary nghĩ đến một chiến dịch quân sự toàn diện gồm cả tấn công vào bộ binh của Gaddafi – một chiến dịch nhanh gọn nhất để tạo lá chắn cho lực lượng nổi dậy xoay chuyển tình thế.

Như nghệ thuật dùng từ ở Liên Hợp Quốc, “bằng tất cả biện pháp có thể,” nghĩa là sẽ có một tờ séc khống để tiến hành chiến tranh. Cũng theo một nhân viên có mặt tại cuộc gặp giữa Hillary và Abdullah, “Điều các nước Ả-rập cần là sự đi đầu của Mỹ trong việc tuyên bố công khai rằng Gaddafi đã mất đi quyền lực hợp pháp. Ở khía cạnh này, Abdullah đã được bảo đảm bằng những gì mà ngoại trưởng Mỹ đề xuất và chủ nghĩa hành động nơi bà.”

Tối hôm sau, cũng tại căn phòng đó, Hillary có cuộc gặp với Mah-moud Jibril, người đứng đầu TNC. Thứ trưởng Ngoại giao Bill Burns, Đại sứ Mỹ tại Libya Gene Cretz, và Chris Stevens chuyên gia đối ngoại về vấn đề Libya đã tham gia nhóm cố vấn của Hillary.

Jibril, một người Benghazi ít tiếng tăm, tiến sĩ khoa học chính trị của Đại học Pittsburgh, từ trung tâm TNC ở Qatar đã bí mật đến Paris để gặp Hillary. Bốc đồng nhưng vẫn giữ được vẻ điềm tĩnh và sáng suốt, Jibril nói với Hillary rằng nếu lực lượng đối lập không nhận được hỗ trợ quân sự, quân đội của Gaddafi sẽ trút giận lên Benghazi và có thể tận diệt lực lượng nổi dậy. Điều đó không mang lại lợi ích cho bất kỳ ai. Gaddafi gọi lực lượng phiến quân là “lũ chuột,” và lời đe dọa tiêu diệt lũ chuột này sắp thành sự thật. Jibril gợi cho Hillary nhớ “ký ức đau lòng” về tội ác của Gaddafi với người dân Libya và rằng “ông ta sẽ luôn thực hiện lời nói của mình.”

Nhưng Hillary muốn chắc chắn rằng Mỹ không bị lôi kéo vào cuộc cách mạng lật đổ Gaddafi thông qua hỗn loạn, hay tạo lập một chính phủ không tôn trọng quyền lợi của nhóm người tay không tấc sắt. Bà chuyền lại bóng, buộc Jibril phải trình bày cụ thể quan điểm về một xã hội Libya mới, quan điểm mà bà sẽ phải thông báo tới những người theo chủ nghĩa hoài nghi ở Washington và bất cứ nơi nào khác nhằm có được sự ủng hộ trong việc can thiệp quân sự của Mỹ.

Một người có mặt trong cuộc họp kể, “Một phần thách thức là buộc Jibril và những người khác phải thể hiện rõ quan điểm về những giá trị mà họ theo đuổi, đó là một trong những điều mà Hillary ép Jibril nói ra. Bà ấy nói họ cần phải rõ ràng và kiên định trước công chúng về những gì họ ủng hộ, cũng như quan điểm của họ về một đất nước Libya thời hậu Gaddafi, một điểm rất quan trọng để họ có thể tiếp cận toàn thể người dân Libya.” Hillary nói với Jibril rằng, những yêu cầu của ông ta sẽ được xem xét cẩn thận, nhưng không cam kết giúp đỡ.

Sau này, Jibril tiết lộ với những cộng sự của mình rằng, thái độ cứng rắn của Hillary khiến ông có cảm giác mình đã đánh mất cơ hội. Nhưng thật ra ông ta không hề mất cơ hội. Một quan chức TNC tham gia cuộc họp cho biết, “Tôi nhớ là Hillary đã rất ấn tượng về việc các nhóm đối lập đã đoàn kết với nhau. Sau đó bà ấy đã tận dụng thực tế này ở Washington và với những đối tác khác để thuyết phục họ ủng hộ; những nhà lãnh đạo đối lập đã được chỉ dẫn đúng đường mặc dù họ vẫn cần thêm rất nhiều hỗ trợ. Bà ấy chẳng phải thuyết phục họ nhiều, mà chỉ bằng tuyên bố ‘chúng tôi đã có một kế hoạch chủ động cho cuộc can thiệp quân sự này.’”

Tại cuộc họp bên lề với những người đồng cấp của Anh, Pháp, Đức trong các cuộc điện đàm cuối tuần đó, Hillary đã nhấn mạnh cần can thiệp quân sự mạnh mẽ. Steinberg nói, “Điều mà bà ấy muốn biết là liệu các nước khác có sẵn sàng tiến hành những biện pháp mạnh mẽ và hiệu quả để chứng tỏ nỗ lực của họ không uổng phí hay không – ngoài việc thiết lập một vùng cấm bay, áp dụng các biện pháp quân sự mạnh tay để bảo vệ người dân Libya đang bị Gaddafi đe dọa.”

Hillary đã khiến các nước châu Âu thấy lạc quan về triển vọng Mỹ nhận được sự ủng hộ cho một nghị quyết Liên Hợp Quốc, rộng hơn nghị quyết vùng cấm bay mà Anh và Pháp đang theo đuổi. Nếu Mỹ đưa ra giải pháp cho vấn đề này theo cách thức ngoại giao, thì Anh và Pháp sẽ thuận theo. Đức vẫn ngập ngừng chưa tham gia. Nhưng Hillary đã xây dựng một liên minh quân sự quốc tế đặc biệt, và nếu mọi thứ diễn ra đúng kế hoạch, đó sẽ là một liên minh đối tác hỗ trợ xây dựng một Chính phủ Libya mới và ổn định. Liên minh này bao gồm sự tham gia mạnh mẽ của các quốc gia khác sẽ cùng đứng mũi chịu sào trong cả hành động lẫn cam kết đóng góp chi phí nhằm lật đổ Gaddafi, từ máy bay đến vũ khí đạn dược. Liên Hợp Quốc sẽ ủng hộ hành động liên minh, kêu gọi cả thế giới cùng tham gia, chứ không chỉ đồng ý giao cho phương Tây và các nước Vùng Vịnh một cái rìu để chặt đứt Gaddafi.

Một quan chức Mỹ ít liên quan đến chính trị gọi mô hình mới này là “lãnh đạo từ phía sau,” một cụm từ sẽ luôn ám ảnh Obama. Nhưng nó cho phép Mỹ định hình tương lai Libya – ủng hộ phong trào dân chủ đang lớn mạnh lên, mà không mang tiếng công khai là cuộc tấn công một quốc gia Hồi giáo, cũng như không cần trưng cầu ý kiến ủng hộ của Nghị viện và người dân Mỹ về khoản chi phí khổng lồ cho việc đưa lính Mỹ vào vùng nguy hiểm. Mô hình này không chỉ cần sự ủng hộ mà Hillary nhận được từ các nước Vùng Vịnh giàu có đã được Abdullah khẳng định, mà còn cần sự hỗ trợ của cả Liên đoàn Ả-rập, trải dài từ khu vực Trung Đông, Bắc Phi, phía đông Vùng Vịnh, đến bờ biển Đại Tây Dương của Mauritania. Sau các cuộc gặp Abdullah và Jibril, khi Hillary bay đến Cairo để gặp các nhà lãnh đạo của Chính phủ Libya mới thời hậu Mubarak, thì các cuộc thảo luận trực tiếp với Amr Moussa, ứng viên tổng thống và Tổng Thư ký Liên đoàn Ả-rập, đã không còn căng thẳng và mang tính thúc ép nữa.

Moussa đảm bảo với Hillary rằng Liên đoàn Ả-rập sẽ ủng hộ vùng cấm bay, nhưng Hillary cần nhiều hơn thế. Bà trình bày cụ thể với Moussa về kế hoạch can thiệp quân sự chi tiết hơn mà bà đang theo đuổi. Một trợ lý cho biết, “Bà ấy rất thẳng thắn với ông ta. Bà ấy nói: ‘Ông đang kêu gọi thiết lập một vùng cấm bay, ông kêu gọi chúng tôi tham gia; đó là những gì mà chúng ta đang bàn để thực hiện và tốt hơn hết là ông phải trực tiếp tham gia. Liên minh giữa chúng ta đang được hình thành.’”

Tối hôm đó, bà gọi điện tới Phòng Tình huống – lúc đó vẫn là buổi chiều ở Washington – để thông báo cho Obama và Ủy ban An ninh Quốc gia về những gì bà biết. Máy bay của phương Tây và các nước Ả-rập sẽ xuất hiện trên bầu trời của Libya; Anh và Pháp sẽ tham gia nếu Mỹ thúc đẩy tại Liên Hợp Quốc việc thông qua một nghị quyết mạnh mẽ hơn về vùng cấm bay và Liên đoàn Ả-rập cũng đã đồng ý ủng hộ.

Tham gia cuộc họp tại Nhà Trắng qua kết nối video trực tuyến từ New York, Susan Rice đã sẵn sàng phác thảo một nghị quyết về “tất cả những biện pháp cần thiết” để Liên Hợp Quốc có thể cơ bản đồng ý cho NATO đập tan chế độ Gaddafi bằng không quân và bao vây bờ biển bằng hải quân. Trong khi NATO không cần nghị quyết của Liên Hợp Quốc để tiến hành cuộc chiến với Gaddafi, chính quyền Mỹ lại cân nhắc về một lực lượng mang tính quốc tế bao gồm các nước Ả-rập, một yếu tố quan trọng trong việc mang lại tính chính nghĩa cho một cuộc tấn công tại thế giới Ả-rập. Sau này, Moussa công khai phàn nàn việc ông ta không có ý định bật đèn xanh cho một cuộc không kích toàn diện vào Libya, nhưng ông ta đã mau chóng rút lui khỏi những tranh cãi xung quanh vấn đề này.

Báo cáo của Hillary đề cập cả mong muốn tham gia của những nước khác và những nghi ngại về sự mở rộng hoạt động quân sự và quan điểm của Mỹ về cuộc chiến ở một nước Hồi giáo. Đó không phải là giải pháp hoàn hảo, và cũng không đủ thuyết phục để Gates và Lầu Năm góc đồng ý, nhưng đã cung cấp cho tổng thống những thông tin mà ông cần để thực hiện bước đi tiếp theo. Với những thông tin riêng của mình cùng bản báo cáo của Hillary, Rice tin rằng bà ta có thể thúc đẩy cụm từ “tất cả những biện pháp cần thiết” được thông qua tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Cuộc tranh luận diễn ra không cần quyết định của người đứng đầu Chính phủ, nhưng Obama đã có đủ lý do để tự tin tham gia tranh luận về khía cạnh đạo đức trong việc đưa quân đội tham gia cuộc chiến mới, cũng như khả năng Mỹ rút lui với những rủi ro và tổn thất thấp nhất.

Tại cuộc họp thứ hai, Hillary không tham dự vì lúc đó là nửa đêm ở Cairo và mọi người đều hiểu rằng bà đang thúc đẩy biện pháp quân sự cứng rắn. Obama chỉ đạo Rice giành được sự đồng ý của Hội đồng Bảo an với tuyên bố chấp thuận “tất cả những biện pháp cần thiết.” Nghị quyết sẽ được tiết lộ cho giới báo chí như là về vùng cấm bay, nhưng với ý nghĩa rằng thế giới sẽ ngăn chặn chế độ Gaddafi bằng mọi biện pháp có thể mà không cần chiếm đóng Libya. Quan điểm của Obama là bộ binh Mỹ sẽ không tham chiến.

Các thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an đều phản đối nghị quyết về chiến tranh. Nga muốn kêu gọi ngừng bắn. Để tránh gây mất lòng Nga, Rice đã cẩn trọng nói rằng không có điều gì đi ngược nghị quyết của người Nga, nhưng một nghị quyết như thế sẽ chẳng dẫn đến đâu cả. Bà nói, “Tôi nghĩ hầu hết các thành viên của Hội đồng tập trung vào tầm quan trọng của việc Hội đồng hành động nhanh gọn và thiết thực nhằm ngăn chặn tình trạng giết chóc đang diễn ra.”

Ngày hôm sau, khi Rice đang tiếp tục công việc của mình để có được sự ủng hộ của Hội đồng Bảo an ở New York, thì tại Tunisia, Hillary thẳng thắn thảo luận về hy vọng nước Mỹ sẽ làm nhiều hơn là việc bảo vệ dân thường và lực lượng nổi dậy. Bà phát biểu tại cuộc phỏng vấn của đài truyền hình Nessma như sau: “Chúng tôi chắc chắn muốn chứng kiến một nền dân chủ tại Libya. Và đồng thời, chúng tôi biết rằng nếu Hội đồng Bảo an không cho phép thực hiện biện pháp mạnh mẽ hơn thì lực lượng nổi dậy sẽ vấp phải vô số khó khăn.”

Sau khi rời sân khấu, bà đi ngay vào phòng nghỉ, nơi Jake Sullivan nối máy để bà nói chuyện thân mật với Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov ở đầu bên kia. Hai năm sau khi khởi động lại mối quan hệ vào năm 2009, Hillary và Lavrov đã xây dựng một mối quan hệ công việc gắn bó, một phần là để tiến hành các đàm phán về Hiệp ước START mới. Đó là nhận định của một nhân viên thường xuyên theo dõi phản ứng của hai ngoại trưởng. Hillary không cần Lavrov và Nga bỏ phiếu ủng hộ nghị quyết của Hội đồng Bảo an, vì điều này đã được Pháp bảo trợ. Bà chỉ cần Nga không bỏ phiếu. Bà yêu cầu Lavrov bỏ phiếu trắng và ông ta đã đồng ý. Hillary gọi một cú điện thoại nữa đến Bồ Đào Nha để xác nhận đã được một phiếu đồng ý, rồi chuẩn bị ra sân bay.

Ngay khi Hillary đáp máy bay trở về Washington, các phóng viên đã vây quanh Sullivan bằng hàng loạt câu hỏi về việc tại sao Mỹ không ngăn cản Gaddafi đánh phá Benghazi. Khi Hillary đang bay trên bầu trời Đại Tây Dương, thì có tin Hội đồng Bảo an đã bỏ phiếu 10/0 ủng hộ nghị quyết “tất cả những biện pháp cần thiết.” Trung Quốc, Brazil, Đức và Ấn Độ bỏ phiếu trắng. Nga cũng thế. Xây dựng liên minh là nỗ lực tập thể – Obama và Rice đang vận động hành lang quyết liệt để các nước bỏ phiếu thuận – nhưng chính Hillary là người chuẩn bị tất cả mọi thứ để lắp những mảnh ghép lại với nhau.

Vào thứ Sáu, Obama thông báo với một nhóm nhỏ có liên quan trong Nghị viện về các kế hoạch sử dụng tên lửa và khả năng tình báo của Mỹ – được xem như là “của để dành” – nhằm hỗ trợ cho hoạt động quân sự. Chưa đầy 36 giờ sau, các tàu chiến của Anh và Mỹ đã phóng hàng loạt tên lửa Tomahawk vào lực lượng của Gaddafi.

Sau hai năm làm ngoại trưởng, công du khắp thế giới và điều hành thủ phủ chính trị của mình ở Washington, Hilllary đã trở thành một nhân vật quan trọng hơn bao giờ hết trong hàng ngũ của tổng thống. Bà đã lắp những miếng ghép cần thiết để thuyết phục Obama can thiệp vào Libya. Chính sách ngoại giao quốc tế của bà đã tạo dựng được niềm tin rằng Mỹ có thể lãnh đạo cuộc can thiệp quân sự, thay mặt cho lực lượng nổi dậy, mà không hành động một cách biệt lập với liên minh NATO hay thế giới Ả-rập. Về vấn đề sử dụng lực lượng quân đội Mỹ, bà đã tách khỏi Gates, người đứng đầu Lầu Năm góc mà bà gắn bó từ đầu nhiệm kỳ.

Hillary đã trở thành nhân vật quan trọng ở Washington và Paris để tạo ra một cuộc chiến tranh – hứa hẹn, tai họa, và tất cả.

LLARY CLINTON: BÍ MẬT QUỐC GIA VÀ SỰ HỒI SINH ebook©MotSAch TVE-4u©nguyenthanh-cuibap —★— Nhà xuất bản: NXB Thanh Niên
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.