Sau cuộc hòa giải êm ái này, tuy biết rằng Nicholas hết sức gắng bó với ông hơn bao giờ hết, vị lãnh sự vẫn không sao quên được vai trò José đã tham dự vào trong nỗi bất hòa đau đớn dù là ngắn ngủi đó. Từ trước tới giờ ông đã có thói quen lạnh nhạt đáp lại lời chào kính cẩn của người làm vườn lúc ông rời khỏi biệt thự mỗi buổi sáng. Tuy nhiên giờ đây ông đi qua với vẻ dửng dưng cố ý, mặt ngoảnh đi, mắt chăm chú trông về phía trước, tựa hồ tránh thấy anh ta. Thế nhưng trong giây lát ngắn ngủi đó, ông vẫn sắc bén có ý thức về sự trẻ trung, về hình dáng trẻ dưới lớp quần áo mỏng bằng bông vải, cái khoát tay mạnh mẽ trong lúc anh ta vung lưỡi hái dài, nụ cười chân thật một cách nồng hậu, của anh ta. Và một làn sóng phẫn uất chạy dọc các huyết quản của ông, một nỗi tức giận cứ bám lấy đầu óc ông mãi sau khi ông đã đến sở.
Ông cố gắng xua đuổi mối xúc cảm này. Thật là lố bịch khi ông tự cho phép mình mất bình tĩnh chỉ vì một người giúp việc, một gã thanh niên đô thị tầm thường, và hoàn toàn không xứng đáng cho ông phải có bất kỳ một hành động nào trong một vấn đề mà xét cho cùng hình như kém quan trọng hơn khi hồi tưởng lại. Không còn hồ nghi gì nữa, anh chàng kia đã khoe khoang khoác lác với Nicholas về năng lực khác thường của anh ta đối với trò pelota và đã thuyết phục Nicholas đến xem anh ta thi đấu. Chỉ có thế. Tuy vậy, dù lý luận theo kiểu đó, trong lòng vị lãnh sự vẫn còn cái ý nghĩ ghen tỵ kỳ lạ, và một nỗi căm ghét, tựa hồ tự nó nuôi dưỡng, dường như lớn mạnh lên từng ngày một. Trong một thời gian José không nhận thấy gì, nhưng trong những buổi sáng thấy người chủ chỉ đi qua với một cái cau mày trơ trơ, anh ta bắt đầu e ngại rằng mình đang làm cho ông ta không vừa ý và tâm hồn anh ta tràn đầy lo sợ. Việc làm rất khan hiếm ở San Jorge, những chỗ tốt lại càng khó tìm ra, mà anh ta còn có bà mẹ tên là Maria để nghĩ đến, để không nói gì về mấy cô em gái, và ông nội là cụ Pedro đã không gắng làm bất cứ việc gì suốt bảy năm vừa qua. Hoảng hốt anh ta gia tăng những cố gắng vốn tích cực đến sớm hơn giờ qui định nửa tiếng đồng hồ, và chỉ ra về khi trời bắt đầu nhá nhem tối.
Một buổi sáng trong lúc anh ta làm việc trong một mảnh đất chưa được dọn đẹp ở bên kia bức tường đá, anh ta chợt trông thấy ba đóa hoa fressia đầu mùa trông giống hệt ba ngôi sao màu trắng còn đẫm sương ở sâu trong một bụi sim. Mắt anh ta sáng ngời lên vì thích thú, anh ta đứng ngắm một hồi lâu, rồi gật đầu với mình, chui vào bụi cây và thận trọng ngắt mấy đóa hoa. Trong lều đựng dụng cụ, vừa huýt gió anh ta vừa buộc chúng lại một cách trang nhã với một cành dương xỉ nhỏ bằng sợi dứa. Sau khi sửa lại mái tóc trước mảnh gương vỡ, anh ta hấp tấp tới cổng trước. Anh ta chờ đợi chưa bao lâu thì ông chủ anh ta xuất hiện trên hiên nhà.
– Thưa senor…
José vừa lên tiếng đã dừng lại, không sao thốt ra những lời tốt đẹp mà anh ta đã chuẩn bị. Anh ta chỉ mỉm cười, rụt rè đưa bó hoa ra.
Cả hai cùng khựng lại. Vị lãnh sự giống như một người buộc lòng chống lại ý chí của mình, từ từ quay lại và lần đầu tiên kể từ trận thi đấu pelota, ông nhìn thẳng vào người thanh niên. Hành động này dường như phá vỡ một sự hạn chế cổ xưa và vững chắc, tạo ra trong đầu óc ông một ý thức kỳ lạ về sự giải phóng, về quyền làm chủ. Cảm giác căng thẳng của ông, ông đã bị kiềm hãm quá lâu, đột nhiên tan biến đi và thay vào đó, ông cảm thấy mình có khả năng trầm tĩnh một cách gần như siêu phàm.
– Cái gì thế này? – Ông hỏi chiếu lệ.
– Cháu xin gửi senor… Những hoa fressia đầu mùa xuân.
– Anh đã hái… những bông hoa này.
– Nhưng… vâng thưa senor.
– Anh không được quyền làm một việc như thế. Những bông hoa này là của tôi. Tôi không muốn chúng bị hái. Tôi muốn chúng vẫn ở trong vườn, nơi sở hữu chính thức của chúng.
– Nhưng, thưa senor… José ấp úng.
– Thế là đủ rồi đấy. Anh là một chàng trai ngu ngốc bướng bỉnh. Anh đã vượt quá địa vị của anh. Từ nay về sau đừng có tái diễn. Anh hiểu rồi chứ?
Dưới tia nhìn chằm chằm lạnh lùng điềm tĩnh của vị lãnh sự, đôi mắt bị xúc phạm của José cụp xuống, hình dáng uyển chuyển trẻ trung của anh ta có vẻ ủ rũ, mất hẳn nét rắn rỏi và tư thế chững chạc. Anh ta thất vọng nhìn bó hoa nhỏ ngát hương thơm mà những cuống đã ấm lên trong hai bàn tay toát mồ hôi, và như thể không biết làm gì với tặng vật bị từ chối này, anh bối rồi cài lên tai. Trong lúc anh ta vụng về bỏ đi tới con đường mòn có sim mọc khắp hai bên, anh ta trông thấy Garcia đang đứng chờ bên cạnh chiếc xe hơi, với vẻ nhăn nhó khác thường , vừa mỉa mai vừa ngây dại khiến bộ mặt thụ động có một nét độc ác, chứng kiến cảnh tượng anh ta bị bẽ mặt. Anh ta cắn môi và quay đầu đi, dường như để che giấu đôi gò má nóng bừng.
Vị lãnh sự đi xe về thành phố, ngồi thẳng người trên ghế sau của chiếc ô tô mui trần với kính che gió hạ thấp, ngọn gió nhẹ thổi một cách sảng khoái quanh người ông. Ông cảm thấy thanh thản và mãn nguyện, giống như một người vừa liệng bỏ một bộ quần áo bực bội và giờ đây cảm thấy mình đã phục hồi lại sự an nhàn và trạng thái bình thường. Tâm trạng ông dễ chịu đến nỗi khi ông bước vào cơ quan và thấy Alvin Decker đã gò người trên một chồng hóa đơn vận chuyển trong phòng ở phía ngoài, ông đã dừng bước và thốt ra với một chút ân hận.
– Chào anh Decker. À này, bây giờ mời hai anh chị đến nhà tôi ở Casa Breza được rồi đấy.
Trong lúc viên phụ tá của ông đứng bật dậy, với một nỗi kinh ngạc thích thú, ông hào phóng nói tiếp:
– Anh đến vào chủ nhật được chứ? Anh hãy đến trong buổi chiều và chúng tôi sẽ mời anh chị dùng bữa trà.
– Ồ, xin cám ơn ngài, - Alvin kêu lên với vẻ hết sức vui lòng. – Xin cám ơn ngài rất nhiều. Tôi biết rằng vợ tôi…
– Tốt lắm, - vị lãnh sự từ tốn ngắt lời. – Chúng tôi sẽ chờ hai anh chị lúc năm giờ. Xin đừng đến trễ.
Ông vào văn phòng riêng, nơi đây một tờ Echo de Paris mới, giấy gói đã được cẩn thận bóc ra, nằm trên bàn viết của ông. Nhưng tâm trạng hiện thời của ông quá sáng tạo không thể lãng phí vào việc xem báo. Sau khi xem xét qua mọi việc ông thấy trong công văn thư từ không có gì quan trọng. Ông ngồi xuống trên chiếc ghế xoay và, tự cho phép mình thoát ly khỏi thủ tục câu nệ mà rất ít khi ông buông lỏng, ông rút từ ngăn kéo tận cùng cái gói giấy mà ông đã mang từ nhà đến ngày hôm trước – bản thảo của ông về Malbrancha.
Đối với tất cả mọi người khác trên thế giới thì Nicholas Malbranche có lẽ chỉ là một nhân vật lờ mờ không được ai biết tới nhưng đối với Harrington Brande thì người Pháp bị lãng quên này là người trong thế kỷ 18 đã thử làm theo những lời giáo huấn của Descartes liên quan đến thần học, đã trở nên một mẫu mực mà trong triết lý sống làm ra vẻ mô phạm ông đã tìm ra một mô hình cho tư cách đạo đức của chính ông, âm vang lớn của chính linh hồn ông. Con người mang tên Malbranche đó đã hoàn toàn không được ai chú ý mà chỉ có tác dụng thổi bùng nhiệt tâm của ông, tăng thêm niềm kiêu hãnh của ông, cho nên ông sẽ được hoan nghênh như là người phát hiện đã đưa mẫu mực này từ trong bóng tối ra ngoài ánh sáng chói lọi của ban ngày.
Suốt mười năm qua, với tham vọng càng ngày càng tăng lên, ông đã nỗ lực một cách phi thường trong việc sưu tập tài liệu về cuộc đời nhân vật của ông. Nhiều lần ông đã gửi nửa đầu bản thảo của ông cho những nhà xuất bản lớn. Không một nơi nào phúc đáp chứng tỏ họ không quan tâm đến một chút nào, sự thể đó chọc tức ông một cách cay đắng, bởi vì ông không sao dửng dưng trước thời gian đang vùn vụt trôi qua về sự thành công của nhiều người khác, tuy nhiên điều này vẫn không khiến cho vị lãnh sự kinh ngạc cũng như sờn lòng. Ông nghĩ tác phẩm quá uyên bác khó lòng phổ biến trong quần chúng và, nếu cần, ông sẽ tự bỏ tiền ra để xuất bản, tin tưởng rằng khi nó đến tay các nhà thông thái ở Châu Âu thì sẽ được suy tôn ngay tức khắc. Như một thái độ thách thức đầy kiêu hãnh ông đã đặt tên cậu con trai là Francis Nicholas bất chấp mọi lý lẽ phản đối của vợ ông, mà sự thiếu nhiệt tình đối với công trình của ông, than ôi, chỉ là một trong những điều phản bội đáng tiếc của nàng. Quả thật không ngờ ông có thể tha thứ cho nàng về các tình tiết trong cơn xúc động đầu tiên của tình yêu, sau khi cho nàng đọc một vài chương của cuốn sách – ông đã tin tưởng thúc ép nàng cho biết ý kiến.
– Em sợ rằng em không hiểu thấu đáo về chuyện này, - nàng đã thoái thác trả lời.
– Lẽ tất nhiên anh không trông mong em hiểu biết nhiều về triết học. Nhưng văn phong… nội dung… chuyển biến của cuốn sách?
– Không, thật tình, Harrington Brande à… Em không phải là người am hiểu…
– Ồ, em cứ thử xem sao, - ông vừa cười to một cách bông đùa vừa vuốt ve bàn tay nàng. – Em cứ việc phê phán tùy thích. Em hãy nói sự thực.
Tiếp theo đó là một sự im lặng gay go. Rồi bí quá nàng đã mỉm một nụ cười mờ ảo, tựa hồ đang cầu xin sự tha thứ của ông.
– Harrington, nếu quả thật anh cứ muốn biết ý em thì em xin nói: Cuốn sách của anh đã làm cho em buồn chán một cách khủng khiếp.
À, thế đấy, Malbranche cũng đã có chốn Calvary[1] của mình. Và giờ đây mọi việc đã qua, tập bản thảo sắp sửa hoàn thành và tựa hồ đoán trước sự chứng minh đắc thắng của mình, vị lãnh sự kiên quyết cầm bút lên. Nhưng trong lúc làm việc đó, ông bất thần dừng lại, và ngẩng đầu lên. Dường như trông thấy lại vẻ bẽ bàng trên cặp lông mày của José, đôi mắt ông chợt trở nên lạnh nhạt, sáng lên một cách kỳ lạ, trên bộ mặt tái xám. Rồi một cách từ từ trong lúc bắt đầu viết, ông mỉm cười.
❀ ❀ ❀
[1] Calvary: Trong Thánh kinh, chỗ Chúc Giêsu đã bị đóng đinh vào thập tự giá, trên một ngọn đồi nhỏ ở phía tây của Jerusalem.