Kiếp Người

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 397 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

103.

Bà Athelny cho Philip mượn đủ tiền trả chủ nhà để chàng dọn đồ đạc đem đi. Với năm silinh và phiếu cầm đồ com lê, chàng có thể mua của hiệu cầm đồ một cái áo choàng rất vừa. Còn những quần áo khác thì chàng chuộc lại. Chàng nhờ Carter Paterson gửi rương hòm đến phố Harrington, và sáng ngày thứ hai thì chàng đến cửa hàng này, với Athelny. Athelny giới thiệu và để chàng ở lại với cửa hàng trưởng. Y tên là Sampson, ba mươi tuổi, người nhỏ bé, vui vẻ, y bắt tay Philip, và để chứng tỏ tài năng của chính mình mà y rất đỗi tự hào, y hỏi chàng có nói tiếng Pháp được không. Y lấy làm ngạc nhiên khi Philip cho biết là chàng nói được.

- Còn tiếng nào khác nữa?

- Tôi nói được tiếng Đức.

- Ồ chính tôi thỉnh thoảng cũng có sang Pari - Parlez vous francais (anh nói tiếng Pháp được chứ?). Đã từng ở nhà hàng Maxim chưa?

Philip được bố trí vào quầy y phục ở đầu cầu thang. Công việc của chàng là hướng dẫn khách đến các khu trưng bày hàng may mặc. Nghe Sampson đọc danh sách thì có rất nhiều khu. Bỗng y để ý thấy Philip đi khập khiễng.

- Chân anh làm sao thế? - Y hỏi.

- Tôi bị thọt một chân - Philip đáp - Nhưng tôi vẫn đi bộ hoặc làm việc gì tương tự đều được.

Y ngần ngại nhìn chân chàng một lúc, Philip đoán là y đang tự hỏi vì sao viên quản đốc lại nhận chàng vào làm việc. Philip hiểu rằng y không cho đó là cái gì quan trọng.

- Ngày đầu tôi không chắc anh nhớ hết tất cả, nếu nghi ngờ điều gì, anh hỏi các cô.

Rồi Sampson quay đi, Philip cố nhớ gian hàng này, gian hàng nọ ở đâu, chàng lo lắng để ý khách hàng đang tìm hiểu những điều chỉ dẫn. Đến một giờ chàng đi ăn trưa, phòng ăn trên tầng thượng của tòa nhà đồ sộ này là một phòng dài, rộng, thắp đèn sáng choang, nhưng mọi cửa sổ đều đóng kín để tránh bụi bặm, một mùi nấu bếp xông lên khó chịu. Trên những chiếc bàn dài đều có khăn trải, những chai nước to bằng thủy tinh để cách quãng. Ở quãng giữa là những lọ muối và những chai dấm. Nhân viên cửa hàng ồn ào lũ lượt kéo vào, ngồi trên những dãy ghế dài còn ấm hơi nóng của những người đến, ăn lúc mười hai giờ rưỡi.

- Không có dưa món rồi - người ngồi cạnh Philip nhận xét.

Y là một người trai trẻ cao gầy, mũi cong như cái móc, mặt xanh xao, đầu dài hình gồ ghề như cái đầu lâu có những chỗ lồi lõm trông thật kỳ quặc, còn trán và cổ thì đầy những mụn trứng cá đỏ và sưng tấy. Tên y là Harris. Philip nhận thấy có ngày những dĩa ăn xúp to ở cuối bàn đựng đầy dưa món pha trộn. Món này rất được mọi người ưa thích. Chưa có dao, nĩa nhưng một lát thì gã đầy tớ trai to béo mặc áo choàng trắng đi vào đem hai nắm dao và nĩa vứt loảng xoảng ở giữa bàn. Ai muốn lấy cái nào tùy ý. Những dao nĩa đó vừa mới được rửa trong nước bẩn, còn nóng ấm và dính mỡ. Mấy cậu bồi mặc vét tông trắng đi một vòng chuyền tay nhau phục vụ món thịt hầm lềnh bềnh trong đĩa nước xốt, họ đặt dĩa xuống bàn với cử chỉ nhanh nhẹn của người làm trò ảo thuật khiến cho nước xốt sánh ra trên khăn trải. Sau đó họ bưng tới những dĩa cải bắp to khiến Philip buồn nôn khi nhìn thấy những thức ăn này. Chàng để ý thấy mọi người rưới dấm chua lên trên. Một cảnh tượng ồn ào náo nhiệt, người ta nói, cười, hò hét, tiếng dao, tiếng thìa, nĩa kêu loảng xoảng, tiếng nhai thức ăn ngấu nghiến.

Philip sung sướng trở lại gian hàng. Chàng bắt đầu nhớ lại vị trí từng gian, và khi có người muốn biết đường, chàng ít phải hỏi người giúp việc.

- Thưa bà, gian thứ nhất ở phía tay phải, rẽ sang trái là gian thứ hai.

Khi quần áo ế ẩm, một vài cô nhân viên mới ngỏ với chàng đúng một lời và chàng cảm thấy họ đang tìm hiểu khả năng, tính tình của chàng. Đến năm giờ, chàng lại lên phòng ăn uống trà. Chàng vui vẻ ngồi xuống. Những lát bánh mì phết đầy bơ đã bày sẵn. Nhiều người còn lấy trong “kho” ra những lọ mứt có ghi tên họ của mình.

Đến sáu giờ rưỡi, khi nghỉ việc Philip đã mệt nhoài, Harris ngồi cạnh chàng trong bữa ăn, tỏ ý muốn dẫn chàng đến phố Harrington để chỉ chỗ ngủ cho chàng. Y cho Philip biết các phòng đã chật hết chỗ, trong phòng y còn thừa một giường và Philip có thể thu xếp để ở đấy. Hãng buôn ở phố Harrington nguyên là một hiệu đóng giày ống, cửa hàng thì dùng làm phòng ngủ, rất tốt vì cửa sổ ba phần bít ván nên sự thông gió chỉ nhờ vào một cửa sổ con ở tít cuối trần nhà. Một mùi mốc xông lên và Philip lấy làm mừng là không phải ngủ ở đấy. Harris đưa chàng lên phòng khách trên gác hai, ở đây, có một chiếc đàn dương cầm cũ kỹ, phím trông như một hàng răng sâu, trên bàn có một hộp thuốc xì gà không nắp để bộ cờ đô-mi-nô; mấy số báo cũ The Strand Magazine và The Graphics vứt rải rác đây đó. Các phòng khác đều dùng làm phòng ngủ. Phòng ngủ của Philip ở tận trên cùng tòa nhà, có sáu giường, cạnh mỗi giường để một cái rương hoặc một cái va li. Đồ đạc duy nhất là một chiếc tủ com mốt có bốn ngăn kéo lớn và hai ngăn kéo nhỏ. Philip là người mới đến, được một ngăn, các ngăn đều có chìa khóa, nhưng cái nào cũng giống cái nào nên ít khi dùng đến, và Harris khuyên chàng cất giữ đồ đạc quý giá trong rương. Trên mặt lò sưởi có gương soi. Harris chỉ cho Philip phòng rửa mặt và một phòng khá rộng lớn có một dãy tám phòng tắm. Tất cả những người ở cùng nhà tắm rửa ở đây. Phòng này ăn thông qua một phòng khác có hai bồn tắm, lớp men sứ bên ngoài đã biến màu, phần gỗ thì dính xà phòng bẩn thỉu, trong bồn có những vạch sẫm của mức nước các lần trước.

Khi Harris và Philip trở về phòng ngủ, họ gặp một gã người cao đang thay quần áo và một cậu bé mười sáu tuổi vừa chải đầu vừa ra sức huýt sáo. Chỉ sau một vài phút người đàn ông cao kia đi ra, không nói một lời với ai, Harris nháy mắt ra hiệu cho cậu bé, còn cậu bé thì vẫn huýt sáo nháy mặt ra hiệu đáp lại. Harris cho Philip biết gã kia tên là Prier, trước đây gã phục vụ trong quân đội, bây giờ là nhân viên gian hàng tơ lụa. Gã hầu như không giao du với ai, nhưng tối nào cũng chuồn khỏi nơi này như thế, không một lời chào hỏi, để đi gặp tình nhân. Harris cũng đi ra ngoài, chỉ còn cậu bé ở lại tò mò nhìn Philip đang tháo mở đồ đạc. Cậu bé tên là Bell, làm không công trong gian hàng bán tạp phẩm. Cậu rất khoái bộ lễ phục của Philip. Cậu cho chàng biết về những người khác trong phòng và hỏi đủ mọi thứ chuyện về chàng. Cậu là một thanh niên vui tính, thỉnh thoảng giữa câu chuyện, bằng cái giọng rè rè đã vỡ, cậu hát lên những khúc hát của nhà hát ca múa nhạc. Dọn dẹp xong đồ đạc, Philip ra đi bách bộ ngoài đường, nhìn đám đông. Thảng hoặc chàng đứng lại ngoài cửa khách sạn, nhìn thiên hạ đi vào. Thấy đói bụng, chàng mua cái bánh bao, vừa đi, vừa ăn. Người quản lý số nhà giao chàng một chìa khóa vạn năng. Ông này tắt đèn vào lúc mười một giờ mười lăm nhưng Philip sợ cửa khóa không vào được nên chàng về đúng giờ, chàng biết được thể thức nộp tiền phạt, nếu anh về sau mười một giờ anh phải nộp phạt một silinh, quá mười lăm phút phải nộp phạt nửa cua-rôn, ngoài ra anh được báo trước là nếu phạm lỗi ba lần thì anh bị đuổi.

Trừ người lính kia, còn lại mọi người đã ở trong nhà khi Philip trở về. Hai người đã lên giường.

- Chà, Clarence, thằng bé hư hỏng.

Chàng phát hiện cậu bé Bell lấy bộ lễ phục của chàng ra mặc vào cái gối đầu giường. Thằng bé khoái trá với trò đùa của nó.

- Này Clarence, mày nên diện bộ ấy vào dịp dạ hội.

- Giá mà hắn không thận trọng thì hắn đã tóm lấy người đẹp ở nhà hàng Lynn rồi đấy.

Philip từng nghe nói về các buổi dạ hội, số tiền lương trích ra để trang trải cho các đêm đó là một bất bình của nhân viên. Mỗi tháng trừ hai silinh bao gồm y tế phí và tiền sử dụng tủ sách tiểu thuyết cũ rích, ngoài ra còn trừ bốn silinh cho việc tắm giặt. Philip nhận thấy chàng sẽ không bao giờ nhận được một phần tư của số sáu silinh hàng tuần.

Phần đông người ta ăn bánh mì nhỏ cắt làm hai ở giữa nhồi những miếng thịt mỡ lợn muối, xông khói to tướng. Những bữa cơm tối thường lệ của đám nhân viên giúp việc gồm những bánh xăng-uých do một cửa hàng nghèo khổ cách đó vài ba nhà cung cấp, giá hai xu rưỡi một suất.

Người lính nọ xồng xộc bước vào, im lặng nhanh chóng cởi quần áo và nằm vật xuống giường. Đến mười một giờ mười phút thì đèn khí sáng bừng lên và năm mươi phút sau thì tắt hẳn. Người lính đi ngủ, còn những kẻ khác mặc py-ja-ma áo ngủ tụ tập quanh cái cửa sổ lớn, reo hò cười đùa ném những mẩu bánh thừa xuống đám đàn bà con gái đang đi dưới đường. Tòa nhà đối diện cao sáu tầng gác là một xưởng cho những thợ may Do Thái, họ nghỉ việc lúc mười một giờ, các phòng đèn thắp sáng choang, và không có màn che cửa sổ. Con gái ông chủ (gia đình này gồm bố, mẹ, hai con trai còn bé và một con gái hai mươi tuổi) khi công việc đã xong, đi quanh nhà để tắt đèn, lắm lúc ả tự cho phép mình để cho các gã thợ may tán tỉnh. Nhân viên trong phòng Philip tha hồ giải trí bằng cách theo dõi người này, người nọ đứng chờ cửa sau để ve vãn cô nàng và họ đánh cuộc cò con với nhau xem kẻ nào sẽ thành công. Đến nửa đêm thì khách khứa rời khỏi quầy bán rượu Harrington Arm ở cuối phố, và ngay sau đó, bọn họ đi ngủ. Bell ngủ gần cửa ra vào nhất, đi ngang qua phòng, nhảy từ giường này sang giường khác, cho tới khi đã đến giường mình rồi hắn vẫn không ngừng huyên thuyên. Cuối cùng tất cả đều yên lặng trừ tiếng ngáy đều đều của người lính, và Philip cũng đi ngủ.

Bây giờ chuông kêu to leng reng làm chàng thức giấc, tám giờ kém mười lăm thì tất cả bọn họ mặc xong quần áo, và vội vàng xuống thang gác với hai chân mang sẵn bít tất dài để chọn lấy giày của mình. Họ vừa buộc dây giày vừa chạy về phía cửa hàng phố Oxford để ăn sáng. Nếu quá tám giờ thì họ không còn gì ăn, mà đã vào cơ quan làm việc thì họ không được phép ra ngoài tìm gì ăn nữa. Lắm khi, biết không thể đến nhà hàng đúng giờ, họ đành dừng chân ở một cửa hiệu nhỏ ở gần nhà mua một cặp bánh bao nhân nho nhưng lại phải tốn tiền nên phần đông họ nhịn ăn đi làm cho đến bữa ăn trưa. Philip ăn một ít bánh mỳ với bơ, uống một cốc chè và đến tám rưỡi thì bắt đầu công việc.

- Thưa bà gian hàng thứ nhất ở bên phải, gian hàng thứ hai ở về phía bên trái.

Chẳng mấy chốc mà chàng đã trả lời các câu hỏi hoàn toàn như cái máy. Công việc này thật buồn tẻ, mệt mỏi. Mấy ngày sau chàng đau chân, đứng thấy khó khăn, những tấm thảm dầy và mềm nung nóng hai chân, ban đêm lúc tháo cởi bít tất ra rất đau. Đó là lời than thở chung của mọi người, còn anh bạn ở cùng tầng gác thì bảo do lúc nào cũng có mồ hôi nên giày và bít tất cũ mục dần. Mọi người trong phòng đều đau như vậy và khi ngủ họ bỏ chân ra ngoài chăn nệm cho bớt đau. Lúc đầu Philip không đi bộ được chút nào, khá nhiều đêm ở phòng khách phố Harrington chàng phải dầm chân trong xô nước lã, trong những lúc đó chỉ có Bell, chàng trai làm trong quầy sản phẩm làm bầu bạn. Hắn thường ở nhà để sắp xếp những con tem sưu tầm được. Anh chàng vừa dán những con tem giấy nhỏ bé vừa huýt sao đều đều.

ì hại đâu. - Ồ, thế cùng được. Bà Carey vào phòng làm việc. Sưu tầm sách là niềm say mê duy nhất của ông Carrey; bao giờ đến Tercanbury ông cũng mất vài giờ đồng hồ để đi xem các cửa hiệu sách cũ và lần nào ông cũng trở về với mấy quyển sác
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.