Bảy tháng sau, vào một buổi tối mùa đông quang đãng lạnh lẽo, chiếc tàu chạy bằng hơi nước, khởi hành từ Stockhoim băng qua vịnh Norlanger và với hai tiếng còi ngắn vui vẻ tiến vào cảng Halvershoim của Thụy Điển. Ngay khi chiếc tàu thủy nhỏ vững chắc cập vào bến, mặc dầu đã chủ tâm không thông báo trước, vị tân lãnh sự vẫn được đón tiếp bởi một người đàn ông mập lùn, có râu, bộ điệu lăng xăng khoác một chiếc áo choàng kiểu hoa tiêu màu xanh, tự giới thiệu là cảng trương tên Andersen, ông ta giải thích với một nụ cười ân cần rằng ông ta đã nhận được tin tức từ công ty tàu biển cho hay ông Brande cùng cậu con trai sẽ đến đây.
Thành phố được nằm sâu dưới một lớp tuyết, bầu trời lấp lánh vô số ngôi sao, sáng rỡ như một đám bụi kim cương ngọc gió bấc sục sạo quanh tòa nhà thuế quan một cách hùng hổ và mỗi lúc một thêm mạnh. Andersen theo một kiểu cách vui vẻ hiếu khách, với một vẻ tò mò đặc trưng của dân bản xứ, đề nghị đưa hai người mới đến về nhà ông ta để dùng bữa tối, nhưng vị lãnh sự vội vàng giải thích rằng họ đã ăn tối trên tàu, cậu con trai của ông vừa mới hồi phục sau một thời gian dài bị đau ốm đang quá mệt, và họ không muốn gì khác hơn là tiếp nhận nơi ở mới của mình.
Tòa lãnh sự, mà Andersen ân cần dẫn họ đến hết sức gần, một ngôi nhà có mặt tiền hẹp nằm trong một nền cao bằng đá xanh, trông thẳng ra khoảng rộng bao phủ tuyết của Reivphatz cách đầu mức bến tàu vào khoảng vài trăm thước. Đó là một ngôi nhà giản dị có kiến trúc hơi buồn cười với mái dốc đứng và nhiều khung cửa sổ trên mái ở đầu hồi nhưng trông vững chắc, gồm khu sinh hoạt ở trên và khu làm việc ở trên tầng trệt ngay phía dưới với lối ra và có cổng vào lệch sang một bên.
Không một ai hiện diện ngoại trừ một người gác rất già đang hút bập bập cái tẩu thuốc lá bằng đá bọt trong tầng hầm bên cạnh một lò sấy lớn bằng sứ, và Andersen nồng nhiệt nài nỉ rằng ông ta phải nhờ bà vợ đến giúp hai cha con vị lãnh sự giải quyết mọi việc trong đêm nay. Rất có thể họ sẽ cần sữa hoặc chất đốt, hoặc mền phụ thêm. Bà Andersen có hai cái mền lông vịt dự trữ thật đẹp và bà sẽ hết sức vui lòng đem đến cho họ dùng. Tuy nhiên, vị lãnh sự cương quyết chối từ. Dù mệt rã rời, chỉ cần liếc nhanh một vòng ông đã thấy rỏ nơi đây tuy không rộng rãi cho lắm nhưng vẫn sạch sẽ, và có thể ở được. Các phòng ngủ đều ngăn nắp, ra trải giường và khăn tắm vừa mới được trải lên, ông cam đoan với người cảng trường rằng hai cha con ông đều đã từng trải từ lâu, cám ơn ông ta về lời đề nghị chuẩn bị một bữa điểm tâm nóng vào buổi sáng hôm sau một bữa điểm tâm chính cống Thụy Điển tiễn ông ta ra cổng và cuối cùng tống khứ được ông ta đi.
Trong lúc vị lãnh sự quay người và bắt đầu trèo lên cầu thang gỗ thông đã được lau chùi cẩn thận, ông cảm thấy rõ sự mệt mỏi của chính mình và ông nhận thức được với một cơn đau nhói mấy tháng vừa qua, đã gây trì hoãn cho ông như thế nào. Ông cảm thấy già hơn, già hơn nhiều đôi vai của ông đã khom xuống hơn hẳn trước kia : mái tóc của ông đã lốm đốm bạc, và nét mặt ông không còn phải chịu đựng chiếc cằm nặng nề dầy thịt, bộc lộ một vẻ thê lương kỳ quái. Đêm nay, tối thiểu sự cố gắng quá sức của cơ thể đã xua đuổi vẻ ngạo mạn ra khỏi con mắt ông; sắc mặt ông tỏ ra nhẫn nhục, thậm chí băn khoăn. Nhưng ông yên lặng vì được ở nơi đây, trong bóng tối của cái bến đậu nhỏ bé “lẻ loi” này – chắc chắn Baileyn người mà ông đã từng phỉ bang, đã giúp đỡ ông phần nào trong việc đề nghị thuyên chuyển ông và đề bạt Alvin Decker vào chỗ ông. Cảm nghĩ chống đối ông ở San Jorge đã vô cùng gay gắt, và Nicholas mặc dù đang bình phục về mặt thể chất đã không thể nào rũ sạch sự uể oải u sầu trong một môi trường mà mỗi ngày đều gợi lại nhiều kỷ niệm thương tâm của dĩ vãng. Có lẽ nơi đây, giữa cảnh tuyết phủ bao la chói lọi của miền Bắc này, hoàn toàn khác hẳn với miền đất khô nẻ chỉ có cây thạch nam mới mọc nổi của vùng Iberia [1] Cuộc sống sẽ tốt hơn đối với cả hai cha con … tối thiểu là với Nicholas … ông không ao ước gì cho bản thân cả.
Phải, ông buồn rầu suy nghĩ – tự cảm thấy mình như điển hình của Homere[2] nản chí và suy yếu, nhưng vẫn dũng cảm chịu đựng những điều bất hạnh mà định mệnh đã đổ lên đầu – Tham vọng của ông từ nay trở đi sẽ phải hy sinh cho hạnh phúc của con. Ông thật sự cảm thấy được an ủi một cách êm ái đứng trước viễn tưởng về số phận vô vị của mình. Công trình vun đắp nên lòng kiêu hãnh của ông, mặc dù đã tan vỡ vẫn chưa hoàn toàn bị hủy hoại và từ những đổ nát cao quý đã mọc lên đóa hoa chông khổ tuyệt diệu này. Kể từ đây về sau ông sẽ vui lòng “bước đi thong thả”… về phía “Bóng xế của diri ăng” – những câu nói đó là của chính ông đã quen thuộc trong những lúc ông trò chuyện, có thể cho là khẩu lệnh của thời gian sắp tới. Thậm chí nghĩ đến các tác phẩm của ông về Maltranère đã bị thiêu hủy ông cũng không còn đau lòng – với một chữ cao thượng thống thiếc, ông đã tự thấy mình như một Carlyle[3] hiện đại, thành quả của cả đời bị tiêu tan bởi một tên đầy tớ xấu xa, nhưng không giống vị sứ giả đó – những tình huống của cuộc đời ông, thảm kịch của bản thân ông đã tác động quá sâu sắc trong lòng ông, không cho phép ông tái tạo lại.
Ở tầng trên cậu bé đã nằm trên giường, mắt nhắm, mền kéo lên tận cằm. Trong con người cậu, sự biến đổi còn rõ rệt hơn nữa. Cậu cao hơn nhiều. Hai chân dài thòng ra gương mặt đã mất những nét trẻ tho, có dáng dấp chững chạc hơn : dường như cậu đã lấy được vẻ kiên quyết mà cha cậu đã đánh mất chăm chú nhìn con với một nỗi lòng thiết tha vị lãnh sự lại thầm thở dài suy nghĩ: con ông đang trưởng thành.
– Con chưa ngủ hay sao, Nicholas?
– Thưa ba, chưa…
Cậu bé vẫn không mở mắt.
– Tốt, vị lãnh sự nói sau một lát – đến đây rồi chúng ta lại bắt đầu. Thành phố này trông không đến nỗi tệ. Ba hy vọng con sẽ thích nó.
– Ít ra không có một khu vườn nào.
– Không, - vị lãnh sự thất vọng bảo, tựa hồ điều đó cả hai đều không cần đến, không có một khu vườn nào hết.
Hai cha con im lặng một hồi lâu. Phải chăng cậu bé không bao giờ cãi lại ông? Phải chăng ông có thể quên được những tuần lễ khủng khiếp đó khi Nicholas không chịu nhìn vào ông mà chỉ nằm bất động, đầu ngoảnh đi, đáp lại những lần làm thân trìu mến nhất của ông bằng những lời lẩm bẩm dầu tất nhiên là không chủ tâm “ Con ghét ba” ?
Ngay cả khi cơn sốc về câu chuyện bất hạnh của José đã giảm bớt một phần nào, Nicholas vẫn nín lặng, và xa cách, phần lớn thời gian cậu đã ở bên cạnh cụ Pedro và gia đình José. Rồi, trước sự xao xuyến âm thầm của Brande, cậu đã bắt đầu nói chuyện về mẹ cậu và hỏi nhiều câu vô cùng đáng ngại, yêu cầu để ảnh mẹ trong phòng ngủ của mình, khẩn khoản tìm biết địa chỉ của bà, rồi hỏi bao giờ cậu sẽ có thể gặp lại mẹ, và gây bối rối cho vị lãnh sự với nhiều yêu cầu còn kiên quyết hơn nữa.
Giờ đây, như được thúc đẩy bởi một ý nghĩ giữ kỹ rất lâu trong lòng, cậu cựa quậy, chống khuỷu tay lên gối và lên tiếng hỏi:
– Ba ơi, con sẽ học bài ở đâu trong thành phố mới này?
– Con à, Brande dịu dàng đáp, - ba sẽ giảng bài cho con như từ trước.
– Không, ba. Con muốn đi học ở trường.
Mặc dù cố tự kim chế, Brande vẫn hơi giật mình.
– Nhưng Nicholas…
– Ở trường đó ba… ở đó con sẽ gặp nhiều đứa bé khác, và tham dự nhiều trò chơi… và có lẽ sẽ kết bạn với bọn chúng.
Hai cha con im lặng một lát.
– Được rồi, ... – vị lãnh sự bảo bằng một giọng dịu ngọt... – mình sẽ cùng xem xét lại việc này, con à.
Sau một lúc im lặng nữa, tựa hồ lấy hết can đảm để nói, Nicholas nhìn chăm chăm vào vị lãnh sự và hít một hơi thở nhanh.
– Thưa ba, con có một chuyện khác. Con đã... con đã nhận được một bức thư của mẹ.
– Sao?
Tiếng nói ngắn ngủi đó dường như vừa bị xé ra khỏi trái tim của Brande, làm cho Nicholas khẽ chớp mắt, nhưng cậu vẫn tiếp tục hơi lưỡng lự:
– Chắc ba đã biết con đã viết thư cho mẹ? Còn hơn thế nữa... – Những lời nói ào ào tuôn ra một cách can đảm – con muốn gặp mẹ... ngay, ba à... càng sớm càng tốt...
Nghẹn họng, trước ngọn đòn bất ngờ này, Brande chỉ biết nhìn sững con. Trước khi ông kịp trấn tĩnh lại, Nicholas ào ào nói tiếp:
– Xét cho cùng, đó vẫn là mẹ của con... Con có quyền được ở với mẹ và mẹ có quyền được ở với con. Có nhiều chiếc tàu thủy chạy từ cảng này sang Mỹ. Những chiếc tàu lớn – mình đã đáp một chiếc tàu khi đến đây hôm nay, và giờ đây con đã lớn lắm rồi, có thể đi qua đó một mình...
Trong một lát nỗi tức giận dữ dội cũ bỗng trào lên trong lòng vị lãnh sự như một con rắn đang duỗi thẳng mình để mổ. Nhưng tất cả lại tiêu tan trong tình trạng mất khả năng tự vệ đáng thương khác hẳn trước này. Ông liếm môi, cuối cùng mới lên tiếng được.
– Con muốn nói rằng mẹ... – Ông do dự, tựa hồ nhượng bộ - mẹ đã yêu cầu con... ở lại với mẹ?
– Thưa ba, phải.
– Trong bao lâu?
Ông phải cố gắng lắm mới tìm được mấy tiếng đó,
Từ phía dưới hàng lông mi của cậu bé chợt thoát ra một vẻ mơ hồ, một hỗn hợp của buồn rầu, hân hoan và bướng bỉnh không khoan nhượng.
– Thưa ba, điều đó còn tùy thuộc vào ba. – cậu trả lời một cách ôn hòa khôn khéo không ngờ, - và cả con, theo ý nghĩ của con. Nhưng chắc chắn con sẽ phải sống một thời gian với mẹ. Như thế rất hợp lý… đối với tất cả mọi người.
Trong một cơn đau buồn Brande ấn bàn tay lên trán, che dấu đôi mắt bằng mấy ngón tay run rẩy, tựa hồ đang cố lẩn tránh một ảo giác thô bạo. Về một ý nghĩ nào đó thì quả thực ông đã nghi ngờ việc trao đổi thư từ giữa Nicholas và mẹ cậu sẽ xảy đến đã tiên đoán sẽ có nguy cơ hai mẹ con đoàn tụ. Nhưng diễn biến bất thần của sự kiện vẫn khiến ông choáng váng. Trong nỗi bàng hoàng, ông thẫn thờ tự hỏi toàn bộ sự việc đã diễn ra như thế nào, cái giờ phút đầu tiên không ai chú ý đến mấy tháng trước đây khi ông đã tuyển dụng anh chàng Tây Ban Nha mộc mạc để làm vườn là như thế nào để rồi từ đó nổ bùng ra hậu quả lạ thường này. Marian… người vợ của ông… hồi sinh từ quá khứ đã chìm sâu trong quên lãng… để san sẻ… không chừng thậm chí tước đoạt mất tình thương yêu của con ông.
Không thể như thế được. Không, không, ông sẽ không bao giờ cho phép điều đó. Thế nhưng, trong cuộc chiến đấu thầm lặng giờ đây sẽ phải diễn ra, ván bài được ăn cả ngã về không này mà trong đó hạnh phúc duy nhất còn lại của ông chính là tiền cược, ông không thể nào tự đoán trước kẻ chiến thắng.
_ Ba đồng ý, phải không ba? – Nicholas vẫn nói tiếp bằng cái giọng từ nãy giờ, thuyết phục nhưng được nhào luyện bởi một vẻ nghiêm trọng mới – Ba hứa sẽ sắp xếp cho con nghe ba?
Hai người lại ngừng một lát. Vị lãnh sự vẫn còn gục đầu xuống, đang cố gắng củng cố ý chí, chợt lẩm bẩm một lời nói mập mờ không thể hiểu rõ là từ chối hay chấp thuận.
Hai cha con im lặng một lúc lâu. Rồi, thẳng người lên, thoát ra khỏi những ảo tưởng của tâm tư. Brande vừa dằn nỗi đau đớn xuống vừa khẩn khoản đặt bàn tay ẩm ướt của mình trên cánh tay của con.
– Nicholas, - Ông nói với vẻ kiêu kỳ vừa trở lại phần nào. Nhiều điều đã xảy đến giữa cha con mình trong mấy tháng vừa qua. Dù vậy, có Chúa chứng giám, lương tâm ba vẫn sáng sủa. Nếu về một phương diện nào đó ba có gì đáng trách, bà rất lấy làm tiếc. Nhưng con đừng để chuyện không may đơn thuần… hoặc những sai lầm không có chủ tâm… phá hủy tình cảm của mình vì một thứ tình cảm khác. Mình vẫn còn có tương lai. Nếu mình cố gắng ba tin chắc một ngày kia mình có thể thu hồi lại… nhưng mật thiết của con tim và trí óc… mà ba quý hơn mọi thức khác…
Một lần nữa, ở cuối lời độc thoại quá tồi đó sự im lặng lại kéo dài trong lúc những tia sáng của bình minh lóe lên và lập lòe, như một đàn linh hồn băng qua bầu trời bí ẩn, nổi bật trên phông cửa sổ không có màn che. Vị lãnh sự nặng nhọc thở dài, đứng lên theo một kiểu cách miễn cưỡng và đang đi ra cửa với vẻ nhẫn nhục thì ông chợt có một ý nghĩ nào đó, liền dừng ngay lại, khao khát quay về phía chiếc giường mặc dù không có chút hy vọng.
– Con có muốn…, ông vừa khẽ nói vừa tiếp tục quan sát con bằng ánh mắt liếc xéo đầy lo ngại – Con có muốn ba đọc sách cho con tối nay không?
Cậu bé ngước mắt lên. Cậu sắp sửa từ chối một cách phũ phàng, những lời nói khó chịu đã chực sẵn trên môi. Nhưng một cái gì đó chiến thắng cậu. Cậu quay phắt đầu đi.
– Con muốn. Cậu lẩm bẩm. Tùy ý ba.
Một nụ cười hài lòng, thống thiết một cách kỳ lạ, đến nỗi gần như xuẩn ngốc, nở rộng trên gương mặt quẩn trí và hốc hác của vị lãnh sự. Với vẻ hối hả thái quá, ông vụng về đi qua phòng bên kia, lục soát trong va li, quay lại cuốn sách bìa bọc da màu đỏ quen thuộc, ông hắng giọng bảo:
– Mình hãy nghiên cứu chương viết về những đặc điểm của một trong những loài chim lớn do Audubon[4] phát hiện: đây đúng là đề tài thú vị nhất… và tăng thêm kiến thức. Ồ, đã lâu quá rồi mình không được sống với nhau những giờ phút như thế này!
Ngồi trên giường, ông điều chỉnh lại kính, và với một giọng hân hoan bắt đầu đọc:
Gà tây, một loài chim lớn nuôi trong nhà, với một bộ lông rực rỡ không thua kém con công, trong giai đoạn đầu sinh sống ở lục địa châu Mỹ nhưng về sau đã di trú đến nhiều miền đất khác. Về mặt thể chất đó là một loài chim đặc biệt – quả quyết và tự mãn – Nhưng vì tính kiêu căng quá mức này, có khả năng bị những hư hỏng nghiêm trọng…
Đột nhiên ông ngừng lại.
Nicholas quay người sang một bên trên mặt gối, đang chăm chú nhìn với đôi mắt thiết tha vào bức ảnh người đàn bà trên chiếc bàn con cạnh giường. – Người đàn bà xa lạ nhưng có bộ mặt hiền dịu này chính là mẹ cậu, người chẳng bao lâu sẽ ôm đầu cậu vào giữa hai bàn tay và ghì chặt vào ngực bà – không hề chú ý một chút nào. Cậu không nghe… không hề nghe ông nói gì hết.
HẾT
Palacio Real: Cung điện Hoàng gia (tiếng Tây Ban Nha)
❀ ❀ ❀
[1] Ilberia : tên gọi cũ của nước Tây Ban Nha
[2] Homere : Đại thi hào Hy Lạp vào thế kỷ thứ IX trước CN
[3] Thomas Carlyle: nhà sử học và phê bình người Anh (1795-1881)
[4] Jonathan James Audubon: nhà nghiên cứu chim người Mỹ ( 1785 – 1851 )