Kiếp Người

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 387 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

108.

Mùa đông đã qua. Thỉnh thoảng Philip lẻn đến bệnh viện cuối giờ làm việc, lúc ấy ít có khả năng gặp người quen, để xem có thư từ gì của chàng không. Vào dịp lễ Phục Sinh, chàng nhận được thư của ông bác. Chàng ngạc nhiên nhận được tin bác, bởi vì cha sở Blackstable cả đời không bao giờ viết cho chàng quá nửa tá thư và toàn là nói về công việc làm ăn.

Cháu Philip thân mến!

Nếu cháu có ý định sắp nghỉ phép và muốn xuống đây thì bác sẽ vui mừng gặp cháu. Trong mùa đông, bác rất ốm yếu về cái chứng viêm cuống phổi, bác sĩ Wigram cho rằng không chắc bác qua khỏi. Đội ơn Chúa, nhờ thể tạng phi thường, bác đã trở lại bình phục, thật là kỳ lạ.

Bác yêu mến của cháu

William Carey

Bức thư khiến Philip tức giận. Tại sao bác chàng lại nghĩ rằng chàng còn sống? Thậm chí chàng cũng chẳng mất công tìm hiểu. Có thể chàng đã chết đói mà ông già đâu có quan tâm. Nhưng trên đường về nhà, chàng chợt nảy ra một ý trong đầu. Chàng đứng lại dưới cột đèn, đọc lại bức thư, nét chữ không còn gọn gàng kiên quyết như xưa; chữ bây giờ to hơn và nét thì run run; có lẽ bệnh tật làm ông lo sợ, nhưng ông không dám thú nhận và có lẽ qua bức thư chiếu lệ này, ông có ý định bày tỏ lòng mong mỏi được gặp con người thân thuộc duy nhất trên cõi đời này. Philip phúc đáp rằng vào tháng bảy chàng có thể về Blackstable được khoảng hai tuần lễ. Chàng không biết làm gì trong đợt nghỉ ngắn ngày này, nên lời mời kia là thích hợp. Tháng chín gia đình Athelny bắt đầu thu hoạch hublông, nhưng thời gian ấy thì chàng lại bận, chàng vẫn còn phải chuẩn bị mẫu quần áo mùa thu. Theo lệ thường của cửa hàng Lynn dù muốn hay không, tất cả mọi người phải nghỉ phép nửa tháng; trong thời gian này nếu không đi đâu thì nhân viên có thể ngủ trong buồng mình, nhưng ăn uống phải tự lo liệu lấy. Đa số không có bạn bè quanh thành phố Luân Đôn, nên ngày nghỉ đối họ là một khoảng thời gian rắc rối, họ phải chi phí tiền ăn với đồng lương ít ỏi của mình, và thời gian thảnh thơi mà tiền lại không có để mà tiêu xài. Từ khi đi tham quan Brighton với Mildred tới nay đã được hai năm, chàng chưa một lần rời khỏi Luân Đôn. Chàng ao ước bầu không khí trong lành và khung cảnh tĩnh lặng của miền biển tháng năm tháng sáu, chàng mong đợi thiết tha đến nỗi cuối cùng đến lúc được ra đi thì chàng lại cảm thấy hững hờ.

Tối cuối cùng, khi chàng bàn với cửa hàng trưởng về một vài việc còn tồn đọng lại, bỗng ông Sampson hỏi chàng:

- Anh vẫn lĩnh lương bao nhiêu nhỉ?

- Sáu silinh.

- Tôi cho thế không đủ. Khi nào anh trở lại, tôi sẽ xem xét để nâng lên cho anh mười silinh.

- Xin cảm ơn ông vô cùng. - Philip mỉm cười trả lời. Tôi đang cần vài bộ quần áo mới.

- Nếu anh gắn bó với công việc, không đú đởn với đám con gái như mấy người trong bọn họ, tôi sẽ quan tâm đến anh, anh Carey. Anh chú ý nhớ, anh còn phải học tập nhiều, nhưng anh đầy triển vong - tôi phải bảo anh điều này - anh đầy triển vọng, tôi sẽ lo liệu cho anh lĩnh mỗi tuần một bảng ngay khi nào anh xứng đáng với số tiền đó.

Philip tự hỏi chàng phải chờ đợi bao lâu nữa mới được số lương ấy. Hai năm chăng?

Chàng giật mình trước sự thay đổi của bác trai. Lần trước gặp bác, chàng thấy ông còn béo mập, đứng thẳng người, mày râu nhẵn nhụi, hai má phinh phính đầy ham muốn, nhưng hôm nay, trông ông suy sụp một cách kỳ lạ, đa ông vàng bủng, phía dưới mắt có những chỗ húp lên to, bác già hẳn đi, lưng còng xuống. Trong trận ốm gần đây, ông già để râu mọc dài, và đi đứng hết sức chậm chạp.

- Hôm nay bác không được khỏe - ông nói lúc Philip vừa tới, đang ngồi với ông trong phòng ăn - Trời nóng bức, làm bác lại khó chịu.

Philip hỏi thăm công việc của giáo khu, chàng nhìn bác tự hỏi liệu ông còn sống thêm được bao nhiêu lâu nữa. Một mùa hè nóng bức là ông sẽ ra đi. Philip nhận thấy hai bàn tay ông sao mà xương xẩu; chúng cứ run rẩy. Điều đó có ý nghĩa nhiều lắm đối với chàng. Nếu ông cụ nằm xuống vào dịp hè này thì chàng có thể trở lại bệnh viện vào đầu học kỳ mùa đông; nghĩ đến việc không trở lại nhà hàng Lynn nữa, lòng chàng rộn ràng sung sướng. Đến bữa ăn, cha sở ngồi gù lưng trên ghế, bà quản gia ở với ông từ ngày vợ ông mất, nói:

- Thưa ông, để ông Philip cắt bánh thịt chứ ạ?

Không muốn thú nhận tình trạng ốm đau của mình, ông lão sắp sửa làm cái công việc đó, liền tỏ ra vui mừng khi có lời đề nghị đầu tiên giúp mình khỏi phải gắng sức.

- Bác ăn có ngon miệng chứ? Philip hỏi.

- Ồ, phải, bác vẫn ăn được, nhưng bây giờ bác gầy hơn cái dạo cháu về lần trước. Gầy hơn là bác mừng. Bác không thích béo quá. Bác sĩ Wigram cho rằng giá gầy hơn bây giờ thì càng tốt.

Khi bữa ăn xong, bà quản gia đem ít thuốc cho ông uống.

- Đưa cái đơn thuốc cho Philip xem - ông ta bảo - Anh ấy cũng là bác sĩ đấy. Tôi muốn anh ấy xem như thế có được không. Tôi đã cho bác sĩ Wigram biết anh đang học để trở thành bác sĩ, ông ấy phải giảm bớt tiền thù lao. Nhưng hóa đơn tôi phải thanh toán mới thật là sợ chứ. Ngày nào ông ấy cũng đến liền trong hai tháng, và cứ mỗi lần thăm bệnh là ông ấy tính năm silinh. Bao nhiêu tiền phải không? Hiện nay ông ấy vẫn còn đến mỗi tuần hai lần. Tôi sẽ bảo ông ấy không cần phải đến nữa. Khi nào cần, tôi sẽ cho mời.

Ông ấy háo hức nhìn Philip trong khi chàng đọc đơn thuốc. Toàn là thuốc ngủ, trong đó còn hai thứ, một thứ thì cha sở giải thích là chỉ dùng khi nào bị đau dây thần kinh không chịu được.

- Tôi rất cẩn thận - ông nói - tôi không muốn nhiễm phải thói quen dùng thuốc phiện.

Ông không đả động đến công việc của cháu ông. Philip nghĩ đó là cách đề phòng chàng đòi hỏi tiền nong, nên ông cứ day đi day lại mãi những yêu cầu về tài chính mà ông phải cáng đáng. Nào là bác phải tiêu pha nhiều như thế nào cho bác sĩ, nhiều hơn thế nữa cho người bán dược phẩm, bào là trong lúc đau ốm, ngày nào phòng ngủ cũng phải đốt lò sưởi, và bây giờ chủ nhật ông cần phải có xe ngựa đưa đến nhà thờ buổi sáng cũng như buổi tối. Philip tức giận, chàng định bảo: “Bác không việc gì phải lo, cháu sẽ không vay mượn của bác đâu,” nhưng chàng nín lặng. Đối với chàng dường như con người già nua này đã mất hết trừ hai thứ: Thú vui được ăn uống và lòng tham tiền, ôi cái tuổi già gớm ghiếc!

Chiều hôm ấy, bác sĩ Wigram đến khám bệnh và sau đó, Philip đi với ông bác sĩ ra cổng vườn.

- Ông thấy bác ấy thế nào? Philip hỏi.

Bác sĩ Wigram lo lắng sao cho công việc đúng đắn, không phạm sai lầm, nhất là không phạm sai lầm, nếu tránh được thì ông không bao giờ đánh bạo đưa ra ý kiến rõ ràng. Ba mươi lăm năm trong nghề ở Blackstable, ông có tiếng là hết sức thận trọng, nhiều bệnh nhân của ông cho rằng một bác sĩ thận trọng còn tốt hơn nhiều so với một bác sĩ tài giỏi. Có một bác sĩ mới đến làm ăn sinh sống ở Blackstable từ mười năm nay, nhưng thiên hạ xem y như khách không mời mà đến, người ta đồn y rất giỏi, nhưng y không nhiều khách hàng trong đám người khá giả bởi vì không ai thực sự hiểu biết gì về y.

- Ồ, cũng khá - Bác sĩ Wigram trả lời câu hỏi của Philip.

- Bác ấy có gì trầm trọng không?

- Thế đấy, anh Philip, bác anh không còn là thanh niên nữa - bác sĩ đáp, mỉm cười thận trọng khiến người ta cũng nghĩ rằng, nói cho cùng thì cha sở Blackstable cũng không phải là một ông già.

- Dường như bác ấy cho tim bác không được ổn?

- Về tim ông ấy thì tôi không hài lòng - bác sĩ đánh bạo nói - Tôi nghĩ rằng ông ấy phải cẩn thận, hết sức cẩn thận mới được.

Philip cứ định hỏi: bác ấy còn sống được bao lâu? Nhưng chàng thấy hỏi điều đó nghe thật chướng tai. Trong những vấn đề như vậy, cách nói loanh quanh mới hợp phép lịch sự, nhưng tuy đáng lẽ chàng hỏi một câu nữa, chàng chợt nghĩ ra là bác sĩ hẳn đã quen với sự xót ruột của bản thân người bệnh, phải nhìn thấy thấu những biểu lộ tình cảm của họ. Mỉm cười về thái độ đạo đức giả của mình, Philip cúi mặt nhìn xuống.

- Trước mắt thì không có gì nguy hiểm chứ?

Bác sĩ rất ghét loại câu hỏi này, nếu bảo người bệnh không thể sống đến một tháng nữa thì bản thân gia đình phải chu đáo chuẩn bị một sự tổn thất, và nếu lúc đó, người bệnh vẫn sống, thì người nhà đổ lên đầu thầy thuốc nỗi oán giận đã làm cho họ đau khổ khi chưa cần thiết. Mặt khác, bảo người bệnh có thể sống một năm, thế mà trong một tuần lễ người ta đã chết, thì người nhà họ sẽ bảo anh chẳng hiểu biết gì về nghề nghiệp của mình. Nếu họ biết cái chết gần kề, thì họ nghĩ tới tất cả tình cảm dồi dào dành cho người quá cố. Bác sĩ Wigram làm động tác phủi tay.

- Tôi cho rằng không có gì rủi ro nghiêm trọng chừng nào ông ta vẫn như hiện nay - cuối cùng bác sĩ đánh bạo nói - Nhưng mặt khác, chúng ta không được quên rằng ông ta không còn là thanh niên nữa, thế đấy, như máy móc cũ kỹ rồi ấy mà. Nếu ông ta vượt qua được thời tiết nóng bức này, thì tôi không hiểu tại sao ông ta không sống để chịu tới mùa đông, và nếu như mùa đông không quấy rầy ông nhiều quá thì tại sao việc gì sẽ phải xảy ra.

Philip trở về phòng ăn, nơi bác chàng đang ngồi. Với cái mũ chỏm đội đầu, cái khăn choàng trên vai đan bằng kim móc, ông già có vẻ lố bịch. Ông nhìn chằm chằm ra cửa, và lúc Philip đi vào, ông nhìn thẳng vào mặt chàng. Philip hiểu rằng bác đang lo lắng chờ chàng trở lại.

- Sao, bác sĩ nói gì về bác?

Philip hiểu ngay là ông già này sợ chết. Điều đó làm cho Philip cảm thấy hơn ngượng; bất giác chàng nhìn ra chỗ khác. Bản chất yếu đuối của con người thường khiến chàng lúng túng.

- Ông ta bảo bác đã khỏe hơn nhiều - Philip đáp - Cặp mắt ông già ánh lên một chút vui mừng.

- Bác được cái thể trạng kỳ diệu - bác trai nói - ông ấy còn nói gì nữa không? - bác ngờ vực nói thêm.

Philip mỉm cười.

- Ông ấy bảo nếu bác giữ gìn sức khỏe thì không có lý gì mà bác lại không sống tới một trăm tuổi.

- Bác không mong sống đến thế, nhưng sao lại không tới tám mươi được. Bà mẹ bác thọ tới tám mươi tư mà.

Cạnh ghế ngồi của cha sở, có chiếc bàn con trên đó để cuốn kinh thánh và một tập to kinh cầu nguyện phổ thông mà nhiều năm nay ông có thói quen đọc cho cả nhà. Bây giờ ông với cánh tay run run ra cầm lấy cuốn kinh thánh.

- Các vị trưởng lão ngày xưa sống mới dai khiếp chứ nhỉ? - Cha sở nói, rồi khe khẽ cười kỳ quặc, cái cười theo Philip phỏng đoán, ngụ ý một niềm mong ước rụt rè.

Ông già này bám lấy cái sống. Vậy mà ông tuyệt đối tin tưởng tất cả mọi điều tôn giáo ông đã dạy. Ông tin linh hồn là bất tử, ông thấy rằng theo khả năng mình, ông đã ăn ở khá tử tế, thì rất có thể kết luận nhất định ông lên Thiên đường. Trong đời hoạt đồn lâu dài của ông, ông đã phân phát những lời an ủi tôn giáo này cho bao nhiêu người chết! Có lẽ ông cũng giống vị bác sĩ kia, chính mình đã kê đơn cho thuốc, nhưng chẳng thu được lợi lộc gì. Philip lấy làm bối rối và căm phẫn thấy ông già hăm hở bám lấy chặt trần gian. Chàng phân vân tự hỏi điều khủng khiếp không tên nào đang ẩn náu trong đầu óc ông già. Chàng những mong muốn đi sâu vào tâm hồn ông để thăm dò, để ngắm, nhìn thật trần trụi, sự lo sợ ghê gớm đó.

Nửa tháng qua nhanh và Philip trở lại Luân Đôn. Suốt tháng tám oi ả. Sau tấm màn che trong gian hàng bày quần áo, mặc áo sơ mi cộc tay, chàng cặm cụi ngồi vẽ. Những nhân viên bán hàng theo ca kíp, đều đi nghỉ phép. Tối đến Philip thường vào công viên Hyde Park nghe hòa nhạc. Dần dần quen việc, chàng thấy ít mỏi mệt hơn và tâm trí chàng sau một thời gian dài trì trệ, nay đã ổn định và đi vào những hoạt động mới. Toàn bộ ao ước của chàng lúc này tập trung vào cái chết của ông bác. Chàng vẫn mơ giấc mơ như thế một sáng sớm, chàng sẽ nhận được điện báo tin cha sở qua đời đột ngột, và thế là tự do, chàng đã nắm được trong tay. Khi thức dậy, không thấy gì ngoài giấc mơ, chàng điên cuồng tức giận. Sự việc này dường như có thể xảy ra bất kỳ lúc nào. Chàng bận rộn với những kế hoạch tỉ mỉ về tương lai. Bây giờ đây, theo kế hoạch, chàng sẽ nanh chóng bỏ qua một năm chàng phải dùng trước đây, mà chàng vẫn có thể thi đỗ tốt nghiệp và chàng dừng lại ở chuyến du lịch sang Tây Ban Nha mà lòng chàng đã quyết. Chàng nghiên cứu những sách báo mượn ở thư biện không phải trả tiền, nói về xứ sở này, và nhờ các ảnh chụp mà chàng đã biết chính xác quang cảnh của mỗi thành phố. Chàng đã thấy mình la cà ở Cordova trên cái cầu bắc qua sông Guadalquivir, lang thang qua các đường phố quanh co của Toledo, đến ngồi trong các nhà thờ, nơi chàng moi ra các bí quyết của El Greco mà chàng cảm thấy nhà họa sĩ bí ẩn này giữ kín cho mình. Athelny thông cảm với tâm trạng của chàng. Những buổi chiều chủ nhật, để cho Philip không bỏ sót điều gì đáng ghi nhớ, họ lên kế hoạch hành trình tỉ mỉ. Để khỏi sốt ruột, Philip bắt đầu tự học tiếng Tây Ban Nha và đêm đêm trong phòng khách vắng vẻ ở phố Harrington chàng để ra một tiếng để làm bài tập tiếng Tây Ban Nha và về phía mình, chàng đã dịch được những câu văn tuyệt diệu trong Don Quixote sang tiếng Anh. Mỗi tuần một lần Athelny dạy cho chàng một bài học và Philip học được một số câu để giúp chàng trong cuộc hành trình. Bà Athelny cười diễu hai người.

- Ối! Trời ơi, hai ông cứ luẩn quẩn với cái tiếng Tây Ban Nha nhà các ông mãi! Nào các ông, tại sao các ông không làm một cái gì có ích hơn nhỉ?

Nhưng Sally, lúc này đang độ trưởng thành, sắp búi tóc như người lớn vào dịp lễ Thiên Chúa giáng sinh, thỉnh thoảng đứng bên anh nghiêm trang lắng nghe, trong khi cha nàng và Philip trao đổi bình luận với nhau bằng một thứ tiếng mà nàng không hiểu. Nàng cho bố là con người phi thường từ trước đến giờ chưa từng thấy và nàng chỉ nhận xét Philip qua ý kiến của bố.

- Bố bảo rằng số chú Philip khá lắm đấy - Nàng nhận xét như thế với lũ em trai và em gái.

Thorpe, đứa lớn nhất đã đủ tuổi để làm thủy thủ trên tàu Arethusa, và Athelny, bằng cách mô tả diện mạo đẹp đẽ của chàng trai khi mặc quân phục về nhà nghỉ phép đã làm cho cả nhà khoái trá. Vừa bước vào tuổi mười bảy, Sally đã đi học nghề may quần áo phụ nữ. Vẫn cái kiểu nói năng hoa mỹ, Athelny nói về những con chim này đã đủ khả năng bay nhảy, đang bắt đầu rời tổ ấm của cha mẹ; và rưng rưng nước mắt, ông bảo bất cứ lúc nào chúng muốn quay về thì cái tổ ấm kia vẫn còn đó. Tổ ấm đấy và cơm ăn vẫn đấy cứ mãi mãi là của chúng, tấm lòng người cha sẽ chẳng bao giờ khép lại trước nỗi lo cho đàn con.

- Ông Athelny, ông nói quá - bà vợ bảo - Tôi không hiểu chúng nó có thể chuốc vào những lo lắng gì nếu chúng vững vàng chín chắn. Chừng nào người ta sống lương thiện, không sợ lao động, thì không đời nào người ta bị thất nghiệp, ấy là tôi nghĩ như vậy, tôi có thể khẳng định với ông tôi sẽ không buồn phiền khi trông thấy thằng em út chúng nó tự kiếm lấy mà sống.

Do sinh đẻ nhiều, lao động vất vả, thường xuyên lo âu đã vắt kiệt sức bà Athelny; tối đến, lắm lúc bà đau lưng phải ngồi xuống nghỉ ngơi. Hạnh phúc lý tưởng của bà là được một người đầy tớ gái đảm đương công việc nặng nhọc để bà không phải dậy sớm trước bảy giờ. Ông Athelny hoa hoa bàn tay đẹp trắng.

- Ối, bà Betty, bà và tôi, chúng ta đáng được nhà nước khen thưởng. Chúng ta nuôi dạy được chín đứa con khỏe mạnh, mấy thằng con trai thì sẽ phục vụ nhà vua, còn mấy đứa con gái, chúng sẽ lo việc bếp núc và may vá, rồi đến lượt chúng, chúng lại chăm sóc cho con cái khỏe mạnh. Quay sang Sally, nhằm an ủi nàng và giảm bớt sự trái ngược này, ông ta bằng một giọng khoa trương nói thêm: “Chúng nó chỉ phục vụ người nào biết vững vàng chờ đợi.”

Gần đây, Athelny còn thêm cả chủ nghĩa xã hội và một mớ các lý thuyết mâu thuẫn khác mà ông tin tưởng mãnh liệt vào bây giờ ông tuyên bố:

- Trong một nước xã hội chủ nghĩa, bà và tôi, chúng ta sẽ được trả lương hưu dồi dào, bà Betty ạ.

- Chao ôi! Đừng có nói với tôi về những người theo chủ nghĩa xã hội của các ông. Tôi không kiên nhẫn được với họ đâu - bà nói to - Điều đó chỉ có nghĩa là một bọn chơi dong lười nhác như nhau kiếm chác ở mọi tầng lớp lao động. Phương châm của tôi là: Hãy để mặc tôi. Đừng có ai can thiệp vào chuyện của tôi, tôi sẽ vẫn vui vẻ cố gắng trong cái cuộc đời chó má này và khôn thì sống mống thì chết.

- Bà gọi cuộc sống này là chó má ư? Athelny nói - Không đời nào - chúng ta đã trải qua cảnh thăng trầm của cuộc đời, chúng ta đã phải vật lộn, lúc nào chúng ta cũng vẫn nghèo khổ, nhưng cuộc đời này là đáng sống, đúng vậy, một trăm lần đáng sống, cứ mỗi lần nhìn các con là tôi tuyên bố như vậy.

- Ông Athelny, ông cứ việc nói - bà nhìn chồng không giận dữ nhưng nói với một sự điềm tĩnh đầy khinh miệt. Đối với lũ trẻ, thì ông được hưởng phần vui thú, còn tôi, tôi phải mang nặng đẻ đau, tôi phải chịu đựng đau khổ vì chúng. Tôi không bảo là không yêu thương chúng, bây giờ chúng còn cả đây, bây giờ nếu được làm lại từ đầu, thì tôi sẵn sàng ở vậy. Vì sao? Nếu chẳng chồng, chẳng con, thì bây giờ tôi có hể có một cửa hàng nho nhỏ, có bốn, năm trăm bảng gửi ngân hàng và một cô gái giúp việc làm những công việc nặng nhọc. Chao ôi! Có các vàng tôi cũng chẳng chuốc lấy cái cuộc sống này nữa đâu!

Philip nghĩ tới hàng triệu triệu người, cuộc đời họ không hơn gì là lao động liên miên, chẳng đẹp cũng chẳng xấu, nhưng họ đành phải chấp nhận nó như chấp nhận bốn mùa thay đổi. Chàng bừng bừng phẫn nộ, bởi vì biết thảy mọi sự đều dường như vô ích. Chàng vẫn không thể cam chịu với niềm tin đời là vô nghĩa, vậy mà tất cả mọi vật chàng trông thấy, tất cả những suy nghĩ của chàng lại càng củng cố niềm tin ấy. Nhưng dù chàng có nổi giận thì sự giận dữ đó cũng mang lại niềm vui. Đời không đáng ghét như vậy nếu đời là vô nghĩa, và với một ý thức kỳ lạ về sức lực, chàng đương đầu với nó.

ì hại đâu. - Ồ, thế cùng được. Bà Carey vào phòng làm việc. Sưu tầm sách là niềm say mê duy nhất của ông Carrey; bao giờ đến Tercanbury ông cũng mất vài giờ đồng hồ để đi xem các cửa hiệu sách cũ và lần nào ông cũng trở về với mấy quyển sác
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.