Tàu Hải Âu chạy vào, các ngư dân đều hiếu kỳ liếc nhìn hai cái. Gloucester cũng là một cảng du lịch, nơi đây có vịnh biển xinh đẹp cùng bãi cát sạch sẽ, du thuyền không hề hiếm gặp, nhưng du thuyền có tên viết bằng chữ Hán thì lại không nhiều.
Đám ngư dân này đều tưởng Tần Thời Âu và những người khác chỉ đến chơi bời, nhưng sau khi tàu tiến vào cảng, họ lại không cập bến mà chạy thẳng về phía vịnh của công ty thủy sản.
Đây là lần thứ hai Tần Thời Âu đến công ty thủy sản. Không giống như lần trước ở St. John's, ngư dân ở đây không tỏ thái độ bài xích đặc biệt, họ chỉ nhìn đám người Tần Thời Âu với ánh mắt hiếu kỳ hoặc nhàm chán.
Sa Khắc giải thích với Tần Thời Âu: "Ngư dân ở cảng Gloucester sống khá dễ chịu. Mỗi năm có khoảng mười tuần thích hợp để đánh bắt cá ngừ, họ có thể thu về hơn trăm ngàn đô. Cộng thêm việc đánh bắt các loại cá khác vào thời gian còn lại, ở Mỹ thì họ đã được coi là tầng lớp trung lưu rồi. Điều này khác hẳn với ngư dân ở St. John's, những người ở đó gần như sắp phá sản. Thế nên nói ra thì, tính khí của ngư dân ở đây tốt hơn, tâm lý ghét người giàu cũng yếu hơn."
Tần Thời Âu lúc này mới hiểu ra, hóa ra là vậy. Anh còn tưởng người Mỹ có tố chất kém hơn người Canada nhiều chứ.
Lạ nước lạ cái, Tần Thời Âu cũng không hiểu rõ tình hình các công ty thủy sản ở cảng Gloucester, thế nên anh chọn bừa một bến tàu của công ty thủy sản có nhiều thuyền neo đậu nhất xung quanh, tên là "Công ty Thủy sản Trident".
So với St. John's, Gloucester có diện tích nhỏ hơn nhiều, chỉ chưa đầy bốn ngàn héc-ta, dân cư thường trú cũng chỉ hơn một ngàn người.
Thế nhưng cảng này lại có nhiều công ty thủy sản hơn, tạp nham không dưới mười cái. Lúc này đều đang đèn đuốc sáng trưng, chờ đợi thu mua thành quả đánh bắt.
Sau khi tàu của Tần Thời Âu cập bến, đám ngư dân xung quanh còn tưởng họ đỗ nhầm chỗ, tụ tập một bên chờ xem trò hay.
Kết quả, phía công ty thủy sản Trident ném xuống một cái móc, Tần Thời Âu buộc vào đuôi cá, một con cá ngừ lớn được nhấc bổng lên.
Xung quanh vang lên tiếng hít khí lạnh và những lời bàn tán của ngư dân. Tần Thời Âu rất tận hưởng cảm giác vả mặt này.
"Cá loại A, một pound 14 đô, tổng trọng lượng 559 pound, trừ đi 4 pound của dây buộc, ừm, tổng cộng là 555 pound." Một ông lão da trắng béo mập nói với Tần Thời Âu. "Đưa giấy phép câu cá cho tôi xem nào, giá này các anh có ý kiến gì không?"
Sa Khắc đưa giấy phép câu cá cùng hộ chiếu của họ cho ông lão. Người kia kiểm tra xong rồi gật đầu. Lúc này, một thiếu nữ da trắng với đôi mắt xanh biếc ngồi trước máy tính hỏi: "Muốn lấy séc hay chuyển khoản ngân hàng?"
Tần Thời Âu nói: "Cho tôi séc đi."
Anh ở đây vẫn chưa làm thẻ ngân hàng Mỹ, nếu chuyển khoản thì sẽ là chuyển tiền quốc tế, rất phiền phức.
Ông lão trả lại giấy tờ cho Sa Khắc, đồng thời nói: "An Phân Ni (Anfenny), tính tròn cho mấy vị này đi, coi như 560 pound."
Tần Thời Âu lịch sự bắt tay cảm ơn ông. Ông lão cười híp mắt chúc mừng anh câu được con cá lớn như vậy, rồi đưa cho anh một tấm danh thiếp. Ông lão tên là James Lewis, là người phụ trách của công ty Trident tại cảng Gloucester.
Giới ngư dân nói lớn không lớn, nói nhỏ không nhỏ. Hàng năm người câu cá ngừ ở đây cũng chỉ chừng đó, hầu như đều đã là đối tác cố định của các công ty thủy sản rồi, cho nên việc lôi kéo khách hàng đối với các công ty này rất khó khăn. Vì thế, khi có gương mặt mới xuất hiện, các công ty thủy sản sẽ nắm lấy cơ hội để tạo mối quan hệ.
Còn việc gương mặt mới này có câu được cá ngừ hay không, điều đó không quan trọng, cùng lắm cũng chỉ là một tấm danh thiếp, đúng không nào?
Vậy là con cá này đã mang lại cho Tần Thời Âu tám ngàn đô thu nhập. Tuy là đô la Mỹ, quy đổi ra đô la Canada cũng được khoảng mười ngàn.
Giá này so với mức thu nhập hai mươi ngàn mà Sa Khắc dự đoán thì có chênh lệch. Nhưng các công ty thủy sản thường thu mua ở mức nửa giá, dù sao từ Mỹ vận chuyển hàng không đến Tokyo, cộng thêm thuế phí, vẫn cần một khoản tiền.
Cầm tấm séc, Tần Thời Âu vẩy vẩy, rồi dẫn nhóm người Iverson lên bờ. Sa Khắc ở lại trên tàu trông chừng Hùng Đại và Hổ Tử, chúng không thể lên bờ, thậm chí không thể lộ diện.
Có hộ chiếu trong tay, người xuất nhập cảnh giữa Canada và Mỹ không thành vấn đề, nhưng đổi lại là động vật thì lại là chuyện khác.
Sau khi đám người Tần Thời Âu lên bờ, có người bám theo sau. Một thanh niên tóc vàng hoạt ngôn trực tiếp đi tới chào hỏi: "Này các anh, người Canada à? Chào nhé, tôi tên là Wiser, là dân bản địa ở đây."
Nghe thấy cách tự xưng "bản địa" này, Tần Thời Âu cười cười, đáp: "Chào anh bạn, chúng tôi từ Labrador-Newfoundland đến, chuyên đến để câu cá, chưa quen với thành phố này, anh có thể giới thiệu một khách sạn nào tốt không?"
Wiser xua tay: "Cứ giao cho tôi, đi theo tôi, tôi đảm bảo sẽ để các anh ăn ngon, ở sướng, mà còn chẳng tốn bao nhiêu tiền."
Anh ta lái một chiếc xe, là một chiếc bán tải GMC, Tần Thời Âu gọi thêm một chiếc taxi, cả nhóm hướng về khu đô thị nhỏ cách đó không xa.
Trên đường, Wiser lộ rõ ý đồ, trực tiếp nói về việc câu cá: "Các anh giỏi thật đấy, vừa đến đã bắt được con hàng khủng, thật làm tôi ngưỡng mộ. Đúng rồi, này anh bạn, các anh dùng loại móc câu và dây câu hãng nào? Mồi câu dùng gì thế? Cá trích, mực ống, cá thu, hay cá cơm?"
Những cái này chẳng phải bí mật gì, Tần Thời Âu không để bụng, liền nói ra từng thứ một. Sau đó anh cảm thấy không thể để anh chàng người Mỹ đẹp trai này thất vọng, bèn nói với anh ta cái gọi là 'bí mật': "Mồi câu chúng tôi dùng không phải là cá đơn giản đâu, anh bạn, tuyệt đối không đơn giản."
Hải Quái và Nelson cười hì hì, biết ông chủ nhà mình lại bắt đầu chơi trò "đời là vở kịch, tất cả nhờ diễn xuất" rồi.
Wiser quả nhiên hào hứng hẳn lên, hỏi: "Các anh có bí quyết gì sao?"
Tần Thời Âu nói: "Anh phải rắc một ít máu cừu vào mồi câu đông lạnh, nhớ kỹ, không được dùng máu bò, không được dùng máu lợn, nhất định phải là máu cừu. Tất nhiên còn cần thêm một lượng dầu mè vừa đủ, mồi câu như vậy đối với cá ngừ mà nói chính là cao lương mỹ vị."
Anh nói vậy cũng không phải để lừa anh chàng đẹp trai này, cá ngừ tuy không khát máu như cá mập, nhưng chúng lại khá nhạy cảm với mùi tanh của máu. Rất nhiều ngư dân đều thêm máu động vật vào mồi câu để tăng sự thu hút đối với cá ngừ.
Wiser vô cùng tin tưởng, nói: "Tuy tôi không hiểu nguyên lý là gì, nhưng anh bạn, tôi cho rằng anh nói có lý. Người phương Đông các anh rất giỏi làm những thứ bí ẩn, điểm này nghe anh là đúng rồi."
Thành phố nhỏ cũng chỉ lớn chừng đó, như một cái thị trấn vậy. Quẹo vài vòng thì dừng lại trước một tòa nhà ba tầng. Sau đó Wiser giúp Tần Thời Âu xách một ít hành lý, nói: "Ok, đến nơi rồi, các anh bạn, Nhà của Wiser. Tôi dám cá là thời gian sau này các anh ở đây chắc chắn sẽ rất hài lòng."
Vãi thật, Tần Thời Âu dở khóc dở cười, hóa ra nhà của Wiser này kinh doanh khách sạn à, thế này có tính là dê vào miệng cọp không nhỉ?
Tòa nhà không lớn, tổng thể được xây bằng đá xanh phối với gỗ phong. Nhìn từ bên ngoài phong cách cổ kính, sau khi vào cửa mới thấy căn nhà được dọn dẹp rất sạch sẽ.
Phòng khách tầng một có bảy tám cái bàn, dùng làm nhà hàng, góc đông nam có một quầy bar nhỏ, phía trên treo một chiếc tivi. Tầng hai và tầng ba đều là phòng ngủ cho thuê, từ phòng đơn đến phòng ba người đều có, giá rất rẻ, phòng đơn sang trọng nhất cũng chỉ 45 đô một đêm, còn cung cấp cả bữa sáng.
Tần Thời Âu xem qua thấy vệ sinh phòng ốc ổn mà chăn đệm cũng sạch sẽ, liền thoải mái thanh toán trước tiền phòng một tuần. Anh đưa thêm cho Wiser hai trăm đô, nhờ anh ta chuẩn bị một ít pizza, bánh mì làm đồ ăn đêm.
Cầm được tiền, Wiser đối với Tần Thời Âu càng nhiệt tình hơn. Trước khi rời đi, anh ta nói: "Anh bạn, tôi phải nhắc anh, các anh nên nghỉ ngơi sớm đi, nửa đêm rời cảng sớm một chút, nếu không ngày mai anh chắc chắn sẽ không thể câu cá yên ổn đâu."
"Ý anh là sao?" Tần Thời Âu hỏi.
Wiser nhún vai, nói: "Dù sao nếu anh không muốn bị cái đuôi cắn vào, thì hãy nghe tôi, nghỉ ngơi sớm, dậy sớm, sớm đi thu hoạch cá lớn."