TỪ BỨC HỌA CỔ
ĐẾN BÀI ĐỀ VỊNH
Hai ngày đối với tôi sao mới dài quá thế.
Đi điều đình các báo đăng quảng cáo xong xuôi, tôi về qua nhà in, rồi làm bài vở kỳ tới. Nhưng trong lòng tôi bối rối quá vì không hiểu rằng bài báo đó đăng lên, sẽ có công hiệu gì không. Tôi chỉ mong buổi tối, Kỳ Phát nếu lại thì tôi quyết bắt hắn cắt nghĩa thêm cho tôi hiểu đầu đuôi vụ án, chứ mong tìm Phát thì thực là một chuyện khó làm được, vì Phát không có chỗ ở nhất định bao giờ!
Nhưng tôi thất vọng, tối hôm ấy, không hề thấy bóng Kỳ Phát đâu cả. Và tôi đã phải trải qua một đêm trằn trọc, hễ vừa chợp mắt là thấy hình ảnh Cúc và Kỳ Phát hiện ra, nếu không thì những đôi đũa, bức cổ họa hay là ông già bị nhát dao đâm giữa ngực.
Sáng hôm sau tỉnh dậy, tôi thấy mệt mỏi quá chừng nhưng cũng cố ngồi làm việc cho khuây khỏa. Khi đồng hồ đánh 5 giờ, tôi sung sướng quá lập tức sửa soạn ra đi.
Vào đến Hà Đông thì đúng 6 giờ 10 phút. Tôi lại thẳng nhà Cúc đã thấy Kỳ Phát ung dung ngồi đó. Chàng vui vẻ bảo Cúc rằng:
- Công đầu là về anh này đây Cúc ạ, vì anh ấy may mắn lắm!
Thấy tôi ngơ ngác không hiểu, Kỳ Phát cười, đưa cho tôi xem một bức điện tín từ Hà Nội đánh vào, mà Phát nhận được buổi chiều hôm trước, trong đó viết:
“Đúng hẹn, 9 giờ sẽ lại!”
Tôi nghi ngờ, hỏi:
- Dây thép này là của ai?
Kỳ Phát lắc đầu:
- Sao anh lẩn thẩn thế? Lại còn của ai nữa, của lão già bắt Hoàn, của kẻ sát nhân đã giết chết tên đồng phạm ở Tám Mái, Năm Diệm!
Cúc nhăn mặt nói:
- Nghe anh mà tôi cứ rủn người ra… Chính hắn dám đường hoàng lại đây! Mà liệu con tôi có còn sống không, một kẻ giết người không ghê tay như thế thì tính mệnh con tôi ở bên nó cũng khó mà an toàn được!
Kỳ Phát lắc đầu:
- Tôi có thể đoan chắc với Cúc rằng Hoàn vẫn bình yên vô sự, vì nếu Hoàn có làm sao thì lão già đã chẳng dám lại đây. Hắn dám lại là vì vẫn còn có Hoàn ở trong tay làm con tin, hắn không sợ gì nguy hiểm cả.
Tôi gật đầu, nói:
- Mặc dầu, như thế hắn cũng đã gan dạ lắm mới dám lại.
Kỳ Phát cười:
- Chẳng những lại mà còn báo trước cho chúng ta biết nữa. Ta đã bảo anh rằng tên này chẳng phải là đứa thủ đoạn tầm thường mà.
Kỳ Phát lại hỏi tôi:
- Anh đã ăn cơm chưa nhỉ?
- Đã, anh muốn bảo tôi gì bây giờ?
Kỳ Phát gật đầu:
- Chúng tôi cũng vừa ăn cơm xong, còn đợi nước rồi pha mấy cốc cà phê thực ngon uống trước khi tiếp thủ phạm. Vậy bây giờ, tôi muốn nhờ anh một việc, anh hãy ra nhà dây thép, gọi điện thoại cho Trúc Tâm. Nếu nhà riêng không có hắn thì anh gọi về Sở. Nếu không thấy thì anh nhắn lại rằng tôi cần gặp hắn trước 9 giờ ở Hà Đông!
Và mỉm cười, Kỳ Phát nói tiếp:
- Ta cứ cẩn thận thế thì hơn, vì biết đâu chẳng có việc bất ngờ xẩy ra!
Cúc hỏi:
- Anh định để Trúc Tâm bắt hắn ư?
Kỳ Phát lắc đầu:
- Không, vì Trúc Tâm đến đây là đến như một người bạn chứ không phải như một nhà chuyên trách đi làm việc. Nhưng tôi muốn có mặt Trúc Tâm ở đây là vì không chừng, hắn sẽ có thể làm chứng cho mình được về sau này!
Tôi hỏi lại Kỳ Phát:
- Thôi, thế tôi đi ngay nhé!
Kỳ Phát gật đầu:
- Vâng, đi và về ngay, vì hôm nay, chính tôi pha cà phê lấy, hẳn là ngon lành lắm, anh mà về chậm, nguội mất thì phụ công tôi đấy!
Nhưng không, tôi về rất vừa vặn. Gọi điện thoại đi mấy nơi cho Trúc Tâm rồi, tôi về ngay nhà, thì vừa lúc Kỳ Phát đương rót cà phê ở bình ra tách. Kỳ Phát gật gù, khen:
- Khá lắm, chén rượu hâm còn nóng, mà Quan Vân Trường chém đầu giặc đã về. Nhưng thế nào, có được việc gì không?
Tôi lắc đầu:
- Không mới chết chứ. Cả mấy nơi, họ đều trả lời Trúc Tâm đã đi từ chập tối và cẩn thận, hắn đã dặn mấy nơi bảo rằng đi là vì việc của Kỳ Phát, và nếu Phát có tìm, thì bảo thế nào cũng sẽ vào Hà Đông ngay, song có lẽ phải sau 9 giờ. Không chừng mà Trúc Tâm lại mang về được nhiều điều mới lạ!
Kỳ Phát chau mày, ngẫm nghĩ, rồi lẩm bẩm:
- Quái lạ, đi việc cho tôi thì là việc gì? Chắc Trúc Tâm đã thấy có đầu mối hay sao nên mới vội vã đi và hy vọng trước rằng sẽ có kết quả.
Thấy Cúc lộ vẻ lo lắng, Kỳ Phát lắc đầu, vui vẻ nói tiếp:
- Nhưng không sao, chỉ có điều Trúc Tâm về chậm thôi, nhưng về mà có thêm điều mới lạ cho ta thì càng hay! Thôi, xin mời các ngài hãy xơi tách cà phê của bỉ nhân pha xem có đặc biệt hay không. Thực là nước trong hồng, hương thơm đậm, pha được thế này, thực phải học từ cách chọn cà phê, bỏ cà phê làm sao cho vừa, đun nước sôi chừng nào cho đúng và pha dần dần tuần tự như thế nào. Tóm lại đây là cả một nghệ thuật vậy!
Tôi chỉ mỉm cười, Cúc thì bảo:
- Anh Kỳ Phát nói khéo quá, anh ấy có đi bán dầu trên xe hỏa thì cũng vào bực đàn anh cơ đấy!
Kỳ Phát gật gù:
- Ấy, đời người ta xoay trở, biết thế nào mà nói trước được bây giờ, hãy biết ung dung ngồi đây nhấm nháp cà phê…
Tôi nói:
- Nghe anh nói, tôi cứ mường tượng như các cụ nhà Nho xưa, rượu sớm, trà trưa, khề khà đọc thơ, ngâm vịnh!
Kỳ Phát nghiêm sắc mặt, gật đầu:
- Thì ta cũng ngâm vịnh chứ sao?
Vừa nói, Kỳ Phát vừa đứng dậy, lại bên chiếc tủ gương, mở ra, lấy một bức tranh cuộn tròn, mang đến bên tường, treo lên chiếc đinh và ngắm nghía sửa lại cho thực ngay ngắn.
Đó chính là bức cổ họa mà Kỳ Phát đã lấy ở nhà lão già xem tướng số mang về. Bây giờ tôi mới có thời giờ ngắm nghía kỹ lưỡng. Bức tranh chính là một bức vẽ phá, kiểu Tầu, tả một cảnh núi non hiểm trở, trùng trùng điệp điệp, lớp lớp chạy dài ra đến chân mây… Xa xa, bóng một người chống gậy lên núi. Quanh co, một dải sông bạc uốn khúc lượn theo chân núi. Lác đác ở đây mấy con thuyền…
Tóm lại, đó là một bức vẽ cảnh sơn thủy thường thấy ở những bức tranh Tầu, không có gì là đặc biệt. Nhưng bỗng Kỳ Phát hỏi tôi:
- Anh có biết chữ Nho không nhỉ?
Thấy tôi lắc đầu, Kỳ Phát gật gù:
- Đó là một cái hại trông thấy. Tôi cũng thế. Tôi không biết chữ Nho, song còn hơn anh ở chỗ vì xem nhiều nên nghe đọc âm chữ lên, còn có thể hiểu được. Những chữ đề trên bức cổ họa này, tôi đã chép ra, nhờ người đọc và tôi đã học thuộc lòng, để tôi đọc lại, anh nghe.
“Cá gian phong cảnh hùng vĩ, thực vi Nam thiên đệ nhất. Đãn sơn trung linh khí, tổng vị địa hạ tàng kim. Nhật nguyệt thoa lưu, mỗi nhất chu Giáp nhi hồi phục. Tỵ niên Xuân, Hoàn lang dụng sở thường thực chi trợ vi ỷ trượng, đăng Điển Sơn du trưởng, tam nhật hậu, tức kiến bảo vật hoàn quy cựu hữu chi nhân.”
Tôi hỏi:
- Anh đọc một hồi, tôi chẳng hiểu là gì cả. Thế nghĩa câu đề ở bức tranh cổ ấy là thế nào?
Kỳ Phát cười:
- Đây, tôi đã hỏi lại nghĩa và tạm dịch ra, anh thử nghe xem có trôi không?
Và Kỳ Phát hắng giọng đọc:
"Cảnh đẹp hùng vĩ, thực là Nam thiên đệ nhất nhưng khí núi thiêng liêng vì có yểm vàng. Năm tháng tuy qua, nhưng cũng trở về từng Giáp. Mùa Xuân năm Tỵ, Hoàn lang dùng chiếc đũa tre của mình làm gậy, lên ngắm cảnh trên núi Điểu Sơn, qua ba ngày ròng, của báu sẽ hoàn về chủ cũ."
Tôi lắc đầu:
- Thế cũng vẫn không có nghĩa là gì cả, ai mà hiểu được?
Kỳ Phát gật đầu:
- Anh không hiểu tôi không hiểu, lão già xem tướng số có bức cổ họa này không hiểu mà cả những người khác đọc qua bức tranh này cũng đều không hiểu hết. Nhiều người không hiểu, cho rằng đây là một anh họa sĩ có tài vẽ nhưng dốt chữ, lại hay đề vịnh nên viết những câu tối nghĩa chẳng ra đầu cuối gì cả. Nhưng trong số đó, có những người không hiểu, song nghi ngờ, rồi cố mà hiểu. Có lẽ lão già xem tướng số đã cố hiểu, mà tôi, tôi cũng cố hiểu…
- Anh đã hiểu thế nào?
Kỳ Phát hỏi lại:
- Thế anh không cố hiểu ư?
- Tôi chỉ để ý đến có chữ tàng kim, và sau có chữ bảo vật! Lại chữ Hoàn lang nữa!
Kỳ Phát vỗ vai tôi, vui vẻ nói:
- Thế là anh hiểu được phân nửa rồi còn gì nữa.
Cúc cũng nói:
- Hay đây lại là chuyện một cái kho tàng chôn giấu?
Kỳ Phát gật đầu:
- Cúc nói đúng, đây lại cũng là một chuyện kho tàng, như chuyện cái kho tàng nhà họ Đặng…
Và Kỳ Phát gật gù, đọc một câu danh ngôn Tầu: “Kim tiền, kim tiền! Người ta đã vì mày mà gây ra biết bao nhiêu là tội ác!”, làm cho tôi sực nhớ có lẽ vì phải suy nghĩ mãi về bài đề trên bức tranh, Kỳ Phát đã thành có cái hứng ngâm thơ!
Cúc bỗng nói:
- Sao lại có câu dùng chiếc đũa tre của mình làm gậy, tôi không sao hiểu được!
Kỳ Phát cười:
- Tôi cũng không hiểu nốt!
Tôi hỏi:
- Thế anh hiểu những gì, thử nói cho chúng tôi nghe!
Kỳ Phát gật gù:
- Nghĩa là không hơn gì anh và Cúc mấy. Theo ý tôi thì hiểu như thế này: Ở một dải núi nào đó, có chôn vàng. Không chừng là của một bọn Tầu để của. Khi chôn, họ có làm phù phép gì đó hay là theo một cái mưu thần tình, cứ phải đến mùa Xuân năm Tỵ, cầm một chiếc đũa tre lên tìm, trong ba ngày thì thấy…
Cúc hỏi:
- Thế nhưng còn chữ Hoàn lang?
Kỳ Phát lắc đầu:
- Chữ này thực tôi không sao hiểu được vì tôi đoán chắc có nghĩa gì bí mật ẩn náu ở trong, chứ không phải chỉ có nghĩa là anh chàng tên là Hoàn như lão già xem tướng số và lão già đồng phạm đã nghĩ!
Tôi gật gù:
- Chắc vì họ yên trí như vậy nên mới tìm sao cho thấy người tên là Hoàn.
- Mà lại tuổi Tỵ nữa, vì họ thấy chữ “trở về một giáp” nghĩa là cứ 60 năm thì lại có một lần năm Tỵ, tuổi Tỵ. Lão già lại thấy năm nay chính là năm Tân Tỵ, mà bây giờ là mùa xuân nên không còn nghi ngờ gì nữa, quả quyết tìm cho được người tên là Hoàn mà tuổi Tỵ… Lão già xem tướng số thì đi khắp nơi, xem tướng lấy số để tìm. Còn như Hoàn con Cúc thì có lẽ là vì tên tòng phạm đã chợt đọc ở bài cáo phó, thấy có tên Hoàn thì lập tức tìm đến dò tuổi ngay!
Tôi hỏi:
- Nhưng còn “dùng chiếc đũa tre làm gậy” thì nghĩa làm sao?
Kỳ Phát trả lời:
- Tôi chắc đây cũng lại có một nghĩa ẩn náu bên trong, không chừng mà dùng đũa để chọc tìm trên mặt đất, không chừng mà dùng đũa làm thước đo để tìm đến kho vàng.
Cúc nói:
- Chắc hai lão già kia thì không nghĩ thế. Chúng chỉ cần tìm lấy đũa, rồi mang đi và tin rằng người Tầu đã yểm của, thế thì mang lên đúng bằng ấy thứ, lễ bái là tự nhiên được của…
Tôi gật đầu:
- Cúc nói có lẽ đúng vì chính bức cổ họa này, lão già cũng ngày ngày thắp hương thờ phụng.
Ngay lúc này có tiếng chuông réo, một lát sau, có tiếng người đày tớ già ra mở cổng. Kỳ Phát ngẩng nhìn đồng hồ rồi lẩm bẩm:
- Đúng hẹn lắm, lại còn đến sớm được ba phút trước 9 giờ!
Một lát sau, người đày tớ già mang vào một bức danh thiếp! Chúng tôi thấy đề: “Nguyễn Sở Đắc, Ký lục hưu trí, Hà Nội”. Kỳ Phát gật gù bảo tôi:
- Đó, anh xem, trước tôi xem chữ hắn viết dọa nạt tôi, thấy nét chữ ngả và già dặn, hoa hoét, tôi đã biết ngay là hạng người đi làm khi xưa…
Rồi Kỳ Phát bảo người đày tớ:
- Bác hãy mời ông ta vào đây!
Nhưng Cúc bỗng rút trong túi ra khẩu súng lục, giúi vào tay Phát:
- Này anh cầm lấy… vì đối với một kẻ như lão già này thì nguy hiểm lắm!
Kỳ Phát lắc đầu:
- Tôi không dùng súng bao giờ và có cầm cũng như không mà thôi!
Cúc vừa toan nói thêm gì thì đã có tiếng người xịch bước vào.