Một giờ trước đó, hoàn toàn không hay biết về những việc đã xảy ra trong thời gian ông đi vắng, Harrington Brande bước ra khỏi chuyến xe lửa về miền đông ở nhà ga trung tâm Barcelona. Tay xách va li ông cheo qua vòng công nhân khuân vác ồn ào và bước nhanh dọc theo cổng tò vò tiến về phía khách sạn Estacion – Nơi đây một nhân viên biếng nhác giao cho ông một căn phòng ở tầng hai trông ra sân trong. Đó không phải là một phòng tốt, nhưng trái với thói quen, ông không phản đối – tối thiểu chỗ này sẽ đem đến cho ông sự yên tĩnh mà ông đang mong ước hơn hết. Trong toa tàu đông người trên suốt đoạn đường từ Madrid ông đã có thể hoàn toàn tập trung tư tưởng, nhưng đã ngồi đó với tâm trạng chán ngán và đau buồn, răng nghiến chặt, mặt mày cau có:
– Ngài có muốn ăn tối không, thưa Senor?
Brande nhìn chằm chằm một cách gần như ngớ ngẩn, vào anh nhân viên khách sạn đang dẫn ông lên phòng.
– Không, tôi không ăn gì hết – Rồi ông sực nhớ lại mình đã không dùng đến điểm tâm. – À có… anh hãy mang lên cho tôi một món… bất cứ gì cũng được… cà phê và giăm bông nguội.
– Vâng, thưa Senor.
Khi anh nhân viên vừa quay đi vị lãnh sự chặn anh ta lại.
– Khoan đã. Tôi nhờ anh đến bưu điện đánh một bức điện tín.
Ông lấy một tập giấy có tiêu đề của khách sạn trên bàn làm việc và viết nội dung bức điện:
GỞI GARCIA, BIỆT THỰ BERZA, SAN JORGE.
ĐEM XE ĐẾN ĐÓN TÔI Ở NHÀ GA JORGE LÚC 7 GIỜ 45 SÁNG NGÀY MAI THỨ BA.
HARRINGTON BRANDE.
KHÁCH SẠN ESTACION
BARCELONA.
Thứ hai, mười giờ rưỡi sáng,
Halevy thân mến,
Tôi viết bức thư này ở khách sạn, bị lôi cuốn bởi một ước mong bộc lộ tâm tư với anh – người bạn của tôi vừa là thầy thuốc – và do yêu cầu khẩn bách muốn được anh giúp đỡ ý kiến.
Anh đã biết quá rõ những bất công cứ bám sát cuộc đời sự nghiệp của tôi – quả thật anh vẫn thường ngợi khen tôi về thái độ chững chạc và lòng dũng cảm của tôi đã giúp tôi chịu đựng tất cả. Trong các bức thư của tôi tháng vừa qua, anh đã biết những nỗ lực của tôi để ổn định tình hình và khiến cho việc tôi mới được thuyên chuyển đến Costa Brava trở nên tốt đẹp. Tại đó, vào ngày thứ sáu vừa rồi, tôi đã nhận được một thông báo của Leighton Baily cho tôi hay rằng Gorge Tenny, lãnh sự thứ nhất ở Madrid đã bị một cơn đột quỵ tê liệt, và yêu cầu tôi phải có mặt ở thủ đô ngay lập tức.
Tôi không phải là một con người phù phiếm như anh đã biết rõ. Tôi không bao giờ vội vàng đi đến kết luận. Và tôi có thể cam đoan với anh rằng lời lẽ của bức thư đó cho thấy hết sức rõ là tôi đã được chọn thay thế Tenny. Tôi liền khẩn trương khởi hành đến Madrid.
Ngày thứ bảy, khi tôi đến, tôi vô cùng kinh ngạc vì không sao gặp được Bailey – ông ta đã đi nghỉ cuối tuần ở thôn quê. Và ngày thứ hai khi ông ta trở về, ông ta đã khiến tôi choáng với thông báo tôi chỉ được triệu đến với tư cách một người thay thế tạm thời, vì người thay thế chính thức là Hecber Meyer hiện còn đang ở Vácxava, và ông ta hết sức cảm ơn nếu tôi điền khuyết chức vụ đó cho tới khi Meyer đến.
Tôi khỏi cần kể với anh ngọn đòn đó cay đắng như thế nào. Tuy nhiên tôi đã phản ứng lại. Tôi hơi tức giận nhắc lại quá trình của mình với các thành tích xuất sắc. Tôi nói toạc ra rằng sự thăng cấp của tôi thật quá chậm. Tôi dứt khoát yêu cầu ông ta phải xem xét lại.
Trong một lúc, Bailey không trả lời. Rồi ông ta bảo:
- Anh đã tự đánh giá mình quá cao.
Lời nói xấc láo này thật quá đáng đối với tôi. Tôi đứng ngay đó. Tôi chính thức tuyên bố rằng tôi có công việc của bản thân tôi ở San Jorge, rằng ở đó tôi có một đứa con bệnh tật, một mối ràng buộc gia đình thuộc loại bức thiết nhất, và như thế nếu tôi không được đề bạt vào chức vụ của Tenny, tôi buộc lòng yêu cầu ông ta miễn cho tôi phải ở lại Madrid.
Khi tôi nói xong trong phòng lặng như tờ. Tôi đã chờ đợi một cơn thịnh nộ, nhưng tôi ngạc nhiên thấy Bailey bắt đầu mỉm cười, tựa hồ không sao giải thích được, ý thức khôi hài lệch lạc của ông ta đã thắng thế. Rồi ông ta bảo:
- Brande, anh là một con người kỳ dị. Tôi vẫn thường nghe nói về anh. Anh là một điển hình không mấy tốt đẹp trong ngành. Nhưng anh cần phải được nhìn nhận và đáng tin tưởng. Lẽ tất nhiên tôi nên tố giác anh. Nhưng tôi sẽ không làm thế. Anh hãy trở lại San Jorge. Và xin vì Chúa hãy cố trở nên một con người nhân hậu. Anh hãy bỏ bớt cái tính thiển cận mà lại tự mãn, cái tính vị kỷ khổng lồ của anh đi. Anh hãy rà xét lại bản thân anh một tí. Như thế có lẽ vẫn chưa đủ để thăng cấp cho anh. Nhưng ít ra nó sẽ khiến cho anh và cuộc sống thêm một chút.
Biết trả lời gì trước một tràng sỉ và như thế! Tôi lạnh lùng cúi chào, quay người và rời khỏi phòng. Không một chút do dự hoặc chậm trễ, tôi ra đi bằng chuyến tàu mười một giờ. Và bây giờ tôi đang ở đây, trong một cơn rối loạn đầy cay đắng, cô độc và phẫn uất chính đáng như thế này, tôi đành phải phó thác cho tính hào phòng khéo léo của anh với tư cách mà một người cứu chữa linh hồn.
Viết đến đây, Brande đột nhiên ngừng lại, với cảm giác các mạch máu trên trán bỗng ứ lại. Phải chăng ông có thể tiếp tục. Vì lợi ích của chính ông, dù có đau đớn đến mức nào, ông cũng phải thế thôi. Trong quá khứ đã biết bao nhiêu lần nằm thoải mái trên chiếc trường kỷ của vị giáo sư trong phòng chẩn bệnh chật hẹp trông ra đường Capucines, tiếng xe cộ lưu thông được các bước màn dây chê kín chặn lại, ông đã cảm thấy mình hoàn toàn nhẹ nhõm, tự do bộc lộ tâm hồn và nhắm mắt lắng nghe những huấn thị thì thào của vị bác sĩ tâm thần ngồi trong bóng tối phía sau ông. Giờ đây, thậm chí ở một khoảng cách xa như thế này, ông vẫn cảm thấy hết sức cần một sự khuây khỏa tương tự. Nghiến chặt răng ông viết tiếp:
Anh Halevy, điều tôi cần phải kể với anh là như sau, mặc dầu làm vậy tôi có thể đánh mất lòng tự trọng của mình. Khi Bailey thốt ra những lời sỉ nhục đó, một cảm giác choáng váng bao trùm lấy tôi và tôi đã có tư tưởng kỳ lạ khủng khiếp rằng chính vợ tôi vừa nói. Trong lúc màn sương mù mịt trước mắt tôi, dường như tôi trông thấy nàng giữa con mưa, trong lúc nàng hiện ra đêm hôm ấy, từ chỗ trọ của nàng đến đường 38 ở New York. Tôi đã theo dõi nàng đến đó, đứng chờ đợi nàng bên ngoài trong ít nhất là hai giờ, tin chắc rằng nàng đang tiếp một người tình. Khi tôi bước ra khỏi bóng tối và đối diện với nàng, ánh đèn đường chiếu sáng vào giữa mặt nàng, vào đôi mắt hoài nghi của nàng và nàng nói… nhưng lạy Chúa tôi không cần phải tự hành hạ… chắc hẳn anh còn nhớ sự việc đó vì tôi đã thú thật đầy đủ với anh – tựa hồ xé nó ra từ trái tim của tôi – lần đầu tiên tôi đã tình nguyện để cho anh phân giải.
Anh thừa hiểu sự việc đó đã khiến tâm hồn tôi điên đảo sâu đậm đến mức nào. Chắc chắn tầm quan trọng lời nói xúc phạm của Bailey không đáng là bao vì chúng quá vô lý làm sao mà tin được. Nhưng tôi sẽ phản ứng như thế nào đây? Phải chăng những vết thương vẫn còn rướm máu mà chỉ một mình anh hay biết và thăm dò một cách êm ái sẽ không bao giờ lành? Phải chăng lòng khao khát được yêu, được yêu một cách dịu dàng, tha thiết và độc nhất của tôi sẽ không bao giờ được đáp ứng? Phải chăng tôi là một kẻ mà định mệnh luôn luôn bắt phải bị hiểu lầm, đánh giá sai, ngược đãi bởi những kẻ thấp kém hơn mình? Phải chăng sẽ không có ai cảm nhận được tinh thần và trái tim của tôi?
Và tương lai tôi sẽ ra sao, anh Halevy?
Tôi không thể phủ nhận rằng trong một bức độ nào đó, tôi coi trọng tình trạng gắn bó với cấp bậc lãnh sự. Hơn nữa, tôi cho rằng tất nhiên tôi thừa sức thực hiện các nhiệm vụ và chức năng chính quyền cần phải có. Tuy thế có một điểm giới hạn mà người ta không thẻ ép buộc trái tim quyết chí nhất vượt qua, khi ta phải đứng sững trong một tiếng hét uy nghiêm: “Dừng lại!”.
Anh biết cuốn sách của tôi viết về Maibranche hiện nay đã hầu như hoàn tất và tôi hy vọng sẽ được phát hành trên khắp thế giới trong vòng ba tháng tới. Không phải tự phụ tôi vẫn không thể không tin tưởng rằng tác phẩm đồ sộ này, giờ đây như là một phần của bản thân tôi, sẽ gây ra một sự xôn xao trong giới trí thức và triết học thuộc cả hai lục địa. Nếu vậy, tôi có nên từ chức và hiến trọn đời mình cho văn học. Tôi hiện có một số tài sản riêng, sẽ giúp tôi khỏi phải lệ thuộc vào công chúng. Và trên hết thảy, tôi phải quan tâm đến việc chăm sóc và những điều thích thú nhất đối với đứa con trai yêu dấu của tôi.
Anh Halevy, vào một lúc như thế này, khi tâm hồn con người chìm sâu trong thất vọng, ta không thể làm gì khác hơn cảm tạ ơn Chúa ban phước lành cho Nicholas, cho những gì đã tiết lộ với anh với điều kiện phải giữ bí mật nghề nghiệp, anh chắc hẳn nhận thức được thảm kịch hôn nhân của tôi đã được đền bù lại như thế nào bởi tình thương yêu dịu dàng, trong trắng và tràn trề mà con tôi đang dành riêng cho tôi. Nếu tôi được tự do hành động – bởi vì ta có thể hành nghề viết văn trong bất cứ hoàn cảnh nào – rất có thể mang lại nhiều điều thuận lợi cho sức khỏe mỏng manh của con tôi. Chúng tôi có thể tìm đến những suối khoáng thích hợp nhất để cải thiện tạng người dễ bị kích thích của cháu (Thật ra đầu óc căng thẳng của chính tôi có lẽ cũng sẽ có lợi theo cách ấy). Tôi sẽ có thể hiến trọn đời mình cho cháu, giữ gìn cho cháu khỏi bị ảnh hưởng tai hại và xấu xa trong những năm gay go của tuổi dậy thì… à, phải, trông nom và bảo vệ thời kỳ tươi đẹp nhất của đóa hoa yêu quý của tôi.
Chỉ một mình anh – bởi vì anh là bác sĩ – mới có thể góp ý kiến cho tôi với một quyết định như thế này. Vì vậy tôi khẩn khoản mong anh đến Casa Breza thăm tôi sớm hơn lời hứa. Anh đã thỏa thuận đến thăm chúng tôi trong tháng sáu. Thay vì thế, xin anh hãy đến ngay bây giờ, hoặc ít ra trong vòng hai tuần tới đây. Chúng tôi sẽ long trọng chào đón anh, dường như anh không lệ thuộc vào các trường hợp chữa trị thông thường, và một người trong số đồng nghiệp của anh có thể tiếp quản bệnh viện. Mong anh không phụ lòng tôi.
Lúc này đã gần mười hai giờ khuya. Tôi cần phải ngủ một chút… dù đã uống tới bốn viên thuốc mà anh đã cho tôi giờ đây, than ôi dường như vẫn không có tác dụng gì. Chắc chắn tôi đã viết đầy đủ cho anh thấy rõ sự khẩn thiết của tôi. Tôi xin nhắc lại: Mong anh không phụ lòng tôi. Tôi hân hoan mong đợi thư trả lời của anh rong mấy ngày sắp tới. Trong lúc chờ đợi tôi sẽ yên lặng chịu đựng bên cạnh Nicholas, liếm lành các vết thương của mình, có thể cho là như vậy, và tôi tự phục hồi lại trong nụ cười tươi sáng của cháu.
Người bạn tận tình và đang đau khổ của anh
HARRINGTON BRANDE.
Với mấy ngón tay xòe ra đỡ lấy đầu, vị lãnh sự ngồi bất động, ngoại trừ sự co giật khó nhận thấy của dây thần kinh trên mặt ông. Một nỗi thương thân dâng lên, chính cái cảm giác giầy vò thống khổ quen thuộc căng phồng, vẫn còn tràn đầy lồng ngực ông. Tuy nhiên ông cảm thấy dễ chịu hơn khi đã được viết bức thư, lấy ra một phần nào buồn bực. Theo một mức độ nhỏ, đó là cái cảm giác “được nạo rửa” mà ông vẫn từng có sau mỗi buổi điều trị trong phòng chẩn bệnh của bị giáo sư. Ông thở dài, và dần dần cằm ông tự đưa lên trong một thái độ dũng cảm chịu đựng vừa được phục hồi. Không vội vã, ông đứng dậy, đi ra khỏi phòng và bỏ bức thư vào thùng ở cột thang máy. Một giờ sau đó, nhờ tác dụng của thuốc, ông chìm vào giấc ngủ lãng quên.