Hamel bay đến Montreal ngay ngày hôm sau, cậu ta đã lấy được giấy phép sử dụng thiết bị chữa cháy tấn công từ St. John's.
Chuyện này phải nhờ đến Matthew King, Auerbach đã gọi điện cho ông ta, nói thẳng ra ý tưởng của Tần Thời Âu về việc sử dụng thiết bị chữa cháy để bảo vệ ngư trường.
Vị Bộ trưởng Bộ Ngư nghiệp và Đại dương này trầm ngâm một lúc rồi liên hệ với phía St. John's, yêu cầu họ mở đèn xanh cho đảo Cáo Biệt mua thiết bị chữa cháy tấn công. Dù việc để các chủ ngư trường sở hữu loại thiết bị này tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhưng Matthew King mong muốn các chủ ngư trường có đủ khả năng bảo vệ ngư trường của chính mình hơn.
Hiện tại áp lực của Matthew King rất lớn, nếu tình hình tại ngư trường Newfoundland vẫn không cải thiện, ông ta sẽ phải đóng cửa hoàn toàn các ngư trường, đồng nghĩa với việc ngành nghề cá gần bờ của Canada sụp đổ hoàn toàn!
Vì thế, ông ta buộc phải tìm cách khuyến khích các chủ ngư trường phát triển. Chỉ cần các ngư trường tư nhân hoạt động mạnh mẽ, từ đó kéo theo sự phát triển của các ngư trường công cộng, thì ngư trường Newfoundland mới còn cơ hội hồi sinh.
Có được giấy phép, Tần Thời Âu lập tức bắt đầu vung thẻ ngân hàng ra đặt hàng.
Đầu tiên là xe chữa cháy tên lửa, về khoản này bắt buộc phải chọn hàng Trung Quốc. Không phải vì Tần Thời Âu yêu nước, mà là tầm bắn tên lửa của các quốc gia khác quá gần, thậm chí còn không có khả năng cải tiến để thêm chất hỗ trợ đẩy hiệu quả cao.
Sau khi vung ra 3,5 triệu đô Canada, đảo Cáo Biệt đã sở hữu hai chiếc xe chữa cháy tên lửa cùng 32 quả tên lửa (tương đương 8 cơ số).
Về phần xe chữa cháy phản lực, Tần Thời Âu không chọn loại xe cải tiến từ động cơ máy bay chiến đấu J-7 trong nước. Anh không hứng thú với bản thân chiếc xe, cái anh cần chỉ là động cơ phản lực có công suất lớn nhất, bởi anh định lắp đặt chúng lên tàu thuyền.
Dù sao thì tấn công bằng tên lửa cũng hơi khoa trương, chủ lực để Tần Thời Âu bảo vệ ngư trường chắc chắn vẫn là "đại pháo phản lực". Anh định trang bị cho bốn con tàu, nên đã mua hai chiếc xe chữa cháy do Hungary sản xuất. Chiếc xe này sử dụng loại động cơ phản lực đã giải ngũ của máy bay MiG-23S – động cơ Tumansky R-27-F2M-300.
Ngoài ra, anh còn mua hai chiếc xe chữa cháy T-6 do Công ty General Motors của Mỹ sản xuất. Chiếc xe này sử dụng động cơ Pratt & Whitney TF30-P-412, vốn là "trái tim" của máy bay chiến đấu F-14 Tomcat lừng danh.
So sánh thì động cơ Pratt & Whitney TF30-P-412 của Mỹ là loại tiên tiến nhất trong số các xe chữa cháy phản lực tại triển lãm lần này. Không phải là không có những động cơ tiên tiến hơn được loại bỏ, mà là những động cơ đó chưa được đưa vào hệ thống chữa cháy.
Điều này cần phải giải thích cặn kẽ. Thông thường người ta cho rằng, khi tỷ lệ công suất trên trọng lượng của xe chữa cháy thông thường đạt tới mức 30kw/t thì không thể tăng thêm được nữa. Bởi nếu tăng thêm, mô-men xoắn sẽ kéo theo việc phải gia cố bộ truyền động và tăng trọng lượng khung gầm, từ đó triệt tiêu những lợi ích mà việc tăng công suất mang lại.
Chiếc xe chữa cháy T-6 do General Motors mang đến có khối lượng toàn tải là 19,2 tấn, công suất động cơ 367kw, tỷ lệ công suất trên trọng lượng là 19,1kw/t. Để tăng công suất dự trữ, xe chữa cháy T-6 còn sử dụng 2 động cơ, một dùng để di chuyển và một dùng để phun, nhưng tổng tỷ lệ công suất trên trọng lượng của nó vẫn chưa vượt qua ngưỡng 30kw/t. Đây đã là loại động cơ có công suất lớn nhất rồi.
Tần Thời Âu vốn muốn mua toàn bộ là xe T-6. Mặc dù nó đắt nhất, lên tới 1,8 triệu đô Canada mỗi chiếc, nhưng một chiếc xe chữa cháy Mercedes cũng đã tốn một triệu đô Canada rồi, nên mức giá này không thể coi là đắt.
Tiếc là hồi đó General Motors không đánh giá cao thị trường của dòng xe này. Bộ phận chiến lược thị trường cho rằng chẳng có quốc gia nào ngu ngốc đến mức bỏ ra ngần ấy tiền chỉ để mua một chiếc xe chữa cháy, thế nên họ chỉ sản xuất đúng hai chiếc xe mẫu. Muốn mua thêm thì phải đợi nửa năm.
Tần Thời Âu không muốn chờ đợi, nên đành mua hai chiếc xe chữa cháy "Đại Thủy Yêu" do Hungary sản xuất như đã nhắc ở trên. Loại xe này rẻ hơn nhiều, chỉ tốn 1,1 triệu đô Canada.
Nhìn Tần Thời Âu quẹt thẻ cho phía công ty Hungary, đại diện của General Motors không nhịn được nghiến răng chửi thề: "Cái bộ phận chiến lược thị trường ngu ngốc! Để lũ con hoang đó cút về ăn phân đi! Không ai mua ư? Là vì nó quá đắt khách thì có! Thượng đế nhất định sẽ trừng phạt chúng, ông đây đã mất bao nhiêu tiền hoa hồng rồi!"
Sau khi đã mua tên lửa chữa cháy và xe chữa cháy phản lực, Tần Thời Âu dừng việc mua sắm các thiết bị chữa cháy hạng nặng lại.
Xe tăng chữa cháy quả thực rất bá đạo, nhưng thứ đó trên biển thì chẳng có tác dụng gì, anh cũng chẳng hứng thú bỏ ra hơn một triệu đô Canada để mua một chiếc xe tăng về trưng trong sân. Đó không phải là đại gia, mà là kẻ thiểu năng.
Ngoài ra, Tần Thời Âu còn mua thêm một số súng phóng lựu chữa cháy. Loại vũ khí này dùng cho cá nhân, cách sử dụng tương tự súng phóng lựu thông thường, cũng là cải tiến phần đầu đạn thành chất dập lửa. Tần Thời Âu xem qua thấy tầm bắn của nó lên tới 1.500 mét, cũng đủ sức đối phó với những tàu đánh bắt trộm.
Mua xong súng phóng lựu chữa cháy, Tần Thời Âu lại tia mắt sang những thiết bị khác. Hamel phát hoảng, vội vàng kéo anh lại yêu cầu dừng tay.
"Tần, anh định đi đánh trận hay là chỉ dùng để phòng ngự như lời anh nói? Nếu chỉ là phòng ngự thì chừng này là đủ rồi, mua tiếp nữa là Cảnh sát Hoàng gia Canada sẽ đến điều tra chúng ta đấy!" Hamel sắp khóc đến nơi rồi.
Thế là Tần Thời Âu đành ngậm ngùi dừng tay.
Tuy nhiên, sau khi mua xong và tính toán lại, tổng số tiền mua sắm cộng với tiền thuế phải nộp sau này đã lên tới 10 triệu đô Canada. Nhưng anh không hối hận, "mài dao không lỡ việc đốn củi", có những vũ khí mang tính răn đe này mới có thể giữ cho ngư trường được bình an.
Thanh toán xong xuôi, phần còn lại là khâu giao nhận, việc này do Hamel chịu trách nhiệm, còn Tần Thời Âu thì trở về ngư trường trước.
Hệ thống radar cuối cùng cũng lắp đặt xong. Franco Stark đợi anh về rồi đưa anh lên tháp điều khiển ở sân bay. Radar có một màn hình hiển thị lớn, trên đó giống hệt như những gì ta thường thấy trên tivi: những vòng sáng nhấp nháy liên tục cùng một cây kim chỉ liên tục xoay tròn.
"Mỗi vòng xoay mất 60 giây, tức là cứ mỗi phút, radar sẽ quét 360 độ toàn bộ ngư trường của anh. Trừ khi là Tia Chớp (Flash) đến trộm cá, bằng không thì đừng hòng ai thoát khỏi sự giám sát của radar này." Franco giới thiệu.
Khi kim quét qua, trên màn hình xuất hiện những chấm nhỏ đại diện cho hai chiếc tàu cá, một chấm phát ánh sáng trắng, chấm còn lại thì bình thường.
Franco giải thích rằng, con tàu phát ra ánh sáng trắng chính là tàu chưa được radar ghi nhớ, hay nói cách khác là tàu lạ. Còn những tàu đã được đánh dấu, radar sẽ tự động bỏ qua khi quét, giống như con tàu bình thường kia vậy.
Tần Thời Âu cau mày nhìn màn hình, hỏi: "Nghĩa là con tàu chưa được đánh dấu này, trước đây chưa từng đến đảo Cáo Biệt?"
"Đúng vậy, thưa ông."
"Bird, đi kiểm tra xem con tàu đó thế nào." Tần Thời Âu cầm bộ đàm lên nói.
"Rõ, Boss." Giọng Bird vang lên qua bộ đàm. Ngay sau đó, trên màn hình radar lại xuất hiện những chấm nhỏ bình thường, rõ ràng là radar cũng đã ghi nhận chiếc trực thăng.
Hơn nửa tiếng sau, giọng Bird nhanh chóng truyền qua bộ đàm: "Boss, đó là một con tàu nghiên cứu khoa học. Mục tiêu của nó là ngư trường chúng ta, cách bến tàu khoảng 150 km."
Tàu nghiên cứu khoa học? Nghe vậy, tim Tần Thời Âu đập thình thịch. Tàu nghiên cứu đến ngư trường của mình làm gì? Chẳng lẽ một vài bí mật của ngư trường đã bị bại lộ rồi sao?! (còn tiếp)