Kiếp Người

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 406 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

100.

Thứ bảy. Hôm nay là ngày chàng đã hứa sẽ trả tiền nhà cho bà chủ. Suốt cả tuần, chàng mong đợi một việc gì đó xảy ra. Chàng không tìm được việc làm. Trước đây chàng chưa từng bao giờ bị dồn vào bước đường cùng như thế này cho nên chàng sửng sốt đến không còn biết làm gì nữa. Trong thâm tâm chàng có cảm giác rằng tất cả những chuyện này là một trò đùa ngớ ngẩn, chàng còn lại không quá mấy đồng xu, và đã bán hết số quần áo không dùng đến; chàng có mấy cuốn sách và vài thứ lặt vặt nếu đem bán cũng được vài silinh, nhưng bà chủ đã theo dõi tình hình đi, về của chàng, chàng sợ bị bà ta chặn lại nếu chàng đem cái gì ra khỏi phòng. Tốt nhất là để cho bà ta biết chàng không thanh toán nổi tiền nhà. Nhưng chàng không đủ can đảm. Đó là vào trung tuần tháng sáu. Đêm ấy trời đẹp và ấm. Chàng quyết định không về nhà, chàng chậm rãi cuốc bộ dọc theo đê Chelsea, con sông này vắng vẻ yên tĩnh, cho đến mệt nhoài, chàng mới ngồi ngủ gật trên một chiếc ghế tựa dài. Chàng không biết đã ngủ được bao lâu; chàng giật mình thức giấc khỏi cơn mơ đang bị cảnh Sát lay dậy bảo phải đi đi, chàng mở mắt chỉ thấy có một mình. Chàng lại tiếp tục đi, chẳng hiểu vì sao, cuối cùng chàng đến Chiswich, ở đây chàng lại ngủ. Được một lúc tấm ghế đá cứng làm chàng tỉnh dậy. Đêm dường như quá dài. Chàng rùng mình. Ý thức về cảnh nghèo khổ trĩu nặng trong lòng, chàng không hiểu mình sẽ phải làm cái quái quỉ gì đây. Chàng hổ thẹn phải ngủ trên bờ đê; điều này tựa như một chuyện nhục nhã khác thường, và trong đêm tối, chàng cảm thấy hai má đỏ bừng. Chàng nhớ lại những chuyện được nghe về những người đã trong cảnh này, trong đó có sĩ quan, giáo sĩ, những kẻ từng là sinh viên đại học, chàng tự hỏi không biết rồi đây, chàng có trở thành như họ, đứng sắp hàng xin cháo bố thí của nhà tế bần. Tốt hơn là nên tự sát, chàng không thể tiếp tục sống như vậy; Lawson có lẽ sẽ giúp chàng nếu như anh ta biết chàng đang trong cảnh vô hạn khổ cùng; để cho lòng tự trọng ngăn cản một yêu cầu tương trợ thì thật vô lý. Chàng tự hỏi tại sao chàng lại vấp ngã đau đớn thế. Chàng vẫn luôn cố gắng làm điều tốt nhất, thế mà mọi việc vẫn trong tình trạng tồi tệ, khi có khả năng, chàng giúp đỡ mọi người, chàng nghĩ mình không đến nỗi ích kỹ hơn bất kỳ kẻ nào khác, vậy mà lâm vào cảnh khó khăn thế này thì thật bất công đáng sợ.

Nhưng nghĩ như vậy chẳng có ích gì. Chàng tiếp tục bước đi. Trời đã sáng, trong cảnh tĩnh mịch, con sông trông thật đẹp; buổi sáng tinh mơ có cái gì đó huyền báo hiệu một ngày rất đẹp, bầu trời bình minh nhợt nhạt không một gợn mây. Chàng cảm thấy mệt nhoài, ruột đói cồn cào, nhưng không thể ngồi yên, lúc nào cũng lo sợ bị cảnh sát đến hỏi. Nếu bị như vậy thì thật nhục nhã. Chàng thấy người dơ dáy muốn đi tắm. Cuối cũng chàng đến tòa án Hampton. Chàng cảm thấy nếu không có gì ăn, chàng có thể khóc được. Chàng chọn một quán ăn rẻ tiền rồi bước vào, mùi thức ăn nóng khiển chàng lợm giọng buồn nôn, chàng muốn ăn một thứ gì đủ sống qua ngày, nhưng nhìn thấy thức ăn, chàng lại không muốn ăn. Chàng uống một chén trà, ăn một tí bánh mỳ và bơ. Lúc ấy chàng nhớ ra hôm nay là chủ nhật và chàng có đến gia định Athelny, chàng nghĩ tới món thịt bò nướng và món dồi đơn Yorkshire mà họ hay ăn, nhưng chàng mỏi mệt kinh khủng, không thể đối diện với cái gia đình hạnh phúc huyên náo này. Chàng thấy buồn rầu, khổ sở. Chàng muốn trơ trọi một mình, chàng quyết định rẽ vào trong công viên. Các đốt xương chàng đau nhức. Có lẽ chàng phải đi tìm máy nước để rửa mặt, chân tay, và uống một ít; chàng rất khát và lúc này không còn thấy đói, chàng vui vẽ nghĩ tới hoa, tới bãi cỏ, tới những cây đại thụ cành là sum suê. Chàng cho rằng ở đấy chàng trù tính tốt hơn sắp tới phải làm gì. Chàng nằm trên bãi cỏ, trong bóng mát và đốt một tẩu thuốc. Ðể tiết kiệm, từ lâu chàng đã hạn chế thuốc lá, một ngày chỉ hút hai lần; chàng khoan khoái thấy hầu bao còn đầy. Chàng không hiểu nếu túi không tiền thì người ta làm gì. Một lúc sau, chàng ngủ thiếp đi. Khi chàng thức giấc thì trời đã gần trưa; chàng tính phải lên đường trở về ngay Luân Ðôn, có mặt ở đó sáng mai để kịp trả lời một số quảng cáo tuyển dụng người làm xem ra có bề triển vọng. Chàng nghĩ tới ông bác đã từng bảo khi nào ông chết sẽ để lại cho chàng chút ít gia sản. Philip không biết tối thiểu nó là bao nhiêu, có thể không quá vài trăm bảng. Chàng phàn nàn không biết có thể vay mượn số tài sản thuộc quyền thừa kế này không? Không thể không có sự thỏa thuận của ông già được, mà ông cụ thì sẽ chẳng bao giờ đồng ý. Ðiều duy nhất mình có thể làm là cứ bám riết lấy bằng mọi giá cho đến khi ông cụ qua đời.

Philip tính tuổi bác. Cha sở xứ Blackstable đúng đã trên bảy mươi. Ông bị viêm cuống phổi kinh niên, nhưng đã có nhiều người già mắc bệnh kinh niên ấy mà vẫn sống đến dai dẳng mãi.

Trong khi chờ đợi chắc chắn một điều gì đó sẽ xảy ra, Philip không thể vứt bỏ cái cảm tưởng là tinh thần của chàng hoàn toàn khác thường, con người rơi vào hoàn cảnh đặc biệt của chàng, không thể chết đói được. Chàng không sao tin nổi những điều không may của chàng lại là chuyện có thật nên chàng hoàn toàn không chịu nản chí. Chàng quyết định mượn của Lawson nửa xô-vơ-ring. Cả ngày chàng ở trong công viên, khi nào thấy đói quá thì lấy thuốc ra hút. Chàng không muốn ăn gì cho tới khi nào lại lên đường đi Luân Ðôn; chàng phải giữ gìn sức khỏe vì đường còn xa. Chàng lên đường vào lúc trờ đã mát mẻ hơn, khi nào mệt mỏi thì chàng ngủ trên ghế đá. Không có ai quấy rầy chàng. Ở ga Victoria, chàng đã tắm rửa, đánh răng, cạo râu, uống trà ăn bánh mỳ với bơ, trong khi ăn, chàng đọc các mục quảng cáo trên báo buổi sáng. Khi nhìn xem các mục này, mắt chàng chú ý tìm một lời rao tìm nhân viên bán hàng tại quầy bán vải của một vài cửa hiện nổi tiếng. Chàng bỗng tái tê một cách lạ lùng, vì theo những định kiến của giới trung lưu của chàng thì làm nhân viên bán hàng là một việc dễ sợ, rồi chàng nhún vai - xét cho cùng thì điều đó có quan trọng - và chàng quyết định cứ thử xem sao. Chàng có một cảm giác kỳ quặc là bằng cách chấp nhận,thậm chí tự nguyện cam chịu mọi điều sỉ nhục, chàng đang thúc đẩy định mệnh. Chàng thấy hổ thẹn ghê gớm khi đến trình diện ở cửa hàng lúc chín giờ. Nhiều người đã có mặt ở đó trước chàng. Họ thuộc đủ mọi lứa tuổi cậu bé mười sáu tuổi cho đến những người bốn mươi; một vài người đang thì thầm trò chuyện nhưng phần đông là im lặng; khi chàng đến kiếm một chỗ ngồi, những người xung quanh gườm gườm nhìn chàng. Chàng nghe một người nói:

- Tôi chỉ mong đợi có một điều là người ta từ chối cho sơm sớm để tôi còn thì giờ đi đến chỗ khác.

Người đứng cạnh anh ta liếc nhìn Philip và hỏi:

- Anh có kinh nghiệm gì không?

- Không - Philip đáp.

Y ngừng một lát rồi đưa ra một nhận xét:

- Dù ăn trưa xong, nhưng nhà hàng nhỏ hơn cũng chẳng tiếp anh đâu nếu như không hẹn trước.

Philip nhìn những người giúp việc. Một số đang xếp những tấm vải hoa sặc sỡ và vải Crê-ton, một số khác - người đứng cạnh nói với chàng - đang chuẩn bị đơn đặt hàng của các tỉnh lẻ gửi đến qua đường bưu điện. Vào chín giờ mười lăm thì ông chủ đến. Chàng nghe một người đang đợi nói với một người khác rằng đó là ông Gibbons. Ông ta đã đứng tuổi, người thấp lùn to béo, râu đen, tóc đen bóng nhoáng, cử chỉ nhanh nhẹn, mặt mũi có vẻ thông minh. Ông đội mũ chóp cao, mặt áo choàng dài, ve áo được tô điểm bằng một đóa hoa phong lữ trắng có lá bao quanh. Ông bước vào văn phòng bé nhỏ chỉ có một cái bàn làm việc kiểu Mỹ đặt trong góc, một tủ sách và một tủ búp phê. Những người đứng bên ngoài nhìn ông thản nhiên tháo bông hoa phong lữ ra khỏi ve áo, và cắm vào một cái lọ đầy nước. Trong khi làm việc, không được phép mang hoa trên người .

Suốt cả ngày nhân viên cửa hàng ca ngợi bông hoa để lấy lòng chủ .

- Tôi chưa thấy bông hoa nào đẹp hơn thế này - Họ nói - Hoa nhà trồng có phải không ạ? - Vâng, đúng vậy - Ông mỉm cười đáp .

Cặp mắt thông minh sáng lên lộ rõ vẻ tự hào. Ông bỏ mũ, thay áo choàng, mắt liếc nhìn đống thư từ, rồi chuyển sang những kẻ đang chờ gặp ông. Ông khẽ vẫy ngón tay ra hiện, người đứng đầu trong hàng người nối đuôi bước vào văn phòng. Từng người một đi qua trước mặt ông, trả lời các câu ông hỏi, ông hỏi câu rất ngắn gọn, mắt nhìn thẳng vào mặt người xin việc.

- Tuổi? Nghề nghiệp gì? Vì sao bỏ việc? Ông nghe họ trả lời nét mặt thản nhiên. Đến lượt Philip, chàng cứ tưởng rằng ông Gibbons sẽ chăm chú tò mò nhìn mình. Quần áo Philip sạch gọn, cắt may kha khá, nom chàng có đôi chút khác những người kia - Nghề gi? - Tôi lấy làm tiếc tôi không có nghề gì - Philip đáp .

- Không tốt.

- Tôi lẩy làm tiếc tôi không có nghề gì - Philip đáp.

- Không tốt.

Philip bước ra khỏi văn phòng. Lần thử thách này không đến nỗi đau đớn hơn là chàng mong đợi nên chàng cảm thấy thất vọng gì lắm. Chàng không hy vọng lần đầu có thể tìm được việc ngay. Chàng còn giữ tờ báo và bây giờ chàng xem lại thông báo, ở Holnorn cũng có một cửa hàng đang cần người bán hàng và chàng đến đó; nhưng khi tới nơi, chàng thấy đã có người được chọn rồi. Hôm ấy nếu muốn có gì ăn, chàng phải đến xưởng vẽ Lawson trước lúc anh ta đi ăn trưa, vì vậy chàng theo địa lộ Brompton đến phố Yeoman.

- Này, cho đến cuối tháng thì mình túng quá - Vừa gặp được lúc thuận tiện, chàng nói ngay. - Ðang mong cậu sẽ cho mượn nửa đồng Xô-ve-ring được không?

Khi phải hỏi vay mượn tiền bạc, chàng thường thấy vô cùng khó khăn, chàng nhớ lại cái cảnh rất tự nhiên của những người trong bệnh viện trước đây đã bòn rút những số tiền nhỏ của chàng không có ý trả lại, họ coi như đấy là một đặc ân họ ban cho chàng.

- Sẵn lòng - Lawson đáp.

Nhưng khi thọc tay vào túi áo, anh ta thấy chỉ còn có tám silinh. Philip như nghẹt thở.

- Ồ, được, đưa tớ vay năm silinh vậy? Chàng nhẹ nhàng nói.

- Đây.

Philip đến nhà tắm công cộng ở Westminster, chỉ mất hai xu để tắm rửa. Sau đó chàng mua cái gì ăn. Chàng không biết đến chiều thì sẽ xoay xở ra sao. Chàng không trở lại bệnh viện e có người hỏi han lôi thôi, vả lại bây giờ chàng chẳng có việc gì làm ở đó. Trong vài ba phòng chàng làm việc, hẳn là người ta thắc mắc vì sao chàng không đến, nhưng chẳng sao, họ muốn nghĩ thế nào thì nghĩ, chàng đâu phải là anh sinh viên đầu tiên nửa chừng bỏ học không báo trước. Chàng đến thư viên công cộng xem báo chí cho đến chán mắt. Sau đó chàng lấy ra cuốn “Những đêm A-rập mới” của Stevenson, nhưng chàng không đọc được, lời lẽ trong cuốn sách không có nghĩa gì đối với chàng và chàng tiếp tục nghiền ngẫm về tình cảnh không nơi nương tựa của chàng. Cứ nghĩ mãi đến một chuyện như thế, sự chăm chú suy tư làm cho chàng nhức đầu. Cuối cùng thèm khát không khí mát mẻ, chàng đến công viên Xanh, nằm dài trên thảm cỏ. Chàng đau khổ nghĩ tới tật nguyền mà chàng không được ra đi chiến đấu. Chàng thiu thiu ngủ, chiêm bao thấy mình bỗng nhiên chân lành lặn, đang ở Cape trong một trung đoàn kỵ binh nghĩa dũng; những tấm tranh ở các họa báo chàng đã xem, giúp cho trí tưởng tượng của chàng giàu thêm hình ảnh, chàng thấy mình đang sống trên thảo nguyên Nam Phi, mặc quần áo ca ki cùng với nhiều binh sĩ khác ngồi quanh ngọn lửa trong đêm tối. Tỉnh dậy chàng thấy trời vẫn còn sáng. Sau đó chàng nghe tiếng chuông đồng hồ Bigbell điểm bảy tiếng. Chàng không biết làm gì cho hết mười hai giờ nữa. Chàng nghĩ tới đêm dài mà sợ. Bầu trời u ám, chàng lo sắp có mưa. Chàng sẽ phải đến nhà trọ kiếm giường nằm, chàng đã từng trông thấy người ta quảng cáo giường nằm bằng ánh sáng, bên ngoài các quán trọ ở Lambetth: giường tốt sáu xu; chàng chưa bao giờ trọ trong đó, và chàng khiếp sợ nghĩ lại mùi hôi hám và rận rệp. Chàng quyết định chừng nào còn được thì cứ ở ngoài trời. Chàng ở trong công viên mãi đến khi người ta đóng cửa, chàng bắt đầu ra ngoài đi loanh quanh. Chàng rất mệt. Chàng chợt nghĩ lúc này nếu xảy ra tai nạn có khi là chuyện may mắn, như vậy chàng mới được vào nhà thương được nằm trên giường bệnh sạch sẽ đến hàng tuần. Ðến nửa đêm đói quá, không có gì ăn, không còn bước nổi, chàng vào quán cà phê ở góc phố Hyde Park, ăn hai củ khoai và uổng một cốc à phê. Rồi chàng lại đi. Lòng dạ quá bồn chồn không sao ngủ được và chàng lo sợ ghê gớm bị cảnh sát xua đuổi. Chàng chợt nhận ra mình đã bắt đầu nghĩ về cảnh sát ở một góc cạnh hoàn toàn khác trước. Thế là chàng đã sống ngoài trời đến đêm thứ ba. Thỉnh thoảng chàng ngồi trên mấy dãy ghế ở Picadilly, và gần sáng chàng lại cuốc bộ xuống đường để cứ mười lăm phút chàng lại lắng nghe tiếng chuông đồng hồ Bigbell, và tính ra còn bao nhiêu lâu nữa thì đô thành mới thức giấc. Sáng ra chàng tiêu mấy xu để tắm rửa, mua một tờ báo để đọc mục quảng cáo và bắt đầu lại đi tìm việc làm.

Và cứ như vậy nhiều ngày tiếp tục trôi qua chàng ăn rất ít, bắt đầu cảm thấy ốm yếu vì vậy chàng khó mà còn đủ súc để đi tìm việc mà công việc thì xem chừng rất khó hy vọng. Bây giờ chàng đã quen dần với chuyện phải chờ đợi thật lâu sau một cửa hàng mong may ra có thể được nhận vào làm hoặc nghe lời một lời từ chối cộc lốc. Chàng đi khắp kinh thành Luân Đôn tới đủ mọi nơi quảng cáo thuê người làm và do đó chàng đã quen mặt rất nhiều Người xin việc cũng vô vọng như chàng. Một vài người đánh bạn với chàng, nhưng chàng quá mệt mỏi, quá khốn khổ không nhận lời cầu thân của họ. Chàng không đến Lawson nữa vì còn nợ của anh ta năm silinh. Ðầu óc bắt đầu mụ không còn suy nghĩ được tỉnh táo và đã thôi chẳng còn quan tâm đến tương lai. Chàng khóc nhiều. Thoạt đầu chàng còn giận mình, và cảm thấy hổ thẹn nhưng sau đó chàng nhận thấy khóc được làm cho lòng dịu vợi và không hiểu vì sao lại làm cho chàng cảm thấy đỡ đói. Vào những giờ sáng tinh mơ, chàng khổ sở vì lạnh. Một đêm chàng trở về phòng mình thay quần áo; lúc đó vào khoảng 3 giờ sáng, khi đã tin chắc hoàn toàn mọi người đã ngủ, chàng mới lẻn vào và đến năm giờ mới ra đi. Chàng sung sướng đến mê mẩn được nằm trên giường êm ấm, mình mẩy đau ê ẩm lại càng làm cho chàng khoái trá. Khoái trá đến nỗi không buồn ngủ nữa mà chỉ muốn nằm mãi. Chàng đã dần dần quen với cảnh thiếu ăn, nên không thấy đói lắm, mà chỉ yếu đi thôi. Trong thâm tâm chàng luôn nghĩ đến chuyện tự sát, nhưng chàng cố hết sức không để ý nghĩ đó dừng lại quá lâu bởi vì chàng lo sợ, sẽ bị sự cám dỗ này chi phối và như vậy thì chàng không còn đủ khả năng tự cứu lấy mình. Chàng vẫn thường tự nhủ tự sát là vô lý, bởi vì sự muộn thì sẽ cũng có một điều gì đó sẽ xảy ra. Chàng không thể gạt bỏ được cái ấn tượng rằng hoàn cảnh của chàng là hết sức trái với lẽ thường, và hoàn toàn không thể coi là chuyện có thật; nó tựa như một căn bệnh lâu dài nhưng nhất định rồi chàng sẽ bình phục. Ðêm nào chàng cũng thề thốt là không có gì bắt chàng chịu đựng một đêm như thế nữa và chàng quyết định sáng hôm sau sẽ viết thư cho ông bác, hoặc ông Nixon cố vấn pháp luật cho Lawson; nhưng sau đấy thì chàng lại không dám hèn hạ thú nhận sự thất bại hoàn toàn của mình, chàng hiểu Lawson sẽ tiếp nhận chuyện đó như thế nàoTrong tình bạn giữa hai người, Lawson là người vô ý tứ, và anh ta lấy làm tự hào về lương tri của mìnhChàng sẽ phải kể hết câu chuyện dại dột của mình. Chàng có cái cảm giác khó chịu là Lawson sau khi giúp đỡ chàng,sẽ đối xử lạnh nhạt với chàng. Bác chàng và ông cố vấn pháp luật dĩ nhiên sẽ làm một điều gì đó cho chàng, nghĩ đến những lời trách mắng của họ, chàng đâm ra sợ hãi. Chàng không muốn ai la mắng mình, chàng nghiến răng nhắc đi nhắc lại việc xảy ra là không thể tránh được, vì chính vì lẽ đó mà đã xảy ra. Hối tiếc là vô lý.

Ngày giờ kéo dài vô tận như không hết. Mà số tiền silinh Lawson cho mượn, không đủ chỉ dùng lâu hơn Philip nóng lòng trông đợi ngày chủ nhật để đến gia Athelny. Chàng không hiểu điều gì đã ngăn cản chàng đến đó sớm hơn trừ cái ý muốn nóng bỏng tự lo liệu lấy mọi sự. Bởi vì Athelny đã từng qua cảm cảnh khốn cùng, đã từng biết những giờ tuyệt vọng, là người duy nhất có thể làm cái gì đó giúp chàng. Có thể là sau khi ăn tối xong, chàng sẽ có thể nói được cho Athelny biết chàng đang gặp khó khăn. Philip nhẩm đi nhẩm lại những điều sẽ nói. Chàng rất lo sợ Athelny dùng lời hứa hão để thoái thác; nếu như ông ấy lại muốn thử thách chàng mà kéo dài càng lâu càng hay thì thật rất đáng kính sợPhilip đã mất hết lòng tin vào bạn bè.

Tối thứ bảy, trời lạnh căm. Philip rét run người. từ trưa thứ bảy cho đến lúc rã rời lê bước đến nhà Athelny, chàng không hề ăn gì. Sáng chủ nhật, chàng tiêu nốt hai xu cuối cùng vào việc tắm rửa tại nhà tắm công cộng ở Charing Cross.

ì hại đâu. - Ồ, thế cùng được. Bà Carey vào phòng làm việc. Sưu tầm sách là niềm say mê duy nhất của ông Carrey; bao giờ đến Tercanbury ông cũng mất vài giờ đồng hồ để đi xem các cửa hiệu sách cũ và lần nào ông cũng trở về với mấy quyển sác
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.