BỮA TIỆC MỪNG BẤT ĐẮC DĨ
Buổi sáng, tôi trở dậy, chợt nhớ đến vụ ám sát ông Ký Hồng, lo lắng hết sức vì thấy Hoàn vẫn bị giam mà Kỳ Phát đi đâu luôn mấy ngày hôm nay không hề thấy tin tức gì cả.
Nhưng rửa mặt, đánh răng xong tôi bỗng thấy một phong thư, ai lùa xuống dưới khe cửa từ bao giờ. Tôi ngạc nhiên, nhặt lên, xé đọc thì hết sức vui mừng vì nhận ra chính chữ của Kỳ Phát. Thư viết vắn tắt mấy câu, theo giọng một thiếp mời:
“Thưa bạn. Đúng 11 giờ trưa hôm nay, mời bạn đến nhà hàng Grand Lac xơi chén rượu nhạt, dự bữa tiệc mừng… bất đắc dĩ với chúng tôi thì chúng tôi lấy làm hân hạnh vô cùng. Báo tin luôn để bạn biết rằng cùng dự tiệc sẽ có cả bạn Kỳ Phát và Hoàn.
Ký tên: Trúc Tâm.”
Tôi sung sướng quá, vì biết rõ thế là Kỳ Phát đã thành công. Kỳ Phát đã tìm ra đủ chứng cớ để tỏ rõ Hoàn là người vô tội. Tôi nóng nẩy mong cho chóng đến 11 giờ vì lúc ấy chẳng những tôi được gặp Hoàn, một người có thể gọi là sống lại, tôi lại còn được Kỳ Phát thuật rõ cho biết chàng đã luận lý cách nào mà tìm ra chứng cớ Hoàn chẳng nhúng tay vào vụ giết Ký Hồng… Và tôi cũng mong biết thủ phạm vụ này là ai, kẻ nào đã giết Ký Hồng một cách khéo léo như vậy và nguyên nhân vụ ám sát vì đâu.
Đúng giờ, đến chỗ hẹn, tôi đã thấy Trúc Tâm ở đó rồi. Chàng vui vẻ bắt tay tôi rồi nói:
- Kỳ Phát viết thiếp cho anh, nói là bữa tiệc mừng bất đắc dĩ nhưng tôi xin cải chính là tôi rất vui mừng mà được mời các anh dự bữa tiệc này, có thế thì lòng tôi mới được yên!
Tôi gật đầu nói:
- Tôi hiểu anh lắm! Chẳng qua Kỳ Phát muốn đùa anh nên nói như vậy thôi!
Rồi tôi lại hỏi ngay Trúc Tâm:
- Hoàn đâu? Được tha từ bao giờ? Ai là thủ phạm, hử anh?
Trúc Tâm mỉm cười, đưa nước cho tôi, rồi nói:
- Anh hãy súc miệng. Anh hỏi nhiều quá, nhưng thôi, hãy đợi Kỳ Phát lại, anh ấy sẽ kể lại cho anh nghe tường tận hơn. Vả lại sự thực, chính tôi, anh ấy cũng mới cho nghe chứng cớ tỏ rõ Hoàn chẳng phải là thủ phạm, còn những chi tiết trong vụ này thì tôi cũng chưa hiểu đầu cuối ra sao cả.
Ngay lúc này Kỳ Phát bước vào, theo sau là Hoàn. Chàng vui vẻ bảo tôi rằng:
- Tôi đoán ngay rằng thế nào anh cũng lại trước, thực đúng vì tôi chưa thấy một người bạn nào nóng nẩy bắt mọi người kể chuyện cho nghe bằng anh.
Trúc Tâm cũng cười bảo:
- Ấy, anh ấy cũng vừa hỏi dồn tôi ba, bốn câu, tôi bảo hãy đợi anh đến để anh kể đầu đuôi cho nghe…
Kỳ Phát gật đầu:
- Được rồi, tôi sẽ thuật lại mọi việc để ông bạn nóng tính này và anh nghe và nhất là cho Hoàn biết rõ mọi sự nữa, chứ hiện thời thì anh chàng như mới ở trên cung trăng lạc xuống.
Xốc lại áo cẩn thận, Kỳ Phát hắng giọng, rồi tiếp:
- Trước hết, tôi hãy mở đầu chuyện bằng một câu danh ngôn, chẳng biết là của Ấn Độ hay Ma-la-hà… Câu ấy là: Men rượu tình ái cũng làm say người, mờ mắt, ù tai, mất trí khôn chẳng kém gì thứ rượu nặng nhất!
Liếc nhìn thấy Hoàn cúi đầu, tôi đỡ lời, nói:
- Thôi, anh hãy kể đi, tôi vẫn biết anh có cái tài thuật lời danh nhân, những câu “Khổng Tử viết” mà chính anh bịa ra rồi!
Kỳ Phát gật đầu, quay lại nhìn Hoàn rồi nói:
- Tôi muốn mở đầu vụ này bằng câu ấy là vì đến bây giờ, tôi vẫn giận Hoàn, nó đã tỏ vẻ nghi ngờ tôi không săn sóc gì đến nó, hay nói cho đúng hơn, đến việc người yêu của nó.
Trúc Tâm liệu lời chống chế giúp Hoàn:
- Hắn còn ít tuổi, vả lại trong lúc mê muội nên thế. Song bây giờ hẳn Hoàn đã hối hận lắm!
Kỳ Phát sẽ nhún vai rồi nói:
- Điều đó thì chưa chắc lắm. Mặc dầu, bây giờ tôi vui lòng nói rõ mọi việc cho hắn nghe… Chính anh đây, (Kỳ Phát chỉ tôi), cũng đã có ý trách tôi sao không chịu hoạt động, tìm tòi tra xét gì, khi được tin Hoàn về báo Nhung đã bị bắt cóc. Bây giờ tôi nói thẳng ngay rằng khi ấy, vừa nghe Hoàn kể lại chuyện xong, tôi đã có ý nghi ngờ rằng đó chỉ là một trò dàn cảnh vụng về…
Tôi ngạc nhiên, hỏi lại:
- Thế Nhung thực không phải bị người bắt cóc hay sao?
Kỳ Phát bĩu môi nói:
- Làm gì có chuyện thực khi cứ nguyên nghe câu chuyện Hoàn kể lại đã có bao nhiêu điều vô lý! Này nhé, khi chiếc xe dừng lại cách Nhung mấy thước, có kẻ gọi: Cô Nhung! Nếu Nhung chẳng phải nghe rõ tiếng người quen, hoặc có mưu mô gì với nhau, thì không có lý gì Nhung lại bỏ Hoàn đấy mà chạy lên để cho kẻ lạ mặt kéo tuột vào trong ô tô… Một điều nữa, là Hoàn thấy Nhung khi ở đầu đường Cổ Ngư tới quá cửa đền Quan Thánh, luôn luôn nhìn lại phía sau, như có ý tìm tòi cái gì đến nỗi Hoàn phải để ý hỏi Nhung có phải muốn gọi xe không…
Tôi ngắt lời Kỳ Phát, nói:
- Phải, tôi có nhớ Hoàn kể lại rằng lúc ấy Nhung trả lời không.
Kỳ Phát gật đầu:
- Nhung không tìm xe mà cứ quay lại luôn luôn thì chỉ là vì có hẹn người đợi… đợi để bắt cóc mình…
Hoàn nghe đến đấy, toan ngắt lời Kỳ Phát, để cãi lại, nhưng sau lại rụt rè im lặng. Cử chỉ ấy, không thoát khỏi mắt Kỳ Phát, chàng gật gù liếc nhìn Hoàn rồi mỉm cười, nói rằng:
- Nhưng đó chỉ mới có hai điều khả nghi, cần phải thêm một vài điều nữa thì những người nặng lòng tin như Hoàn mới không cãi vào đâu được. May thay, tôi đã sẵn có! Các anh hẳn còn nhớ sáng sớm hôm sau, Trúc Tâm báo cho tôi biết đã tìm thấy chiếc xe ô tô của bọn hung phạm…
Trúc Tâm gật đầu:
- Phải, ở gần ngay chỗ con đường Rond Point, rẽ vào lối sau Bách thú.
Kỳ Phát gật gù, bảo:
- Mà chúng ta cũng chẳng lạ gì chỗ ấy gần một dinh cơ nhà binh, suốt đêm ngày lúc nào cũng có lính bồng súng canh gác. Như vậy thì nếu bọn gian đỗ xe ở đấy, để đưa Nhung về giam ở một nhà gần đấy…
Trúc Tâm ngắt lời:
- Khu ấy thì chỉ có thể đưa về lối Ngọc Hà, Quần Ngựa, hay xa hơn nữa thì Ô Cầu Giấy.
Kỳ Phát gật đầu:
- Anh nói có lý, nhưng hãy để tôi kể tiếp. Nhưng từ lúc xe ô tô đỗ lại, đến lúc dẫn Nhung về tới nhà giam, sao Nhung không kêu la cầu cứu? Phải, tại sao khi chỉ một tiếng kêu nhỏ thôi, ở chỗ ấy bất cứ lúc nào, Nhung cũng có thể làm cho mấy người lính gác kia phải để ý?
Tôi ngẫm nghĩ một lát, hỏi:
- Nhưng tôi ví dụ rằng lúc ấy, Nhung bị đánh thuốc mê rồi?
Kỳ Phát gật đầu:
- Phải, Nhung chỉ có thể bị đánh thuốc mê thôi, vì nếu chúng nhét giẻ vào mồm thì Nhung vẫn có thể cựa quậy, vật lộn với chúng được và như thế thì bọn lính gác đã biết rồi… Tôi nghĩ như vậy nên đã để ý xem trong xe có còn phảng phất mùi thuốc mê không, nhưng tôi không hề thấy một mùi gì lạ cả, như ngay hôm ấy về nhà, tôi đã nói với anh.
Nhìn về phía Hoàn, Phát tiếp:
- Như thế nghĩa là nếu Hoàn lúc ấy không hoảng hốt gì cả, cứ bình tĩnh chắp hai tay về phía sau lưng, đi tản bộ về phía này sẽ thấy Nhung cùng bọn hung phạm vui vẻ nhanh nhẹn chạy về phía Ngọc Hà, hay Quần Ngựa, Cầu Giấy như lời anh Trúc Tâm vừa nói. Không chừng mà chính Nhung lại giục những ông tướng bắt cóc ấy chạy nhanh theo mình cơ đấy. Ấy là tôi chưa kể đến mẩu giấy mầu tím có mấy chữ tuy không liên lạc thành câu, nhưng đã rõ ý hẹn hò… Giờ ấy đã đúng vào giờ Nhung bị bắt cóc mà mảnh giấy ấy lại là mầu tím… Hoàn của chúng ta đây sẽ nói cho các anh biết rằng người yêu của Hoàn vốn thích mầu tím: áo tím, giấy viết thư mầu tím, cả bó hoa cho con khỉ gài lên trên cây cũng vẫn đều một mầu tím.
Tôi thấy Hoàn cúi đầu không dám nói gì, thương hại quá nên cố sức tìm ra những lý lẽ để đánh đổ những chứng cớ buộc tội gắt gao của Kỳ Phát. Tôi hỏi:
- Nhưng còn tờ giấy hăm dọa để đòi tiền chuộc 2 vạn rưỡi bạc? Như ý anh nói thì có lẽ cô con gái nguy hiểm ấy đã bầy trò ra thế để định lấy tiền của bố hay sao?
Kỳ Phát vội lắc đầu:
- Không, tôi có nói thế đâu! Tôi chỉ nhận thấy một điều đến ngay lá thư hăm dọa kia cũng lại càng tỏ ra rằng Nhung không phải thực là bị bắt cóc. Các anh thử nghĩ mà xem, nếu thực có kẻ bắt cóc Nhung định để tống tiền, tất nhiên kẻ ấy cần phải suy nghĩ tính toán lắm, làm cách nào khi người nhà đưa tiền chuộc, hắn có thể lấy được một cách dễ dàng, không sợ sa vào lưới pháp luật! Trái lại, việc của Nhung thì khác hẳn. Kẻ bắt cóc chú ý làm ra chuyện rắc rối như dặn chôn tiền vào gốc cây thứ mấy, thứ mấy nhưng lại không để ý đến chỗ khoảng đường Cổ Ngư là một nơi nhận tiền nguy hiểm nhất. Thực vậy, đó là một con đường độc đạo, các nhà chuyên trách có thể nấp đâu rình cũng rất dễ dàng và một khi thấy kẻ bắt cóc đến lấy tiền, chỉ một tiếng còi hiệu, đầu đường Quan Thánh có người chặn, đầu dốc Yên Phụ có người chặn thì hãy hỏi kẻ bắt cóc chạy làm sao cho thoát! Do đó, tôi luận lý ra rằng kẻ viết thư ấy không cần gì đến việc tới chỗ hẹn lấy tiền!
Tôi cười, lắc đầu:
- Anh càng nói nhiều tôi lại càng thấy vụ án này bối rối và khó hiểu quá! Nhung bầy ra trò bắt cóc, bầy ra trò tống tiền mà không cốt lấy tiền, thì Nhung có phải điên đâu mà làm ra những sự rắc rối vô ích ấy?
Kỳ Phát cũng cười, gật đầu:
- Đó là vì anh chỉ mới nghĩ đến một vụ bắt cóc, quên khuấy mất vụ ám sát rồi! Nay nếu anh nghĩ cả đến hai việc thì sẽ thấy liên lạc với nhau hết sức… Nếu không có việc tống tiền 2 vạn rưỡi bạc thì làm gì có việc Hoàn phải cãi cọ với ông Ký Hồng, làm gì có việc ông Ký Hồng bị ám sát…
Tôi nóng nẩy hỏi:
- Anh vẫn chưa nói rằng ai là thủ phạm giết Ký Hồng?
Kỳ Phát nhìn thẳng vào mặt tôi, rồi tiếp ngay:
- Là Nhung chứ còn ai vào đấy nữa?
Tôi lắc đầu:
- Câu ấy anh cần phải cân nhắc cẩn thận chớ buộc tội vội vàng cho người. Anh đã quên rằng Nhung là con gái của Ký Hồng rồi ư?
Kỳ Phát mỉm cười:
- Không, tôi không quên và tôi cũng tự hỏi tôi nhiều lần như thế! Bảo rằng Nhung giết Ký Hồng, nhưng tại cớ gì? Thì đây, một đêm tôi đột nhập vào khám xét buồng ngủ Ký Hồng, đã thấy tập nhật ký này…
Vừa nói Kỳ Phát vừa rút trong túi ra một cuốn giấy nhỏ. Chàng để lên bàn rồi nói tiếp:
- Tập nhật ký này dài lắm và cũng có nhiều đoạn ly kỳ, hay ho lắm, có thể giúp tài liệu cho một nhà văn nào thích viết về loại xã hội rất tốt. Đọc cuốn này, các anh sẽ thấy những mưu mô xảo trá của Ký Hồng buôn bán lừa đảo man trá thế nào mà có thể giầu nhanh được như thế. Các anh sẽ thấy một quãng đời, Ký Hồng đã làm nghề buôn thuốc phiện lậu, làm giấy bạc giả, vào sinh ra tử nhiều phen… Các anh sẽ đọc suốt ba trang giấy đặc câu chuyện Ký Hồng trả thù một kẻ đã dám rắp tâm phản bội mình… Kẻ ấy là ai, ở đâu, trong nhật ký không nói rõ, chỉ gọi bằng mày, bằng mi, bằng thằng kia mà thôi, nhưng nhật ký cho ta biết rằng kẻ thù ấy có một người con gái bị Ký Hồng bắt cóc mất từ hồi còn bé. Chúng ta không rõ cái âm mưu thâm độc của Ký Hồng định dùng đứa con gái kia trả thù kẻ địch bằng cách nào, chỉ biết một điều Nhung chính là đứa con gái ấy.
Tôi giật mình, hỏi lại:
- Vậy ra Nhung không phải con đẻ của Ký Hồng?
Kỳ Phát gật đầu:
- Bây giờ ta hãy ví dụ đứa con gái kia nhớn lên, vốn sẵn có cái máu huyết ghê gớm nguy hiểm của bố mẹ truyền lại, đứa con gái ấy tình cờ một hôm bắt được tập nhật ký của Ký Hồng. Nó đã rõ được chẳng những Ký Hồng không phải là bố đẻ lại còn là một kẻ thù. Như tôi vừa nói, sẵn có cái tính hung bạo của bố mẹ lưu lại trong mạch máu, tất nhiên nó phải nghĩ đến cách trả thù.
Trúc Tâm gật đầu nói:
- Như thế, ta phải đặt một giả thuyết nữa thì mới thấy được liên lạc trong hai vụ ám sát và bắt cóc.
Tôi bảo Trúc Tâm:
- Có phải anh định nói rằng Nhung phải có thù với Hoàn?
Trúc Tâm gật đầu:
- Phải, vì thế cho nên Nhung mới tìm cách giết Ký Hồng mà Hoàn lại phải mang tội, tức là kế một phát tên giết được hai chim vậy!
Tôi suy nghĩ một lát, rồi nói:
- Tôi vẫn chưa hiểu rõ cái cách Nhung đổ tội cho Hoàn thế nào?
Kỳ Phát nói:
- Trước tôi cũng phải nát óc vì cái cớ: chìa khóa để ở trong sao lại có người ngoài vào được mà vẫn không thể nào cắt nghĩa cho ra. Sau tôi đành phải tạm gác điều đó, trước hết hãy đi tìm những chứng cớ xem có phải thực có người vào buồng Hoàn không? Muốn biết thế, tôi phải đến dò hỏi ngay tại phòng ngủ ĐL…
Tới đây, Kỳ Phát kể lại cho mọi người nghe công cuộc dò tìm của chàng, những lời nói của hai tên bồi và nhất là của lão khách béo. Chàng lại tiếp:
- Đã biết chắc rằng có một người con gái bí mật định vào buồng Hoàn nhưng khi thấy có người trông thấy phải vờ rẽ vào buồng tên khách béo. Tôi lại ví dụ người con gái ấy sau khi đã gõ cửa buồng Hoàn, dùng một thứ hương xông cho Hoàn mê ngay đi, bỏ vào đấy chùm chìa khóa của Ký Hồng, một chứng cớ không thể chối cãi buộc tội cho Hoàn, rồi đi ra sau khi khóa trái cửa lại.
Tôi ngắt lời:
- Nhưng đã khóa trái cửa tức là chìa khóa không có cắm ở bên trong nữa. Mà như anh vừa nói thì Hoàn đã bị mê rồi, lẽ nào còn có thể trở dậy mà cắm trả chìa khóa vào chỗ cũ?
Kỳ Phát gật đầu:
- Phải, chỉ còn mỗi một điều ấy nữa, cắt nghĩa được tức là tỏ rõ Hoàn vô tội. Không còn một manh mối nào nữa, tôi đành phải nhờ đến ông thần may mắn thường vẫn giúp các nhà trinh thám. Tôi lập tức đăng báo hứa thưởng cho những ai có thể cho tôi biết một chút dấu tích gì của người con gái bí mật kia. Tôi không hy vọng gì có người đến báo nhưng tôi hy vọng thủ phạm sau khi đọc lời dọa nạt của tôi nói đã tìm thấy nhiều vết tích khả nghi ở phòng ngủ của Hoàn, sẽ phải lo sợ tìm cách tiêu hủy cái vết tích gì còn để sót lại… Quả nhiên sự may mắn đã giúp tôi… Mất công chờ đợi, tôi đã bắt được một kẻ chuyên môn chỉ ăn cắp chìa khóa!
Tới đây, Kỳ Phát lại kể tiếp cuộc rình bắt thằng bé đánh giầy, mũ thế nào, và lúc nó dẫn Kỳ Phát đến nhà thủ phạm thì bỏ chạy ra sao, rồi lại tiếp:
- Thằng bé tuy bỏ chạy, nhưng nhà thủ phạm tôi đã biết! Tôi chẳng ngại ngùng gì, lẻn vào - vì lúc ấy cửa chỉ khép - lên thẳng gác, thấy đó là một gian nhà bỏ trống, ngoài một chiếc chăn dạ để nằm, vất ở một xó thì không còn đồ vật gì khác nữa. Vất bừa bãi trên mặt sàn, tôi thấy mấy vỏ hộp cá sạc-đin, vài mẩu bánh tây khô, mấy chiếc vỏ chuối! Tôi đoán chắc đây là nơi thủ phạm tạm trú ẩn, lấy chăn và sàn gác làm giường, lấy bánh tây và đồ hộp làm bữa. Và trong bếp, tôi thấy có nhiều than vải mới đốt, lúc tìm mãi mới thấy được một mẩu lụa tím này!
Vừa nói, Kỳ Phát vừa rút trong túi ra một mẩu lụa gần sém cháy hết, nhưng vẫn còn giữ mầu tím và so sánh vẫn còn thấy đúng với mẩu áo tím mà Kỳ Phát đã lấy được của người khách béo.
Tôi hỏi:
- Thế anh có đợi Nhung về hay không?
Kỳ Phát cười:
- Tôi đợi làm gì, việc bắt thủ phạm có phải là công việc của tôi đâu, mà là của ông bạn thân chúng ta đây.
Vừa nói Kỳ Phát vừa liếc nhìn Trúc Tâm. Anh chàng đành cúi đầu thú thực:
- Tiếc quá, lúc anh Kỳ Phát lại bảo tôi thì cuộc vây bắt đã thành vô công hiệu. Con chim xanh đã cất cánh từ bao giờ rồi.
Nhìn thẳng vào mặt Kỳ Phát, Trúc Tâm nói:
- Nhưng tôi đoán chắc anh Phát quái ác thế nào trước khi rời khỏi gian nhà ấy cũng đã để lại một dấu hiệu gì cho Nhung biết mà trốn đi.
Kỳ Phát mỉm cười một cách ranh mãnh và bí mật:
- Việc ấy tôi nhãng quên đi mất rồi, tôi không cần nhớ vì như tôi nói việc bắt thủ phạm có phải là việc của tôi đâu. Tôi chỉ có một trách nhiệm là tỏ rõ nỗi oan cho Hoàn.